Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang.Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang.Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang.Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả phân tích nêu trong luận án là trung thực và chưa từngđược công bố trong bất kỳ công trình nào Những số liệu kế thừa đãđược chỉ nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Phạm Quốc Chiến
LỜI CẢM ƠN
PHẠM QUỐC CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN HÓA
RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)
KINH DOANH GỖ NHỎ THÀNH RỪNG KINH DOANH GỖ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN HÓA
RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)
KINH DOANH GỖ NHỎ THÀNH RỪNG KINH DOANH GỖ
Trang 2Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Khoa học, Đào tạo
và Hợp tác quốc tế; Viện Nghiên cứu Lâm sinh thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam; Lãnh đạo Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp; Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp đã quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đào tạo và nghiên cứu, hoàn thiện luận án!
Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Đặng Thịnh Triều và TS Đặng Văn Thuyết Tác giả cũng nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình và hiệu quả của Ths Lò Quang Thành, Ths Dương Quang Trung; Ths Trần Anh Hải thuộc Viện nghiên cứu lâm sinh - Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất!
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ths Hoàng Văn Chúc – Chủ tịch hội đồng thanh viên; anh Hoàng Văn Khang, cán bộ kỹ thuật cùng toàn thể cán bộ, nhân viên công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã cho phép và hỗ trợ tôi khi làm thí nghiệm và thu thập số liệu tại hiện trường!
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã hỗ trợ động viên để tác giả hoàn thành luận án này!
Với tất cả nỗ lực của bản thân, tuy nhiên, do trình độ và thời gian hạn chế nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và đồng nghiệp.
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Phạm Quốc Chiến
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Trang 4IRR (%) Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ
KFW Ngân hàng tái thiết Đức
LAI Chỉ số diện tích tán lá
M (m 3 ) Trữ lượng gỗ
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
NPV Giá trị hiện tại thuần
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Ngành công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta đang phát triển với tốc
độ rất nhanh và đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu Năm
2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ Việt Nam chỉ đạt trên 3 tỷ
Đô la và phải nhập khẩu gần 80% nguyên liệu từ nước ngoài Tuy nhiên,đến năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản của Việt Nam đã đạt9,3 tỷ Đô la và gỗ trong nước đã đáp ứng được 75% nguyên liệu cho sảnxuất (Tổng cục Lâm nghiệp, 2018) [27] Theo Bộ NN&PTNT đến năm
2025 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản của nước ta sẽ phấn đấu đạt
25 tỷ USD Để đạt được mục tiêu trên thì việc phát triển vùng nguyênliệu cung cấp gỗ xẻ cho ngành chế biến gỗ của nước ta là rất quan trọng.Định hướng của Bộ NN&PTNT đến năm 2020 sẽ xây dựng vùng trồngrừng gỗ lớn tập trung với diện tích khoảng 1,2 triệu ha để cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp chế biến; Nâng cao chất lượng rừng để đạtsản lượng gỗ thương phẩm đạt 80% trữ lượng, trong đó 40% gỗ lớn và60% gỗ nhỏ (Bộ NN&PTNT, 2013) [4] Giai đoạn 2014 – 2020 tại 19tỉnh thuộc 3 vùng: Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam trung
Bộ dự kiến chuyển hóa 110.000 ha rừng trồng hiện có sang kinh doanh
gỗ lớn (gỗ xẻ); trồng mới 100.000 ha và trồng lại 165.000 ha với kinh
Trang 7doanh gỗ lớn (Bộ NN&PTNT, 2014) [5] Đối với Bắc Giang, địnhhướng đến năm 2020 sẽ trồng 29.000 ha rừng tập trung, áp dụng các tiến
bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nângcao năng xuất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; đến năm 2020diện tích kinh doanh gỗ lớn khoảng 7.200 ha, chiếm 10% diện tích rừngtrồng sản xuất (UBND tỉnh Bắc Giang (2014) [33]
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (2019) [30], đến năm 2018, diện tíchrừng trồng sản xuất các loài Keo của nước ta đạt 1.515.898 ha, chiếm53,6% tổng diện tích rừng trồng sản xuất toàn quốc, trong đó, diện tíchtrồng Keo tai tượng thuần loài chiếm khoảng 50% Đa số rừng đượctrồng với mật độ dày (>1600 cây/ha) để cung cấp gỗ nhỏ cho nguyênliệu giấy hoặc làm dăm gỗ Riêng tỉnh Bắc Giang những năm gần đây,trồng rừng sản xuất phát triển mạnh, bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng
từ 6000 - 7000 ha rừng, tập trung ở 4 huyện miền núi Sơn Động, LụcNgạn, Lục Nam và Yên Thế Cũng như hiện trạng chung toàn quốc hầuhết diện tích rừng này được trồng và khai thác với chu kỳ ngắn, 5-7 năm,mật độ dày (> 1600 cây/ha) để cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy,sản xuất gỗ dăm kết hợp lấy một phần gỗ lớn làm gỗ xẻ hoặc gỗ bóc vánmỏng
Keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thường được khai thác sau khitrồng 4-6 năm để cung cấp nguyên liệu sản xuất giấy và gỗ ép nên giá trịkinh tế thấp, với mức giá nguyên liệu giấy chỉ được khoảng từ 600-800triệu đồng/m3, trong khi với nguyên liệu gỗ xẻ, người dân có thể bán vớigiá cao gấp đôi (Bùi Chính Nghĩa, 2018) [20] Từ những hạn chế về hiệuquả kinh tế trong việc trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ, Bộ Nông nghiệp và
Trang 8Phát triển nông thôn đã đề ra mục tiêu thiết lập 201.220 ha rừng trồng gỗlớn trong đó chuyển hóa 28.658 ha từ rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng
gỗ lớn [20]
Hiện nay, việc tỉa thưa để chuyển hóa rừng trồng cung cấp gỗ nhỏthành rừng gỗ lớn đã được người trồng rừng quan tâm Một số công trìnhnghiên cứu về tỉa thưa để chuyển hoá rừng gỗ lớn cũng đã được thựchiện nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp nhất để tối
ưu hoá hiệu quả kinh doanh (Vũ Đức Bình và cộng sự, 2019; Trần LâmĐồng, 2018; Vu Dinh Huong, 2016) ([2, 13, 92]) Tuy nhiên các côngtrình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều, đặc biệt việc nghiên cứu sâu
về độ tàn che, chỉ số diện tích tán lá và quang hợp mới chỉ được nghiên cứucho Keo lai (Vu Dinh Huong, 2016) [92], còn đối với Keo tai tượng, hầu nhưchưa được thực hiện ở Việt Nam
Keo tai tượng là một trong 3 loài gỗ lớn thuộc chi Keo (Acacia)được trồng rộng rãi ở Việt Nam nhưng thường được trồng với mật độcao, chu kỳ ngắn để kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy hoặc dăm Nhữngđối tượng rừng này khá thích hợp cho tỉa thưa để chuyển hóa thành rừngcung cấp gỗ lớn Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu thêm về cơ sởkhoa học cũng như hiệu quả kinh tế của việc chuyển hóa trước khi ápdụng rộng rãi
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang” đã được lựa chọn nhằm xác định những cơ sở khoa học cho việc
chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn,
Trang 9góp phần phát triển kinh tế cho người dân trồng rừng ở khu vực nghiêncứu.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu bao gồm :
Về lý luận
Xác định được một số cơ sở khoa học của việc chuyển hóa rừngtrồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại YênThế, Bắc Giang
4 Đối tượng, địa điểm và giới hạn nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Keo tai tượng tại Yên Thế, BắcGiang
Trang 104.2 Giới hạn nghiên cứu
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng cây,chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế của rừng Keo tai tượng 3; 4 và 5 tuổisau khi tỉa thưa 5 năm, trong đó:
- Giới hạn cụ thể về nội dung nghiên cứu:
+ Nội dung 1: Đánh giá hiện trạng chuyển hóa rừng trồng kinh
doanh gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang Nội dung này luận ánchỉ tập trung vào việc đánh giá diện tích rừng trồng Keo tai tượng, tìnhhình chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn (thời gian, quy
mô, địa điểm, sinh trưởng cây); thuận lợi, khó khăn trong việc chuyểnhóa rừng trồng
+ Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng
rừng trồng Keo tai tượng (bao gồm đường kính ngang ngực, tiết diệnngang; đường kính tán lá, chiều cao, trữ lượng; chỉ số diện tích lá; độ tànche; quang hợp)
+ Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến chất lượng gỗ Keo
tai tượng (bao gồm số lượng mắt gỗ; tỷ lệ gỗ lõi, gỗ dác; tỷ lệ lợi dụng
gỗ xẻ)
+ Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng Keo tai tượng
sau tỉa thưa, chuyển hóa theo hai kịch bản là hiệu quả kinh tế khi bán
gỗ tại Bãi 1 và hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế
- Giới hạn cụ thể về địa điểm nghiên cứu:
+ Nội dung 1: sẽ được đánh giá trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giangbao gồ các huyện Sơn Động; Lục Ngạn; Lục Nam và Yên Thế
+ Nội dung 2,3,4: Sẽ được thực hiện trên địa bàn huyện Yên Thế
Trang 11- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Luận án sẽ được thực hiệntrong 5 năm từ 2013 – 2018.
