Tiền thân của Tổng công ty Cổ phần Bia Rượu Nước giải khát Hà Nội là Nhà máy bia Hommel được người Pháp xây dựng từ năm 1890, là khởi đầu cho một dòng chảy nhỏ bé cùng song hành với những thăng trầm của Thăng Long Hà Nội. Ngày 1581958, trong không khí cả nước sôi sục chào mừng kỷ niệm 13 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bốn năm Thủ đô hoàn toàn giải phóng; chai bia Việt Nam đầu tiên mang nhãn hiệu Trúc Bạch ra đời trong niềm vui xúc động lớn lao của cán bộ công nhân viên Nhà máy.
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỒNG TÁC BÁN HÀNG TẠI
Thứ nhất, bán hàng là khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
Đặc điểm nổi bật của nền sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất ra là để trao đổi, mua bán, vì vậy trao đổi đã xuất hiện cùng với sự ra đời của sản xuất hàng hoá Lúc đầu, trao đổi chỉ mang tính giản đơn, thô sơ theo công thức hàng-hàng, nghĩa là hàng hoá chỉ được thực hiện dưới hình thức trao đổi hiện vật Khi tiền tệ làm phương tiện lưu thông xuất hiện công thức của trao đổi đó là hàng-tiền-hàng và đó chính là quá trình lưu thông hàng hoá Vậy lưu thông hàng hoá gồm hai giai đoạn là giai đoạn Hàng-Tiền và giai đoạn Tiền-Hàng, trong giai đoạn hàng hoá được chuyển từ hình tháihiện vật sang hình thái giá trị, đó chính là việc bán hàng Bán hàng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị sử dụng nhất định, là khâu cuối cùng có tính chất quyết định của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, bán hàng là khâu trung gian liên lạc thông tin giữa sản xuất và người tiêu dùng
Trang 2Đối với các doanh nghiệp, bán hàng là khâu cuối cùng trong khâu sản xuất kinh doanhnên nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Mọi hoạt động công tác khác đều nhằm mục đích là bán được hàng hoá và chỉ có bán hàng mới thực hiện được mục tiêutrước mắt đó là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bán hàng là hoạt động vừa liên quan đến người sản xuất – người bán vừa liên quan đến người tiêu dùng – người mua Qua hoạt động bán hàng doanh nghiệp có thể thu hút được đầy đủ, chính xác các thông tin về cung, cầu, giá cả, thị hiếu…
của người tiêu dùng Từ đó doanh nghiệp có thể tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh những mặt hàng phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bán hàng đạt hiệu quả cao hơn
Thứ ba, bán hàng giúp phục vụ nhu cầu xã hội
Chúng ta biết rằng hàng hoá được sản xuất ra là để trao đổi, để bán, nhưng khi một hàng hoá được đem ra thị trường mua bán thì người mua và người bán quan tâm đến hàng hoá đó với những mục đích hoàn toàn khác nhau, mục đích của người bán là giá trị, họ có giá trị sử dụng nhưng họ cần giá trị Ngược lại người mua rất cần giá trị sử dụng, nhưng họ phải có một giá trị tương đương để trao đổi với người bán thì mới sở hữu được giá trị của hàng hoá Như vậy quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng làhai quá trình khác nhau về không gian và thời gian
Hàng hóa được sản xuất liên tục nhưng tiêu dùng không phải lúc nào cũng liên tục thêm vào đó, hàng hóa được sản xuất ở một nơi nhưng được bán ở nhiều nơi Bán hàng giúp cho hàng hóa được lưu chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, giúp luân chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu
Từ những phân tích trên ta thấy vai trò của bán hàng là không thể phủ nhận Vì thế, công tác bán hàng cần được chú trọng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, khi khách hàng được coi là “thượng đế” thì hoạt động bán hàng phải bám sát nhu cầu thị trường với phương châm phục vụ nhu cầu của khách hàng là mục tiêu trước tiên để cóthể chiếm được lòng tin của khách hàng, để thu được nhiều lợi nhuận
1.1.3 Các loại hình bán hàng trong doanh nghiệp
Trang 3Trên cơ sở những quan điểm và khái niệm trên ta có có thể nói đơn giản rằng bán hàng là một khâu của quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng bằng nhiều cách như bán buôn, bán lẻ.
Hình thức bán buôn
Bán buôn hàng hóa bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán các hàng hóa và dịch vụ cho những người mua về để bán lại hoặc để kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận của khách hàng Bán buôn được chia thành các loại hình như sau:
– Các cơ sở bán buôn hoàn chỉnh (các trung gian thương mại): Bao gồm hai hình thức
tổ chức đặc biệt là các cơ sở bán buôn thương mại, các nhà phân phối bán buôn công nghiệp, và các kiểu cơ sở bán buôn đặc biệt
– Các đại lý và môi giới bán buôn (các trung gian chức năng): Không sở hữu hàng hóa
mà tiến hàng các dịch vụ nhằm thúc đẩy việc phát triển sức bán, tiết kiệm chi phí tác nghiệp
Các hình thức bán buôn của doanh nghiệp thương mại:
+ Hình thức bán buôn qua đại diện thương mại: Đặc điểm của công nghệ này là nhà bán buôn từ các đại diện thương mại tiếp cận trực tiếp tới các tổ chức và doanh nghiệpthương mại bán lẻ mang các mẫu hàng để giới thiệu và mời khách hàng mua hàng sau
đó tiến hành thỏa thuận và ký kết hợp đồng lâu dài
+ Hình thức bán buôn thông qua Catalogue: Công nghệ này có đặc điểm là những nhà bán buôn gửi catalogue tới các khách hàng trong khu vực bán lẻ, khu vực sản xuất công nghiệp hoặc tới các cơ quan khác nhằm giới thiệu các mặt hàng kinh doanh Hình thức này thường được áp dụng cho các mặt hàng như kim hoàn, mỹ phẩm, thực phẩm và đặc sản
- Hình thức bán buôn qua hội chợ triển lãm: Đây là công nghệ bán mà các nhà bán buôn thương mại có thể tự tổ chức và tham gia hội chợ nhằm trưng bày mặt hàng mới,cải tiến, tiểu thủ công nghiệp… qua đó tiếp xúc với các tổ chức kinh doanh, giao dịch nhận đơn đặt hàng và ký kết mua bán
- Hình thức bán buôn qua đơn đặt hàng thương mại: Trên thực tế đơn đặt hàng này chỉphù hợp với các khách hàng thường xuyên quen thuộc của các nhà bán buôn vì trong nội dung của đơn đặt hàng, người ta phải nêu được cụ thể hàng hóa mà họ định mua
và những nội dung cần thiết để ký kết hợp đồng mua bán
Trang 4+ Hình thức bán buôn qua đại lý đặc quyền: Đây là một giao kèo mang tính hợp pháp xác định giữa chủ quyền và đại lý đặc quyền trong đó chỉ rõ nghĩa vụ và đặc quyền của mỗi bên Một nhà đại lý độc quyền có thể đại diện cho hai hoặc nhiều nhà chủ quyền có các mặt hàng mang tính chất bổ sung cho nhau Sự thỏa thuận giữa nhà chủ quyền và đại lý đặc quyền được thiết lập bằng văn bản trong đó quy định giá, khu vực hoạt động, việc bảo hành, thể thức xử lý đơn đặt hàng và mức hoa hồng
Hình thức bán lẻ
Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính thương mại
Các hình thức bán lẻ của doanh nghiệp :
- Hình thức bán hàng truyền thống (cổ điển): Mọi công việc bán và phục vụ khách hàng đều do nhân viên bán thực hiện, từ tiếp khách, xác định nhu cầu của họ đến bao gói, tính tiền và giao hàng Ngoài ra, nhân viên bán hàng còn thực hiện một số nhiệm
vụ như giới thiệu hàng hóa, hướng dẫn khách hàng trong việc chọn hàng và chuẩn bị hàng hóa để giao Nơi công tác được ngăn cách giữa khách hàng và hàng hóa, khách hàng không được tự do đi lại tiếp xúc với hàng hóa