5 Những đóng góp của luận án
- Đã xác định được ảnh hưởng của tỉa thưa đến một số chỉ tiêusinh trưởng, năng suất và chất lượng gỗ xẻ của rừng trồng Keo taitượng tại Yên Thế, Bắc Giang
- Đã xác định được hiệu quả kinh tế của việc chuyển hóa rừngtrồng Keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng Keo tai tượng kinhdoanh gỗ lớn tại Bắc Giang
6 Cấu trúc luận án
Luận án gồm 117 trang (không kể phụ lục), có 30 bảng biểu, 02hình vẽ sơ đồ, 14 biểu đồ Tham khảo 99 tài liệu trong đó 33 tài liệutiếng Việt, 65 tài liệu tiếng nước ngoài, có liên quan đến chủ đề nghiêncứu và 01 trang web Luận án được cấu trúc thành 3 chương và hai phần
(phần mở đầu và kết luận) như sau:
- Phần Mở đầu: 5 trang
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 20 trang
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 16 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 59 trang
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm có liên quan
Khái niệm gỗ lớn và rừng trồng gỗ lớn:
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:
Gỗ lớn: là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15 cm
và chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2 m
Khái niệm rừng trồng gỗ lớn:
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:
Rừng trồng gỗ lớn là rừng trồng với mục đích cung cấp gỗ lớn với
tỷ lệ gỗ lớn đạt ≥ 70%
Theo Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16 tháng 11 năm
2018 về quy định các biện pháp lâm sinh thì Rừng trồng gỗ lớn là rừng
có tổi thiểu 70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kính tại1,3m từ 20 cm trở lên đối với cây sinh trưởng nhanh
Khái niệm chuyển hóa rừng:
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:
Chuyển hóa rừng là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
để thay đổi mục đích kinh doanh, quản lý của rừng
Đối với chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinhdoanh gỗ lớn thì nguyên lý chuyển hóa được xác định như sau:
- Chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn dựa trên nguyên lýtạo điều kiện và môi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởngnhanh hơn, đặc biệt là sinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêuchuẩn gỗ lớn
Trang 13- Về nguyên lý, có ba cách để gia tăng sinh trưởng đường kínhcây: (i) Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii) Điều chỉnh không gian sinhtrưởng hợp lý để cây phát triển về đường kính; và (iii) Cải thiện điềukiện dinh dưỡng cho cây thông qua bón phân.
- Về kéo dài thời gian sinh trưởng: chu kỳ kinh doanh ba loài câykeo sẽ được kéo dài đến >10 tuổi để sản xuất gỗ lớn thay vì 6-8 nămtrong kế hoạch sản xuất gỗ nhỏ
1.2 Trên thế giới
1.2.1 Tình hình phát triển rừng trồng Keo tai tượng
Vùng sinh thái của Keo tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùakhô ngắn (4 - 6 tháng), lượng mưa trung bình từ 1.446 mm đến 2.970
mm Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13 - 210C, nhiệt độ trungbình tháng cao nhất là 25 -320C (Awang Kamis and David Taylor, 1993)[40] Keo tai tượng là cây mọc nhanh, xanh quanh năm, trong điều kiệnthuận lợi Keo tai tượng sinh trưởng quanh năm, tuy nhiên ở Thái Lantrong điều kiện nhiệt độ thấp, mưa ít, cây sinh trưởng chậm hoặc ngừngsinh trưởng (Atippanumpai L, 1989) [39] Keo tai tượng có chu kỳ sốngtương đối ngắn, khoảng từ 30 - 50 năm, cây có thể sinh trưởng ở nhữngnơi có biên độ pH từ 4,5 đến 6,5 Keo tai tượng đôi khi có nhiều thân,nguyên nhân chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên có thể do độ phì đất,cạnh tranh về điều kiện sống (Turvey ND, 1995) [91]
Diện tích rừng trồng Keo tai tượng ngày càng tăng lên trong nhữngnăm gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam Indonesia lànhững nước trồng Keo tai tượng nhiều nhất thế giới, với diện tíchkhoảng 1,2 triệu ha (Nirsatmanto và cộng sự, 2004) [81] Loài keo này
Trang 14đã thể hiện khả năng thích ứng cao với các lập địa thoái hóa, sinh trưởngnhanh và các tính chất gỗ đáp ứng được yêu cầu cho công nghiệp chếbiến gỗ [81]
Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm
1960, tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha được trồng ở phía NamTrung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và VânNam Tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20.000 ha/năm Các nghiêncứu đã được tiến hành cho đối tượng này khá đầy đủ như khả năng cốđịnh đạm (cây hấp thụ 153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồng rừng thâmcanh đã được chấp nhận thay cho phương pháp quảng canh vốn có (dẫntheo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21]
Ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừngtrồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15-16 % Sinhtrưởng chiều cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/nămtrong 2,5 năm đầu (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21]
Ở Indonesia, việc trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại
đã được triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và
gỗ xẻ (Werren, M., 1991) [94]
Đến hết năm 2013, cây Keo tai tượng được gây trồng và phát triểnnhiều ở Indonesia (300.000 - 500.000 ha), Malaysia (250.000ha), ViệtNam (600.000ha) (Lydie-Stella Koutika và David M Richardson, 2019)[73] Ngoài ra Keo tai tượng còn được trồng tại các nước Bangladesh,
Ấn Độ, Lào, Sri Lanka, Congo, Bờ biển ngà, Kenya, Zimbabwe, Brazin,Costa Rica, Cuba, Mỹ và một số nơi khác trên thế giới
Trang 15(http://www.cabicompendium.org, 2006)[99].
1.2.2 Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng
Tỉa thưa là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có ảnhhưởng rõ rệt đến cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, sản lượng, chất lượng
và cơ cấu sản phẩm rừng trồng Trên thế giới đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về biện pháp kỹ thuật chặt nuôi dưỡng rừng và tỉa rừng trồng,
đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy sinh trưởng chonhững cây có phẩm chất tốt nhất mà không gây ảnh hưởng lớn đến cấutrúc rừng (Wenger K.F.1984; Rollinson T.J.D,1988) [93, 85]; tỉa thưanhằm thay đổi không gian sinh dưỡng của cây giúp sinh trưởng củanhững cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst và cộng sự, 2002;Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomäki, 2004a; Beadle
C, 2006; Forrester và cộng sự, 2013) [69, 77, 89, 59, 41, 54] Mặt khác,tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khácnhau sau khi tỉa thưa (Medhurst J.L và cộng sự, 2002; Vu Dinh Huong vàcộng sự, 2016) [77, 92]
Chặt nuôi dưỡng rừng
Theo Wenger K.F (1984) [93], “chặt nuôi dưỡng là biện phápchính để nuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằmtạo điều kiện cho những cây có phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng,nuôi dưỡng hình thân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chấtlượng gỗ và nâng cao chức năng khác của rừng” Chặt nuôi dưỡng phảiđạt được các mục đích: (i) Mật độ lâm phần giảm xuống cải thiện điềukiện sinh trưởng của cây rừng; (ii) Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rútngắn thời gian; (iii) Loại bỏ được chất lượng gỗ xấu, nâng cao chất
Trang 16lượng lâm phần; (iv) Lợi dụng sớm nâng cao được tổng lượng gỗ; (v)Cải thiện vệ sinh lâm phần tăng được sức đề kháng của lâm phần; và (vi)Xây dựng kết cấu lâm phần thích hợp, phát huy hiệu năng đa dạng củarừng (Shen Guofang, 2001) [88].