- Hình thức bán hàng tự phục vụ: Đặc điểm của công nghệ này là hàng hóa được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng, được trưng bày để ngỏ ở các giá trưng bày và khách hàng
sẽ chủ động trực tiếp tiếp cận hàng hóa mà mình định mua dưới sự định hướng gián tiếp hoặc trực tiếp của người bán
-Hình thức bán hàng qua máy bán hàng tự động: Là phương pháp sử dụng tự động thực hiện hai chức năng: nhận tiền và xuất hàng Ưu điểm của công nghệ này là thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng ở mọi lúc, mọi nơi, ít có hàng hỏng
- Hình thức bán hàng qua bưu điện: Phương pháp này phần lớn sử dụng điện thoại để chào mời khách hàng Người bán sử dụng điện thoại vừa để mời khách hàng mua bán hàng hóa, vừa để quản lý nợ nần, kiểm tra hàng tồn kho, giao hàng cho khách hàng và thực hiện một số dịch vụ sau bán
-Bán hàng qua hội chợ: Hình thức này hiện nay rất phổ biến ở nước ta Mục đích nguyên thủy của hội chợ triển lãm là giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng tiềm năng
Trang 5- Bán hàng trên mạng Internet: Là hình thức bán hàng hiện đại nhất hiện nay nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin Không cần những quầy hàng ở địa điểm cụ thể, người mua chỉ cần lựa chọn loại hàng hóa mà họ thích trên mạng Internet sau đó trả tiền qua thẻ tín dụng hoặc một tài khoản ở ngân hàng
1.2 Những vấn đề cơ bản về quản trị bán hàng
1.2.1 Khái niệm quản trị bán hàng
Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lượng bán hàng bao gồm những hoạt động chính như phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra hoạt động bán hàng
Quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu cho nhân viên bán hàng, thiết kế chiến lược cho nhân viên bán hàng đến tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên bán hàng
1.2.2 Quy trình bán hàng cơ bản của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có một quy trình bán hàng riêng tùy theo từng đặc thù kinh doanh riêng của mình, nhưng nhìn chung thì quy trình bán hàng của doanh nghiệp chuyên nghiệp thường bao gồm 7 bước
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch và xác định mục tiêu cho bán hàng
Chuẩn bị kế hoạch và xác định mục tiêu luôn là yếu tố quan trọng trong tổng thể của một lưu đồ quy trình bán hàng Để chuẩn bị kế hoạch một cách chi tiết, cụ thể nhất và xác định mục tiêu rõ ràng, doanh nghiệp của bạn cần chuẩn bị một số thông tin sau:
-Thông tin về sản phẩm, dịch vụ: cần hiểu rõ về sản phẩm như ưu điểm, nhược điểm
của sản phẩm, các dịch vụ cung cấp khách hàng
-Xác định khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp như hành vi, đặc điểm, sở thích… qua mạng xã hội, bạn bè, qua thực tế hoặc quảng cáo… Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bán hàng như: báo giá, card visit, giấy giới thiệu…
-Lên kế hoạch bán hàng chi tiết, cụ thể như thời gian, địa điểm tiếp cận, nội dung trao đổi…
Bước 2: Tìm kiếm khách hàng tiềm năng
Trang 6Lên kế hoạch tìm kiếm khách hàng tiềm năng, có triển vọng phù hợp với doanhnghiệp và loại bỏ những khách hàng không phù hợp.
Sau đó sử dụng sms marketing, email marketing để chăm sóc khách hàng tiềm năng và thiết lập cuộc hẹn
Bước 3: Tiếp cận khách hàng tiềm năng
Nhân viên bán hàng cần tìm hiểu đầy đủ thông tin về đối tượng, sau đó chuẩn
bị kỹ nội dung để trao đổi và thuyết phục khách hàng Bạn cần phải có chiến lược để tiếp cận với từng đối tượng cụ thể dựa trên nhu cầu của họ
Bước 4: Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ
Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ là một trong những bước rất quan trọng đối với nhân viên bán hàng Bạn nên giới thiệu những ưu điểm, thế mạnh sản phẩm, dịch vụ của bạn và những lợi ích mà khách hàng có thể nhận được khi sử dụng sản phẩm Ngoài ra, để quy trình sale pipline hiệu quả, hãy giới thiệu các chương trình khuyến mãi (nếu có) cũng như các dịch vụ chăm sóc khách hàng và hậu đãi Đồng thời, bạn hãy tiếp nhận những ý kiến của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của bạn
Bước 5: Giải đáp thắc mắc và thuyết phục khách hàng
Theo tâm lý và hành vi thông thường, khách hàng sẽ đưa ra những ý kiến phản đối khi bạn giới thiệu về sản phẩm Vì hầu hết khách hàng muốn mua được sản phẩm với tốt nhất, với nhiều khuyến mãi kèm theo và giá tốt nhất
Đối phó với tình huống này, nhân viên bán hàng luôn phải giữ thái độ vui vẻ, tiếp thu ý kiến hợp lý của khách hàng và phủ nhận một cách khéo léo những ý kiến không hợp lý Hãy khắc phục những nhược điểm của sản phẩm khiến khách hàng từ chối
Bước 6: Thống nhất và ký hợp đồng bán hàng
Sau khi thuyết phục khách hàng thành công, bước tiếp theo của quy trình bán hàng đó chính là thống nhất và ký kết hợp đồng Nhân viên bán hàng phải có cái nhìn chính xác như lời nói, cử chỉ, những lời nhận xét, ý kiến của khách hàng về sản phẩm
Bước 7: Chăm sóc khách hàng sau bán hàng
Bước cuối cùng trong quy trình bán hàng 7 bước chuyên nghiệp là chăm sóc
khách hàng, đây là một trong những bước rất quan trọng Xây dựng hệ thống chăm
Trang 7sóc khách hàng sẽ giúp bạn củng cố chắc chắn sự hài lòng từ đối tác và duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài, bền vững.
“Khách hàng đến vì thương hiệu, và ở lại vì trải nghiệm”
Tránh tình trạng bỏ rơi khách hàng do nhân viên giao dịch thiếu cập nhật thông tin thường xuyên Đặc biệt, các khách hàng sau giao dịch còn có tiềm năng trở thành kênh quảng cáo tiết kiệm và hiệu quả cao cho bạn và doanh nghiệp của bạn
Trên đây là 7 bước trong quy trình bán hàng chuyên nghiệp – Pro Pipline tại cácdoanh nghiệp ở hầu hết mọi lĩnh vực hiện nay mà nhân viên bán hàng cần nắm được
Bước 8: Đánh giá lại quy trình bán hàng
Sau khi thực hiện 7 bước trên, các nhà quản trị cần đánh giá hiệu quả của quy trình bán hàng
Nếu quy trình bán hàng này không đem lại hiệu quả thì cần cải tiến các bước trong quy trình trên Kiểm tra từng bước trong quy trình trên có vấn đề gì hay không?
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị bán hàng của doanh nghiệp
Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô
Sự ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô gồm các yếu tố: môi trường kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp, dân số, khoa học công nghệ Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô mang tính gián tiếp song lại rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng của DN mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ DN Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và việc bán hàng sẽ thuận lợi ngược lại khi môi trường kinh tế khó khăn đặc biệt là khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêuthụ sản phẩm và đòi hỏi những nỗ lực lớn trong hoạt động bán hàng Ảnh hưởng từ môi trường luật pháp có thể làm tăng hoặc giảm mức độ cạnh tranh hay sự phát triển khoa học công nghệ kéo theo những hình thức bán hàng mới ra đời buộc các công ty phải có những thay đổi lớn trong quản trị bán hàng nếu không muốn trở nên lạc hậu vàkém cạnh tranh so với đối thủ
Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập kéo theo đó là những thay đổi lớn về môi trường kinh tế, luật pháp, khoa học kỹ thuật Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng lớntới các doanh nghiệp cũng như trong hoạt động bán hàng Việc theo dõi phân tích ảnh
Trang 8hưởng từ môi trường vĩ mô không chỉ giúp các doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi mà còn nhận ra nhiều cơ hội phát triển và mở rộng kinh doanh.