Chặt nuôi dưỡng rừng thường chia làm 2 loại: (1) Chặt thấuquang: chủ yếu là tỉa thưa loại bỏ cây nơi có mật độ dày, để lại cây tốt,loại cây xấu; chặt thấu quang bao gồm cả nhiệm vụ chặt thấu quang vàchặt loại trừ; (2) Chặt sinh trưởng: Sau khi chặt thấu quang, cây rừngbước vào giai đoạn rừng mọc nhanh cần tiến hành chặt sinh trưởng đểcây rừng mau chóng đạt thành thục
Ở Mỹ chặt nuôi dưỡng gồm 5 loại: (1) Chặt loại trừ, chặt nhữngcây chèn ép, không dùng, thứ yếu; (2) Chặt tự do, chặt bỏ những cây gỗtầng trên; (3) Chặt tỉa thưa, giống như chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng;(4) Chặt chỉnh lý, chặt các cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng kém;(5) Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại Tuy nhiên, áp dụng chặt nuôi dưỡngcho chặt chuyển hoá rừng cần phải quan tâm đến điều kiện thực tế củalâm phần nghĩa là chặt chuyển hoá là chặt nuôi dưỡng nhưng cần phảibài chặt cả những cây có đủ không gian dinh dưỡng nhưng không có khảnăng sinh trưởng thành cây gỗ lớn đồng thời chặt chọn ở những khoảngphân bố cụm [dẫn theo Phùng Ngọc Lan và Hoàng Kim Ngũ, 2005)[17]
Trang 17luật phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của cây rừng trong lâm phần Vì vậy,thời điểm và cường độ tỉa thưa thích hợp tùy thuộc vào mục đích kinhdoanh rừng, đặc điểm sinh học từng loài cây, sức sinh trưởng của cây vàkhoảng cách trồng trong các lâm phần cụ thể Tỉa thưa thường được tiếnhành ở rừng sau khép tán với mục tiêu nhằm điều chỉnh mật độ sao cholâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối ưu để thúc đẩy sinh trường đườngkính, chiều cao để có thể thu được năng suất lâm phần cao nhất(Rollinson T.J.D, 1988) [85].
Nicholas I D (1988) [79] dựa vào chỉ tiêu đường kính tán làmcăn cứ để xác định mật độ cuối cùng để lại sau các lần tỉa thưa, lợi dụngtối đa sự tăng trưởng về đường kính của cây trồng trong chu kỳ kinhdoanh 40 năm tại Newzealand [82] Theo đó, trên lâm phần rừng trồngvới mật độ ban đầu 1.500 cây/ha, quá trình tỉa thưa được tiến hành theocác giai đoạn: tỉa thưa lần 1 ở tuổi 3 (mật độ để lại 1.000 cây/ha), tỉathưa lần 2 ở tuổi 10 (150 cây/ha) và tỉa thưa lần cuối ở tuổi 13 với mật
1.2.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến các sinh trưởng cây
Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, tỉa thưa giúp sinh trưởng củanhững cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst và cộng s, 2002;
Trang 18Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomaki, 2004) [69,
77, 89, 57]; những lâm phần được tỉa thưa đường kính bình quân củalâm phần thường lớn hơn so với những lâm phần không tỉa thưa [57 93];tỉa thưa giúp cho tán lá có khả năng hấp thụ được nhiều Nitơ hơn so vớikhông tỉa thưa, góp phần vào việc tích lũy dinh dưỡng gia tăng chiều caocủa cây Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần cónhững phản ứng khác nhau sau khi tỉa thưa; ở một số trường hợp, tỉathưa làm giảm tổng tiết diện ngang của lâm phần trong một giai đoạnnhất định, đặc biệt là ngay sau khi tỉa (Lydie-Stella Koutika, David M.Richardson, 2019) [73]; thậm chí tỉa thưa làm giảm tốc độ tăng trưởngchiều cao cây rừng (Beadle và cộng sự, 2004) [42]
Beadle C và cộng sự (2004) [42] đã áp dụng cường độ tỉa thưa
khác nhau (0%, 33%, 66% và 100%) đối với cây phù trợ (Pinus radiata) tới sinh trưởng cây mục đích (Acacia melanoxylon) tại Australia, sau 2
năm cho thấy, việc tỉa thưa cây phù trợ đã ảnh hưởng tích cực tới tăngtrưởng đường kính, tăng trưởng đạt cao nhất tại công thức tỉa thưa 100%(23 mm/năm), trong khi tăng trưởng trung bình đạt 14 mm/năm ở cáccông thức không tỉa thưa
Theo Beadle C (2006), đã đề xuất kỹ thuật tỉa cành và tỉa thưaKeo tai tượng cho trồng rừng gỗ lớn ở Indonesia, với mật độ trồng banđầu là 3 x 3m (1.111 cây/ha), áp dụng 4 lần tỉa cành và tỉa thưa, baogồm: (i) lần 1 thực hiện sau từ 4 - 6 tháng kể từ khi trồng, tỉa những cây
đa thân chỉ để mỗi gốc 1 thân; (ii) lần 2 khi cây cao 4m, tỉa toàn bộ cành
có đường kính > 1,5cm đến độ cao 2,5m, đồng thời cứ 5 hàng chặt tỉa 1hàng để lại mật độ còn 889 cây/ha; (iii) lần 3 tiến hành khi cây cao trung
Trang 19bình 8m, tỉa toàn bộ cành có đường kính > 2,0cm và tỉa đến độ cao3,5m, đồng thời chặt tỉa những cây hình thân xấu, mật độ còn lại 593cây/ha; và (iv) lần 4 tiến hành khi cây cao trung bình 12m, tỉa toàn bộcành đến độ cao 4,5m, đồng thời chặt bỏ những cây có hình thân xấu,mật độ còn lại 296 cây/ha [33] Tuy nhiên, cũng có mặt hạn chế là làmgiảm một số chỉ tiêu về hình thái và chất lượng gỗ rừng trồng Đối vớivùng có nhiều gió bão, mật độ để lại thưa rất dễ bị đổ gãy do bão [41].
Như vậy, trong kinh doanh rừng trồng thuần loài đều tuổi, chặt tỉathưa thường được tiến hành ở giai đoạn sau rừng khép tán với mục tiêunhằm điều chỉnh mật độ sao cho lâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối
ưu để thúc đẩy sinh trưởng đường kính, chiều cao để có thể thu đượcnăng suất và chất lượng gỗ của lâm phần tốt nhất
Ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích tán lá
Chỉ số diện tích lá (LAI) được định nghĩa là tổng diện tích mặt látrên đơn vị diện tích mặt đất (dẫn theo Ford Denison R and RaymondRussotti, 1997) [53] Qua đây có thể đánh giá được hiệu quả sử dụngnước, dinh dưỡng và cân bằng carbon của cây Chỉ số LAI phụ thuộc vào
sự phát triển của tán lá, mật độ và tình trạng sinh trưởng của cây Đối vớitừng loài cây, giống cây có chỉ số diện tích lá thích hợp, giúp cho chúngtạo ra năng suất kinh tế cao Chỉ số diện tích lá thấp, cây không tận dụnghết ánh sáng và khoảng không nên năng suất kinh tế không cao Chỉ sốdiện tích lá quá cao, lá che mất ánh sáng của nhau và tranh chấp khônggian sống nên không có năng suất kinh tế cao Có thể dùng LAI là mộtđại lượng đặc trưng để mô tả cho tán của hệ sinh thái Thông qua đó ta
Trang 20có thể dự đoán sản xuất sơ cấp quang hợp, thoát hơi nước và là một công
cụ tham khảo cho tăng trưởng cây trồng
Tỉa thưa tác động đến sinh trưởng của cây, qua đó ảnh hưởng đến
chỉ số LAI Nghiên cứu trên loài Acacia tortilis, chỉ số LAI ảnh hưởng
bởi chế độ dinh dưỡng và thời gian trong năm ( Abdalla Elfeel andRefaat Abohassan, 2016)[34] Ở những nơi trồng dày, cây phát triển tốt,chỉ số diện tích lá có thể lên đến 400-500% Tỉa thưa không làm thayđổi góc phân cành, số lượng cành và mối quan hệ giữa kích thước cành
và diện tích lá (Medhurst J.L., Pinkard E.A , Beadle C.L and Worledge
D, 2002)[77] Tuy nhiên, ở các thí nghiệm tỉa thưa thường có cành lớnhơn và diện tích tán lá cũng lớn hơn so với không tỉa Đối với Thông
Pinus strobus, tỉa thưa làm giảm chỉ số LAI nhưng không tỷ lệ thuận với
cường độ tỉa thưa vì diện tích tán lá ở những nơi tỉa thưa sẽ tăng nhanhtheo thời gian so với không tỉa (Christopher H Guiterman, Robert S.Seymour, Aaron R Weiskittel, 2012)[46] Tùy thuộc cường độ tỉa thưa,cây có thể lấy lại chỉ số LAI trong thời gian ngắn Ở một số loài cây lákim, chỉ số LAI bị ảnh hưởng bởi cường độ tỉa thưa Trung bình, tỉathưa 33% làm giảm <50% LAI, trong khi tỉa thưa 50% làm giảm > 50%LAI Chỉ số LAI giữa các tầng tán thay đổi theo thời điểm, phương pháp
và cường độ tỉa thưa Ở các mật độ khác nhau, chỉ số LAI ở tầng tándưới tăng khi tiết diện ngang giảm, tuy nhiên LAI tổng cộng không bịảnh hưởng bởi tiết diện ngang, hiệu quả tăng trưởng hay dòng chảy nhựatrong thân cây Tán lá nói chung và tán là Keo tai tượng nói riêng có thểlàm giảm bức xạ mặt trời do đó giảm hiện tượng quang hoá của các tầngbên dưới và bảo vệ các cơ quan quang hợp khỏi ánh sáng mạnh Với
Trang 21việc giảm bức xạ mặt trời, các cơ quan trong thân cây có khả năng đồng
hóa nhiều carbon hơn và tích lũy nhiều sinh khối hơn dưới mặt đất
*Ảnh hưởng tỉa thưa đến cường độ quang hợp
Sau khi tỉa thưa chế độ ánh sáng của những cây được giữ lại là yếu
tố thay đổi rõ ràng và đáng kể nhất (Tang và cộng sự, 2006) )[90] Khảnăng quang hợp của lá được tăng cường là do ánh sáng được gia tăng ởcác tầng tán (Ginn và cộng sự, 1991, dẫn theo West P W., 2006)[95].Hiệu quả quang hợp ngay sau tỉa thưa tăng mạnh sau đó giảm dần khicây khép tán (Gravatt và cộng sự, 1997, dẫn theo West P W., 2006)[95]
Khả năng quang hợp (Amax) tăng được quan sát thấy sau khi tỉathưa chủ yếu là sự thay đổi về khả năng quang hợp của lá thành thục ởtầng tán dưới và giữa Những sự gia tăng này, kết hợp với sự cải thiệntrong môi trường vi mô ánh sáng, có thể là mấu chốt trong thúc đẩy tăngtrưởng của cây sau khi tỉa thưa Sau khi cây khép tán, chỉ số Amax chỉ ảnhhưởng rất ít đến sự tăng trưởng (Mc Murtrie và cộng sự, 1989)[75], tuynhiên cây đã có một tỷ lệ cao lá thành thục quen với điều kiện bão hòaánh sáng, do đó vẫn có một tác dụng rõ rệt trên sự phát triển cây
1.2.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến năng suất, chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng
Tỉa thưa rừng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả rừngtrồng theo các mục đích kinh doanh rừng Các công trình nghiên cứu đềucho rằng, tỉa thưa giúp nâng cao năng suất và trữ lượng lâm phần so vớikhông áp dụng tỉa thưa cải thiện chất lượng thân cây để lại (Beadle C,2006; Nicholas, I.D and Gifford, H., 1995; Zuhaidi, N.M and A Mohd,1997) [41], [80], [98] Zuhaidi, N.M và A Mohd (1997) cho biết, tổng
Trang 22trữ lượng đạt cao nhất khi áp dụng tỉa thưa các lâm phần Keo tai tượng
12 tuổi ở Malaysia, đạt 211,77 m3 và thấp nhất, ở các lâm phần không ápdụng tỉa thưa, đạt 199,55 m3 [80]
Phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng, áp dụng các biện pháp tỉathưa góp phần nâng cao năng suất và trữ lượng của lâm phần Tuy nhiên,cũng có những nghiên cứu cho thấy, tỉa thưa làm giảm năng suất và trữlượng lâm phần Ahmad Z.Yahya, (1993) cho rằng, tăng trưởng của tổngtiết diện ngang và trữ lượng phụ thuộc vào số lượng cây để lại sau khi ápdụng tỉa thưa ở các cường độ khác nhau, sau 3 năm theo dõi trữ lượngđạt cao nhất khi không áp dụng tỉa thưa (đối chứng), đạt 130,59 m3 vàthấp nhất ở công thức tỉa thưa 50% ở tuổi 4 (110,56m3) [35]
1.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng
Chặt nuôi dưỡng rừng ở Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu đểứng dụng cho chặt nuôi dưỡng ở rừng trồng thuần loài đều tuổi Các kếtquả đạt được bước đầu đóng góp đáng kể cho việc từng bước xây dựng
hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng trồng ởViệt Nam Một số kỹ thuật đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn sảnxuất hoặc đã được ban hành chính thức thông qua các tiêu chuẩn ngành(TCN), hoặc mới đây là những Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) trong hệthống các biện pháp xử lý lâm sinh ở Việt Nam Các tiêu chuẩn ngànhtrong chặt tỉa thưa rừng Thông nhựa (04 TCN 143:2006), rừng Thôngđuôi ngựa (04TCN 143:2006), rừng Thông ba lá (04TCN 126:2006),rừng Sa mộc, rừng Mỡ (QTN87), rừng Quế (04TCN 127:2006), rừngKeo lá tràm (QPN 19-96), rừng Keo tai tượng (QPN 9-89), rừng Bạch
Trang 23đàn đỏ Mới đây là các TCVN: Rừng gỗ lớn chuyển hóa từ rừng trồng gỗnhỏ cho rừng Keo lai (TCVN 11567 -1:2016), rừng Keo tai tượng(TCVN 11567 -2:2016);
Các nghiên cứu về chặt nuôi dưỡng rừng trồng ở Việt Nam tậptrung vào biện pháp như cải thiện không gian sinh dưỡng (Giang VănThắng, 1995; Kiều Thanh Tịnh, 2002) [23, 28]; tỉa thưa mật độ lâm phầnhiện có cho các lâm phần rừng trồng keo tai tượng (Đặng Văn Thuyết,2010) [26]; Keo lai (Trần Văn Con và cộng sự, 2010; Phạm Thế Dũng,2012; Bùi Thanh Hằng, 2005; Nguyễn Thanh Minh, 2005; Nguyễn HuySơn, 2012; Đặng Văn Thuyết, 2012) [9], [10], [16], [18], [22], 27]; Keo
lá tràm (Bùi Việt Hải, 1998) [14]; loài Mỡ và Sa mộc (Nguyễn HữuThiện, 2011) [25] ; hỗn giao Thông đuôi ngựa với Keo lá tràm (NguyễnToàn Thắng và Trần Văn Con, 2006) [24]
Trần Văn Con và cộng sự (2010) đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuậtchuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn cho Keolai và Keo tai tượng với 2 lần tỉa thưa Tùy vào cấp lập địa, thời điểmtỉa thưa lần 1 có thể ở tuổi 4 - 5 với mật độ để lại 800 - 850 cây/ha vàlần 2 ở tuổi 8 - 9 với số cây để lại 450 - 500 cây/ha Khai thác chính ởtuổi 12 - 15, trong đó lượng gỗ đạt tiêu chuẩn gỗ lớn (dự kiến) khoảng80% [9]
Nguyễn Huy Sơn (2012) cho rằng, tỉa thưa rừng trồng Keo là biệnpháp kỹ thuật lâm sinh hoàn toàn có tính khả thi nhằm chuyển hóa rừngtrồng gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn - gỗ xẻ và sớm đáp ứng nhucầu sản xuất hiện nay Biện pháp kỹ thuật tỉa thưa áp dụng chủ yếu làchặt tỉa tầng dưới, để lại những cây từ trung bình trở lên, thân thẳng và
Trang 24chiều cao dưới cành lớn, khả năng sinh trưởng tốt, số cây phân bố đềutrên diện tích đã định [22].