Ảnh hưởng từ môi trường vi mô
Nếu môi trường vĩ mô ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động quản trị bán hàng thì môi trường vi mô lại ảnh hưởng trực tiếp, liên tục và thường xuyên đòi hỏi công ty luôn chủ động đối phó Những yếu tố từ môi trường vi mô ảnh hưởng rõ nét nhất là các yếutố:
Sự cạnh tranh gay gắt từ cách đối thủ cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động bán hàng Các đối thủ cạnh tranh luôn xây dựng những chiến lược bán hàng mới nhằm mở rộng thị trường thậm chí là lôi kéo khách hàng của công ty Điều này ảnh hưởng rất lớn và
đe dọa tới thị trường và khách hàng của DN
Ngày nay sức mạnh của khách hàng ngày càng tăng đây là một điều dễ thấy khi mà thịtrường đang cạnh tranh khốc liệt với nhiều người bán và thị trường hạn chế Điều này
sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty đặc biệt là trong việcquản trị bán hàng Nhà quản trị sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng cũng như đảm bảo lợi ích của công ty đồng thời phải tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ
Đây là những yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất tới hoạt động bán hàng của công ty Bên cạnh đó còn một số yếu tố cũng ảnh hưởng không nhỏ như: ảnh hưởng từ sức mạnh nhà cung cấp làm cho giá sản phẩm trở nên cao hơn, những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩnsẵn sàng cạnh tranh với nguồn lực và công nghệ được chuẩn bị tốt… Sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường vi mô đòi hỏi công ty không ngừng đổi mới và hoàn thiện trong hoạt động bán hàng, theo sát thị trường và chủ động đối phó nhằm bảo vệ thị trường và phát triển lâu dài
Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ
Môi trường nội bộ doanh nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng, có một số nhân tố chủ yếu sau:
Trang 9Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của DN: Tác động mạnh mẽ đến công tác quản trị bán hàng Doanh nghiệp không phải lúc nào cũng mở rộng quy mô, hay có những chiến lược phát triển kinh doanh để lại hiệu quả Chính mục tiêu và chiến lược quyết định hướng phát triển của DN Từ đó, nó đặt ra những yêu cầu cho bộ phận bán hàng trong thời gian tới và cũng như quyết định hình thức, các chiến lược bán hàng, kinh phí quảng bá sản phẩm…
Trình độ của đội ngũ quản trị bán hàng: Trình độ của đội ngũ quản trị bán hàng là một phần quyết định đến hiệu quả quản trị bán hàng Nếu tổ chức có đội ngũ quản trị bán hàng chất lượng kém thì hoạt động bán hàng sẽ gặp khó khăn ngay từ ban đầu Nhà quản trị kém sẽ lên kế hoạch bán hàng không hợp lý; tuyển dụng không đúng người hay đánh giá không chính xác Ngược lại một đội ngũ phụ trách mảng bán hàng có trình độ, có kinh nghiệm và linh hoạt sẽ giúp DN có hiệu quả bán hàng cao nhất Các nguồn lực của DN: Tài chính, tài sản, uy tín của DN trên thị trường,…sẽ quyết định hướng mà DN định đầu tư cho công tác bán hàng Đồng thời, nó cũng sẽ quyết định hình ảnh của DN trong khách hàng Nếu DN có uy tín, có nhiều kinh phí cho quảng bá sản phẩm thì sản phẩm được biết đến nhiều hơn, hoạt động bán hàng cũng như quản trị bán hàng cũng thuận lợi hơn
Khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường: Một DN có uy tín và vị thế trên thị trường, có khả năng cạnh tranh cao sẽ quản trị bán hàng dễ dàng hơn các DN khác Ngược lại, một DN còn non trẻ, sức cạnh tranh kém, nguồn tài chính có hạn sẽ gặp nhiều vấn đề hơn trong quá trình hoạch định, ra chiến lược và thực hiện các hoạt động quản trị bán hàng
Trang 10Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ BÁN HÀNG TẠI TNHH
MTV TMHABECO 2.1 Giới thiệu chung về công ty
2.2.1 Qúa trình hình thành, phát triển