Theo TCVN 11567-2: 2016 quy định yêu cầu kỹ thuật cho rừngKeo tai tượng gỗ lớn chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ, với mật độ hiện tại
≥ 1.100 cây/ha, sau 4 - 6 năm (tuổi rừng bắt đầu chuyển hóa) ở cấp đất I
và sau 5 - 7 năm ở cấp đất II [3] Áp dụng tỉa thưa 1 lần, với cường độtỉa thưa là 50% số cây, mật độ để lại 550 cây/ha ở cấp đất I và 600cây/ha ở cấp đất II Áp dụng tỉa thưa 2 lần, với cường độ tối đa là 40%
số cây, mật độ còn lại sau tỉa thưa lần 1 là 750 cây/ha ở cấp đất I và 800cây/ha ở cấp đất II; cường độ tỉa thưa lần 2 tối đa 35% số cây còn lại,mật độ để lại 500 cây/ha (cấp đất I) và 550 cây/ha (cấp đất II) Áp dụngtỉa cành cho các cây mục đích, thời điểm tỉa cành trước khi tiến hành tỉathưa lần đầu (vào mùa khô), chiều cao tỉa cành không quá 50% chiều caovút ngọn của cây Dùng kéo cắt cành chuyên dụng hoặc cưa cắt cành sátthân cây, tránh gây xước thân cây
Biện pháp kỹ thuật tỉa thưa rừng trồng nói chung bao gồm: (i) Tỉathưa những cây cong queo, sâu bệnh, bị chèn ép, cụt ngọn không đápứng được mực đích kinh doanh và một số cây sinh trưởng bình thườngnhưng mật độ để lại quá dày; giữ lại cây khỏe mạnh, có tán lá cân đối,thân thẳng, tròn đều; (ii) Cường độ tỉa thưa theo 4 mức khác nhau: mức
độ thấp là khoảng cách giữa các cây chừa nhỏ hơn 1/3 đường kính táncây ở tuổi khai thác chính; mức độ trung bình là khoảng cách iữa các câychừa từ 1/3 đến dưới 1/2 đường kính tán cây ở tuổi khai thác chính; mức
độ cao là khoảng cách giữa các cây chừa từ 1/2 đến gần bằng đường
Trang 25kính tán cây ở tuổi khai thác chính; mức độ rất cao là khoảng cách giữacác cây chừa bằng hoặc lớn hơn đường kính tán cây ở tuổi khai thácchính; (iii) Số lần tỉa thưa từ 01 lần đến 03 lần; kỳ dãn cách từ 03 đến 06năm phụ thuộc vào loài cây, điều kiện lập địa, tuổi cây và cường độ chặttỉa thưa; tiến hành tỉa thưa lần sau khi rừng đã khép tán sau lần tỉa thưatrước liền kề; (iv) Thời điểm tỉa thưa: vào mùa khô hoặc những tháng ítmưa (trước hoặc sau mùa sinh trưởng); (v) Kỹ thuật chặt tỉa thưa: chiềucao gốc chặt không quá 2/3 đường kính gốc cây chặt, chọn hướng cây đổ
để không ảnh hưởng tới cây giữ lại; không chặt quá 03 cây liền nhau vàđảm bảo cây giữ lại phân bố đều trong rừng; (vi) Tỉa cành: tỉa cành chocây mục đích, cắt các thân phụ và cành quá lớn, nằm ở phía dưới tán(những cành già, nằm ở dưới 1/3 chiều cao cây); cắt sát với thân cây,tránh làm xước vỏ thân cây (TT 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày16/11/2018) [8] 1.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinhtrưởng và năng suất rừng trồng
Tỉa thưa rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật liênhoàn có tác dụng hỗ trợ cùng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác làmtăng khả năng sinh trưởng cũng như hiệu quả của rừng trồng (NguyễnHuy Sơn, 2012) [22] Trong thời gian gần đây đã có một số tác giả nghiêncứu về vấn đề này cho các loài cây rừng trồng khác nhau, có thể kể đếncác tác giả như: Cây Keo tai tượng (Đặng Văn Thuyết, 2010; Trần LâmĐồng, 2018; Võ Đại Hải, 2018)[26], [13], [15]; Keo lai (Phạm Thế Dũng,2012; Võ Đại Hải, 2018; Nguyễn Thanh Minh và Nguyễn Huy Sơn,2013[; Beadle cộng sự, 2013) [10], 15], 19], 43], cụ thể như sau:
Trang 26Giang Văn Thắng (1995) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ tiêudiện tích sinh trưởng tới tăng trưởng và năng suất rừng trồng Keo tạitượng tại miền Đông Nam bộ, cho biết diện tích sinh trưởng thích hợp là
8 m2/cây, tương ứng với 1.250 cây/ha Với mật độ này, Keo tai tượng sẽcho tăng trưởng và trữ lượng tốt nhất [23]
Đặng Văn Thuyết (2010) sau 2 năm áp dụng tỉa thưa chuyển hóarừng cung cấp gỗ nhỏ thành gỗ lớn cho rừng keo tai tượng 3 tuổi ở QuảngNinh với mật độ trồng ban đầu 2.500 cây/ha cho thấy, tỉa thưa để lại mật
độ 1.000 cây/ha cho sinh trưởng đường kính cao nhất [26] Cũng theoĐặng Văn Thuyết (2012) cho biết, sau 4 năm tỉa thưa rừng keo lai 5 tuổi ởQuảng Trị, trữ lượng rừng ở mật độ giữ lại 1.000 - 1.200 cây/ha cao hơn
so với mật độ để lại 600 cây/ha hoặc 800 cây/ha nhưng đường kính ở giaiđoạn này chỉ phù hợp với gỗ nhỏ [27]
Phạm Thế Dũng, (2012) cho rằng, mật độ để lại khoảng 600cây/ha có tổng tiết diện ngang thân cây lớn gần bằng so với đối chứng(không tỉa) đối với cây Keo lai ở Bình Phước, nhưng tăng trưởng đườngkính lại cao hơn khoảng 3,5cm so với đối chứng Ở Tân Phú (Đồng Nai)
và Tây Sơn (Bình Đình) thì khả năng sinh trưởng đường kính vượt từ4,5% đến 22,6% và chiều cao vượt từ 0,6 - 16,1% so với không tỉa [10]
Phạm Thế Dũng và cộng sự (2012) khi nghiên cứu về tỉa thưa rừngkeo lai ở Việt Nam cho biết, nếu để lại mật độ lớn hơn 1000 cây/ha sẽkhông thể có sản phẩm là gỗ xẻ Bởi vì với mật độ 1000 cây/ha thìđường kính chỉ khoảng 13,8cm, nếu cần có đường kính lớn thì số câyphải giảm [10] Như vậy, tỷ lệ gỗ xẻ sẽ tăng theo mức độ tỉa thưa và giátrị rừng trồng sẽ cao hơn so với không tỉa để làm nguyên liệu giấy
Trang 27Nguyễn Thanh Minh và cộng sự (2013) cho rằng, sau 4 năm trồngrừng Keo lai ở Đông Nam bộ đã có sự cạnh tranh khá mạnh về khônggian sinh dưỡng, nên cần phải tỉa thưa vào đầu năm thứ 5, mật độ khitrồng là 1.660 cây/ha, năm thứ 5 còn sống khoảng 1.350 cây/ha, tỉa thưa
để lại từ 750 - 900 cây/ha là phù hợp; nếu tỉa thưa còn từ 450 - 700cây/ha thì sau 9,5 năm có tới 50% trữ lượng gỗ có đường kính ≥ 18cm,nhưng trữ lượng gỗ lại thấp nhất so với các mật độ lớn hơn [19]
Beadle C và cộng sự (2013) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉathưa đối với rừng keo lai 2,5 tuổi tại Đồng Hới (Quảng Bình), sau 2 nămtheo dõi cho thấy tỉa thưa đã ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu sinhtrưởng của rừng keo lai [43] Đường kính trung bình đạt 14,5cm (đốichứng - không tỉa thưa), đạt 15,9cm khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ
600 cây/ha; đạt 16,3cm khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ 450 cây/ha;đạt 17,1cm khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ 300 cây/ha Chiều cao câytương ứng lần lượt đạt 17,3m (đối chứng), 17,5m (600 cây/ha), 17,2m(450 cây/ha) và 16,6m (300 cây/ha) Sau 2 năm tỉa thưa, lượng gỗ xẻ đạttương ứng 22,5 m3/ha (600 cây/ha), 20,6 m3/ha (450 cây/ha), 22,9 m3/ha(300 cây/ha) và thấp nhất đạt 10,4 m3/ha (khi áp dụng tỉa thưa để lại mật
độ 871 cây/ha)
Võ Đại Hải (2018) cho biết, biện pháp kỹ thuật tỉa đơn thân và tỉacành keo tai tượng ở Bình Định, keo lá tràm ở Quảng Trị cho sinhtrưởng và năng suất rừng cao hơn rõ rệt so với không áp dụng tỉa [15].Keo tai tượng có áp dụng tỉa thưa ở tuổi 5-6 có sinh trưởng bình quânđạt D = 15,3 cm, Hvn = 15,7 m, trữ lượng 127,6 m3/ha; lượng tăngtrưởng bình quân chung về đường kính đạt 2,66 cm/năm, chiều cao 2,73
Trang 28m/năm, năng suất 21,3 m3/ha/năm Trong khi ở các lâm phần rừng khôngtỉa thưa trung bình đạt 15,7 m3/ha/năm Tương tự, ở Yên Bái, tỉa thân vàtỉa cành chưa có sự sai khác sau 36 tháng theo dõi Keo tai tượng tỉa thưa
ở 3 tuổi tại Quảng Nam để lại 1.000 cây/ha có ảnh hưởng rõ rệt đến sinhtrưởng đường kính và làm tăng đánh kể tỷ lệ gỗ lớn, nhưng sau 3 nămnăng suất rừng sau tỉa thưa vẫn chưa khác biệt so với rừng không tỉathưa
Ở Bình Định, tăng trưởng của Keo lai ở các mô hình tỉa thân, tỉacành đều cao hơn so với không áp dụng tỉa Ở tuổi 1-2 lượng tăng trưởngbình quân đường kính đạt 2,94cm/năm khi tỉa, so với rừng không tỉathưa là 1,9cm/năm Ở tuổi 3-4 lượng tăng trưởng đường kính của rừngtỉa thưa là 2,35cm/năm, so với 1,7cm/năm so với rừng không áp dụng tỉathưa (Võ Đại Hải, 2018)[15]
Trần Lâm Đồng (2018) cho biết, tại Yên Bái sau 3 năm tỉa thưarừng Keo tai tượng ở tuổi 4, 5 sinh trưởng đường kính, chiều cao có saikhác rõ rệt giữa các công thức tỉa thưa khác nhau [12] Tỉa thưa để lạimật độ 750 cây/ha cho sinh trưởng đường kính và chiều cao lớn nhất đạt19,6cm và 18,0 khi kết hợp bón phân và đạt 18,1cm và 18,3m khi khôngkết hợp bón phân Tỷ lệ gỗ có đường kính > 15cm cũng đạt cao nhất(tương ứng là 38,8% và 39,2%, so với đối chứng (không tỉa thưa) là21,7% và 22,7%)
Tương tự, tại Nghệ An sau 2 năm tỉa thưa rừng Keo tai tượng ởtuổi 4, sinh trưởng đường kính và chiều cao có sai khác rõ rệt giữa cáccông thức tỉa thưa khác nhau, trong đó, tỉa thưa để lại mật độ 750 cây/hacho sinh trưởng đường kính và chiều cao lớn nhất, đạt tương ứng 16,5cm
Trang 29và 17,3m (không kết hợp bón phân) và đạt 17,5cm và 18,5m (kết hợpbón phân) Tỷ lệ gỗ có đường kính > 15cm đạt cao nhất khi áp dụng tỉathưa để lại mật độ 750 cây/ha, tương ứng 28,1% và 30,3% so với đốiứng (17,3% và 14,6%).
Như vậy, các nghiên cứu đều cho rằng biện pháp kỹ thuật tỉa thưa
là yếu tố kỹ thuật quan trọng trong việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏsang cung cấp gỗ lớn Các kết quả đều cho thấy, sinh trưởng đường kínhcủa cây để lại đều cao hơn rõ rệt so với không áp dụng tỉa thưa Việc ápdụng các biện pháp kỹ thuật này ngoài việc nâng cao hiệu quả kinh tếcòn cũng góp phần giảm ô nhiễm môi trường, giảm xói mòn đất do rừngđược kéo dài chu kỳ kinh doanh nên hạn chế các tác động lên đất dotrồng lại rừng
1.3.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng
Ảnh hưởng đến chất lượng gỗ
Phần lớn các nghiên cứu đánh giá mới chỉ quan tâm đến ảnhhưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa thưa đến sinh trưởng mà chưa quan tâmđến tính chất gỗ, chất lượng gỗ, nhất là mức độ thành thục công nghệcủa gỗ Nguyễn Quang Trung (2010) cho biết, Bạch đàn uro để làmnguyên liệu gỗ xẻ phải có tuổi trên 11 năm [32] Với gỗ 7 năm tuổi, hiệntượng co móp xảy ra ngay trong khi hong phơi, vì thế việc sử dụng gỗ 7năm tuổi trở xuống để sản xuất gỗ xẻ làm đồ mộc không hiệu quả
Võ Đại Hải (2018) cho rằng, biện pháp tỉa cành cho tổng số mắt
gỗ keo tai tượng tại Quảng Trị dao động từ 6 - 18 mắt, thấp hơn so vớicông thức không tỉa cành (dao động từ 17 - 23 mắt) [15] Ở vị trí 0 - 2m
Trang 30(là đoạn gỗ thường được áp dụng các biện pháp tỉa cành) cho thấy, biệnpháp tỉa cành cho đường kính mắt nhỏ hơn so với không tỉa Như vậy,việc áp dụng biện pháp tỉa thân, tỉa cành có triển vọng làm tăng chấtlượng gỗ thông qua tác dụng làm giảm số lượng và kích thước mắt gỗ.