Tiền thân của Tổng công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội là Nhà máy bia Hommel được người Pháp xây dựng từ năm 1890, là khởi đầu cho một dòng chảy nhỏ bé cùng song hành với những thăng trầm của Thăng Long - Hà Nội Ngày
15/8/1958, trong không khí cả nước sôi sục chào mừng kỷ niệm 13 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bốn năm Thủ
đô hoàn toàn giải phóng; chai bia Việt Nam đầu tiên mang nhãn hiệu Trúc Bạch ra đờitrong niềm vui xúc động lớn lao của cán bộ công nhân viên Nhà máy
Một sản phẩm khẳng định quyền làm chủ của người lao động, phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội trong giai đoạn khôi phục và phát triển Từ cột mốc này, Nhà máy bướcvào thời kỳ mới – thời kỳ khẳng định thương hiệu của ngành Công nghiệp nước ta nóichung và ngành Đồ uống nói riêng, là niềm tự hào của Hà Nội và cả nước Từ đó trở
đi, ngày 15/8 hàng năm được chọn là Ngày truyền thống của Bia Hà Nội
Ngày 6/5/2003, Bộ trường Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) có Quyết định
số 75/2003/QĐ-BCN thành lập Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (viết tắt là HABECO) Từ ngày 16/6/2008, Tổng công ty chính thức chuyển đổi mô hình tổ chức từ một Tổng Công ty Nhà nước sang Tổng Công ty Cổ phần Đây là bước ngoặt quan trọng để Bia Hà Nội khẳng định vị thế của mình trong giai đoạn hội nhập
Trải qua gần 130 năm lịch sử với hơn nửa thế kỷ khôi phục và phát triển, đến nay, Habeco đã trở thành một trong các doanh nghiệp hàng đầu của ngành Đồ uống Việt Nam
Những dòng sản phẩm nổi tiếng làm nên thương hiệu Habeco như Bia hơi Hà Nội, Bialon Hà Nội, Bia Trúc Bạch, Hanoi Beer Premium… đã nhận được sự tin yêu của
Trang 11người tiêu dùng về cả chất lượng và phong cách, chinh phục những người sành bia trong và ngoài nước.
Với bí quyết công nghệ - truyền thống trăm năm, cùng hệ thống thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên lành nghề, có trình độ, tâm huyết, các sản phẩm của
HABECO đã nhận được sự mến mộ của hàng triệu người tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế Thương hiệu BIA HÀ NỘI ngày hôm nay được xây dựng, kết tinh từ nhiều thế hệ, là niềm tin của người tiêu dùng, niềm tự hào của thương hiệu Việt.Với sức vươn lên mạnh mẽ của một cây đại thụ trong ngành nước giải khát Việt Nam, các sản phẩm của HABECO được phân phối rộng rãi tới không chỉ ở thị trường trong nước mà cả tại các thị trường nước ngoài như Đài Loan, Hàn Quốc, Anh, Đức, Mỹ, Australia, cùng nhiều quốc gia khác trên thế giới
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ cấu lao động
Cơ cấu tổ chức chung của Công ty là toàn bộ các bộ phận cấu thành nên công ty , mỗi
bộ phận đảm nhận một chức năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là đảm bảo và tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vì vậy giữa các
bộ phận có mối quan hệ ràng buộc với nhau
Trang 12Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Phòng Tổng hợp
Phòng
TC-KT
Phòng kinh doanh CN HưngYên CN NamĐịnh CN NghệAn
Hệ thống
bán lẻ Kho ThạchThất
Kho Mê Linh Kho Thanh
Trang 13Nội dung Số lượng( người) Độ tuổi trung
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công Ty
Hoạt động chính của Công ty bao gồm :
- Kinh doanh các loại : bia , rượu , cồn , nước giải khát , vật tư , nguyên liệu , thiết bị ,phụ tùng có liên quan đến ngành sản xuất bia , rượu , nước giải khát ; các loại hương liệu , nước cốt để sản xuất bia , rượu , nước giải khát
- Dịch vụ tổ chức hội chợ , triển lãm , quảng cáo và dịch vụ phục vụ ngành quảng cáo - Cung cấp thông tin thương mại ( trừ thông tin Nhà nước cấm ) - Đại lý mua , đại lý bán , ký gửi hàng hóa