Hiệu quả kinh tế
Nguyễn Hữu Thiện (2011) cho biết, hiệu quả kinh tế của mô hìnhchuyển hóa kinh doanh gỗ lớn của cả Mỡ và Sa mộc đều cao hơn so với
mô hình kinh doanh gỗ nhỏ, chỉ tiêu NPV của mô hình Mỡ đạt 52,987triệu đồng, tăng gấp 4,43 lần so với mô hình kinh doanh gỗ nhỏ; tương
tự mô hình Sa mộc tăng gấp 4,74 lần Giá trị BCR của Mỡ đạt 5,49 lần,tăng 2,6 lần so với kinh doanh gỗ nhỏ; đối với sa mộc đạt 5,82 lần, tăng2,74 lần so với gỗ nhỏ [25]
Tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ba Tơ (QuảngNgãi), rừng trồng cung cấp gỗ lớn dù tỉa thưa hay không tỉa thưa đều chothu nhập và lợi nhuận cao hơn hẳn so với trồng rừng cung cấp gỗ nhỏ.Các chỉ số NPV, BCR, IRR của các mô hình trồng rừng gỗ lớn cũng caohơn so với gỗ nhỏ Nếu trồng rừng gỗ nhỏ chu kỳ 7 năm chỉ cho lợi nhuậnkhoảng 53 triệu đồng/ha, với NPV = 12.778 nghìn đồng/ha; BCR = 1,42;thì chỉ cần để sau 2 năm, lợi nhuận đạt được khoảng 130 triệu/ha, vớiNPV = 34.805 nghìn đồng/ha; BCR = 2,11 Nếu để sau 5 năm nữa sẽ đạtlợi nhuận khoảng 314 triệu đồng/ha, với NPV = 69.692 nghìn đồng/ha vàBCR = 3,16 (Đặng Thịnh Triều và cộng sự, 2014) [31]
Theo Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT, 2018)cho biết, các mô hình chuyển hóa rừng keo tai tượng tại Bắc Giang,Quảng Ninh sử dụng các biện pháp lâm sinh tác động như nuôi dưỡng,
Trang 31tỉa thưa (mật độ còn lại 600 cây/ha), trữ lượng đạt 115m3/ha tươngđương rừng trồng thông thường Các mô hình này mang lại hiệu quảkinh tế cao hơn: giá bán gỗ cao hơn gấp 2 lần và cho thu hoạch từ sảnphẩm tỉa thưa [7] Các mô hình đều cho thấy, việc kéo dài tuổi khai thácrừng trồng sẽ làm tăng giá trị kinh tế.
Rừng trồng thương mại của Dự án FSDP tại Quảng Nam với 2 loàicây trồng Keo lai và Keo tai tượng được trồng tập trung ở 2 cấp đất II vàcấp đất III (chiếm 80%) Rừng trồng trên 2 cấp đất còn lại (cấp I và cấpIV) chiếm tỷ lệ thấp Trữ lượng ước tính của rừng Keo lai giảm dần theotừng cấp đất và theo tuổi của chu kỳ kinh doanh Cấp đất I cho sản lượngcao nhất (316m3/ha ở tuổi 7) và giảm dần ở cấp đất II, III và cấp IV (chỉđạt 83,3m3/ha ở cấp đất IV ở tuổi 7) Hiệu quả kinh tế của cây Keo lai ởcấp đất I đạt 210 triệu đồng/ha, còn ở cấp đất IV sau 5 năm chỉ đạt 15,9triệu đồng/ha (Bộ NN&PTNT, 2014) [6]
Hiệu quả kinh tế đối chứng giữa mô hình trồng rừng Keo lai thuầnloài chu kỳ ngắn (5-6 năm) lấy gỗ nguyên liệu bột giấy với mô hìnhchuyển hóa rừng Keo lai thuần loài thành chu kỳ dài (10-11 năm) lấy gỗlớn, gỗ xẻ tại xã Canh Hiển, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định cho thấy:Nếu kinh doanh chu kỳ ngắn, chu kỳ 5 - 6 năm khai thác trắng cho thunhập bình quân khoảng 51.311.000 đồng/ha Tái đầu tư lại chu kỳ 2 phảimất 5 - 6 năm nữa và cho thu nhập thêm 51.311.000 đồng/ha Như vậy,trong khoảng thời gian 10 - 12 năm cho tổng lợi nhuận bình quân là102.662.000 đồng/ha, trong khi đó phải trừ đi phần chi phí tái đầu tư ởchu kỳ 2 bằng số vốn đầu tư như số vốn đầu tư ở chu kỳ 1 là: 22.741.000đồng Kết quả thu nhập bình quân còn lại sau 10 - 12 năm trồng 2 chu kỳ
Trang 32là: 102.622.000 - 22.741.000 = 79.881.000 đồng Nếu kinh doanh chu
kỳ dài, chu kỳ 10 - 11 năm áp dụng biện pháp khai thác chọn theo hìnhthức tỉa thưa ở giai đoạn giữ chu kỳ sẽ cho thu nhập bình quân khoảng
165.789.000 đồng (cao hơn gấp đôi mức lợi nhuận bình quân của cả 2
chu kỳ ngắn) Trong khi đó không phải mất chi phí tái đầu từ như ở chu
kỳ ngắn (Bộ NN&PTNT, 2014) [7]
Trần Lâm Đồng (2018), sau 3 năm tỉa thưa tại Yên Bái và 2 nămtại Nghệ An hầu hết các công thức tỉa thưa đều cho trữ lượng thấp hơnhoặc bằng so với công thức không tỉa, như vậy không có giá trị gia tăngnếu bán với giá gỗ nhỏ [12] Tuy nhiên, trong sản xuất hiện nay, giá gỗtăng theo cỡ đường kính tùy theo mức độ phù hợp yêu cầu làm nguyênliệu gỗ dăm, gỗ bóc hay gỗ xẻ Các công thức tỉa thưa đều cho giá trịhiện tại cao hơn so với công thức đối chứng, ngoại trừ rừng chuyển hóa
ở tuổi 3 ở Nghệ An, sự sai khác không rõ rệt Điều này có thể là do mật
độ rừng đưa vào tỉa thưa cao quá (2513 và 2750 cây/ha) nên hiệu quảcủa tỉa thưa không cao Tại Yên Bái, tổng giá trị đạt cao nhất khi ápdụng tỉa thưa để lại mật độ 1.000 cây/ha, đạt 193,6 triệu đồng (không kếthợp bón phân) và 184,8 triệu đồng (kết hợp bón phân), so với không ápdụng tỉa thưa (tương ứng là 147,1 triệu đồng và 165,2 triệu đồng), trong
đó, giá trị gỗ có D1.3 > 15cm đạt 130,5 triệu đồng (không kết hợp bónphân) và 118,6 triệu đồng (kết hợp bón phân), so với không áp dụng tỉathưa (tương ứng là 67,5 triệu đồng và 78,8 triệu đồng)
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc chuyển hóa rừng trồng
gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn cũng đã được Đỗ Văn Bản và cộng sự (2018)[1] thực hiện cho một số vùng và ở trên các cấp đất khác nhau Từ đó tác
Trang 33giả kết luận, tuổi thành thục kinh tế là 13 cho cả loài Keo lai và Keo taitượng với tất cả các mô hình gỗ nhỏ, gỗ lớn và trồng rừng chuyển hóa.Đối với mô hình gỗ lớn có thể kéo dài đến tuổi 14
Như vậy, ở các nghiên cứu đều cho thấy, việc áp dụng các biệnpháp kỹ thuật tỉa thưa để chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang cung cấp
gỗ lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng đường kính của cây để lại rõ rệt,qua đó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với không chuyển hóa(không áp dụng tỉa thưa)
1.4 Thảo luận chung
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước chothấy, Keo tai tượng đóng vai trò tương đối lớn trong trồng rừng ở ViệtNam cũng như nhiều nước khác Chính vì thế, các nghiên cứu về Keo taitượng đã được công bố rất nhiều liên quan đến tất cả các khía cạnh từnghiên cứu cơ bản về loài, chọn và cải thiện giống đến các kỹ thuật gâytrồng, chăm sóc và sử dụng gỗ Keo tai tượng Về nghiên cứu kỹ thuậtchặt tỉa thưa nuôi dưỡng rừng trồng, ở trên thế giới thế giới các côngtrình nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn các loài Keo, Bạch đàn đã đượcthực hiện khá toàn diện, đặc biệt là các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tỉathưa rừng trồng Những nghiên cứu này đã tạo cơ sở khoa học cho việctrồng rừng thâm canh, chuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ sang cung cấp
gỗ lớn các loài keo, bạch đàn; góp phần cung cấp nguyên liệu phục vụchế biến ở các nước trên thế giới trong thời gian qua
Ở Việt Nam do đặc thù của phát triển sản xuất trong những nămqua chúng ta chủ yếu tập trung vào phát triển các loài cây gỗ nhỏ, mọcnhanh để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy gỗ dăm, nên các công
Trang 34trình nghiên cứu trong nước cũng chỉ tập trung phần lớn vào các loàiKeo, Bạch đàn, Bồ đề, Sa mộc,… với mục tiêu cung cấp gỗ nhỏ làchính Trong thời gian gần đây, cũng đã có nhiều nghiên cứu về trồngrừng gỗ lớn, các biện pháp kỹ thuật tỉa thưa chuyển hóa rừng sản xuất gỗnhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn một số loài như Keo, Bạch đàn Tuynhiên, các nghiên cứu này còn một số điểm hạn chế, như các nghiên cứuchuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ sang cung cấp gỗ lớn thực hiện trênphạm vi hẹp, thời gian theo dõi và đánh giá chưa dài, rất ít các cácnghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích lá, cường độquang hợp cũng như chất lượng gỗ xẻ Đặc biệt ở Bắc Giang nói riêng
và vùng núi phía Bắc nói chung chưa có các nghiên cứu sâu về ảnhhưởng tỉa thưa đến một số chỉ số nêu trên
Xuất phát từ những thực tiễn nêu trên, việc thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang” là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn.
Trang 35CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận án, một số nội dung sau đã đượcthực hiện:
- Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thànhrừng gỗ lớn tại Bắc Giang
- Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng
trồng Keo tai tượng
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ sống
Trang 36+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích lá vàquang hợp
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến đường kính và tiết diệnngang
+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến chiều cao
+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến đường kính tán lá
+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến phân bố N/D
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến trữ lượng rừng
- Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến chất lượng gỗ xẻrừng trồng Keo tai tượng
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến số lượng và kích thướcmắt gỗ
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ gỗ lõi, gỗ dác
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ sử dụng gỗ xẻ vàkhối lượng gỗ dăm
- Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng Keo tai tượng sau tỉathưa, chuyển hóa
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế khi bán gỗ tại Bãi 1
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận
Hiện nay ở Việt Nam phần lớn diện tích rừng trồng các loại Keonói chung và rừng trồng Keo Tai tượng nói riêng đều với mục đích cungcấp gỗ nhỏ Để sớm có gỗ lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường thì việcchuyển hóa các diện tích rừng kinh doanh gỗ nhỏ sẵn có thành rừng gỗlớn là một lựa chọn hợp lý Nguyên lý để chuyển hóa đó là tạo điều kiện
Trang 37thuận lợi về môi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởngnhanh hơn, đặc biệt là sinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêuchuẩn gỗ lớn Có ba cách để gia tăng sinh trưởng đường kính cây: (i)Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii) Điều chỉnh không gian sinh trưởnghợp lý để cây phát triển về đường kính; và (iii) Cải thiện điều kiện dinhdưỡng cho cây thông qua bón phân.
Nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng Keo tai tượng kinh doanh gỗnhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn trong luận án này được hiểu là nghiêncứu tỉa thưa (điều chỉnh không gian dinh dưỡng) rừng trồng kinh doanh
gỗ nhỏ hiện có và kéo dài chu kỳ khai thác
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận án đã kế thừa cácdiện tích rừng Keo tai tượng (các diện tích rừng này được trồng với mụcđích kinh doanh gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn ) hiện có của công ty TNHH haithành viên Lâm nghiệp Yên Thế để triển khai các công thức thí nghiệm.Luận án cũng chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đếnnăng suất và chất lượng cuả rừng Keo tai tượng cũng như tác động củatỉa thưa đến chất lượng gỗ xẻ theo tiêu chí cụ thể đang áp dụng tại Công
ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế Để lựa chọn mật độ đểlại sau tỉa thưa, chúng tôi áp dụng một số công thức thí nghiệm do VuĐinh Huong (2016)[97] nghiên cứu cho Keo lai tại Đông Nam Bộ Các ôtiêu chuẩn định vị đã được thiết lập để theo dõi, thu thập số liệu định kỳtrong suốt thời gian nghiên cứu Như vậy, luận án sẽ kết hợp cả nghiêncứu ứng dụng với sinh thái thực nghiệm và nghiên cứu trong phòng đểgiải quyết mục tiêu đề ra
2.2.2 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm chung khu vực nghiên cứu
Trang 38Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng và chất lượng
gỗ xẻ được thực hiện tại Công ty TNHH Hai thành Viên Lâm NghiệpYên Thế trên địa bàn 2 xã Tiến Thắng và Đồng Tiến, thuộc huyện YênThế, tỉnh Bắc Giang (Hình 2.1) Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiêncủa huyện Yên Thế như sau:
Yên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, có độ cao so với mực nướcbiển từ 200 – 300m, hướng dốc chính từ Bắc đến Nam Địa hình chủ yếu
là vùng núi và đồi thấp, dạng địa hình này đất đai có độ phì khá tốt.Huyện Yên Thế nằm trong vòng cung Đông Triều với khí hậu nhiệt đớigió mùa nóng ẩm: mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều và mùa Đông ít mưa,lạnh và khô Có lượng mưa trung bình 1.518,4 mm/năm; độ ẩm khôngkhí trung bình 81% và nhiệt độ trung bình 23,40C Đây là những điềukiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển đặc biệt là các loại câylâm nghiệp, trong đó có Keo tai tượng Bên cạnh đó, Yên Thế thuộcvùng trung du, nằm sâu trong đất liền nên ít bị ảnh hưởng của gió bão, vìvậy đây cũng là nơi thuận lợi cho việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn
Trang 39Hình 2 1: Bản đồ vị trí bố trí thí nghiệm tỉa thưa chuyển hóa Keo tai
tượng
- Đặc điểm đất đai và rừng trong các thí nghiệm
Do đây là thí nghiệm tỉa thưa chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thànhrừng gỗ lớn, vì vậy tiêu chí lựa chọn điều kiện lập địa cũng như tiêuchuẩn về nguồn giống và chất lượng rừng trồng cần đảm bảo sao cho câysau này sinh trưởng và phát triển tốt, đảm bảo điều kiện kinh doanh lâunăm (12-15 năm) Các công thức thí nghiệm được bố trí liền khu trongmột lô rừng theo từng tuổi Cụ thểrừng được lựa chọn có tiêu chuẩn nhưsau:
Trang 40Bảng 2 1: Một số thông tin về lô rừng được lựa chọn để làm thí
nghiệm T
T Hạng mục Rừng tuổi 3 Rừng tuổi 4 Rừng tuổi 5
bị đổ gãy dogió
Tốt, ít sâubệnh, không
bị đổ gãy dogió
Tốt, ít sâubệnh, không bị
đổ gãy do gió
8 Địa hình
Địa hình núiđất; độ caotương đối:
20m-150m; độdốc: 100 - 250
Địa hình núiđất; độ caotương đối:
20m-150m; độdốc: 100 - 250
Địa hình núiđất; độ caotương đối:20m-150m; độdốc: 100 - 250
9 Loại đất Feralit màu Feralit màu Feralit màu