Trong những năm gần đây, sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Nhận thấy được tình hình và muốn tìm hiểu sâu về bảo hiểu nhân thọ em đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu “ Tình hình phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Quy trình nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ”
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI
VIỆT NAM QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trongbài tiểu luận có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiêncứu trong dự án do tôi tự tìm hiều, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợpvới tình hình thực tế hiện nay
Hưng Yên, Ngày … tháng … năm ………
Người cam đoan
Hà Lưu Thị Thu Hà
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN I MỞ ĐẦU 4
1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu 4
1.2 Mục tiêu của chuyên đề nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu chuyên đề 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu chuyên đề 5
1.5 Kết cấu của chuyên đề 5
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
2.1 Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ 6
2.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ 6
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại BHNT 7
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường BHNT 9
2.2 Tình hình phát triển BHNT tại Việt Nam 10
2.2.1 Một vài nét về thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam 10
2.2.2.Sự phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 12
2.3 Quy trình nghiệp vụ của BHNT 16
2.3.1 Quy trình thẩm định rủi ro 17
2.3.2 Quy trình giám định và trả tiền bảo hiểm 21
2.4 Đánh giá chung về vấn đề nghiên cứu 25
2.4.1 Tích cực 25
2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 28
2.5 Giải pháp của vấn đề nghiên cứu 31
PHẦN III: KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu
Trang 4Đã từ rất lâu, con người coi bảo hiểm nhân thọ là một trong những biện pháp hữu hiệunhất để bảo vệ họ và gia đình họ trong mọi khó khăn biến cố của cuộc sống Bảo hiểmnhân thọ không chỉ mang lại sự ổn định về tài chính và tinh thần cho mỗi cá nhân mà cònđem lại sự an toàn chung cho toàn xã hội Xã hội ngày càng phát triển, đời sống conngười càng được nâng cao thì họ càng có nhu cầu, có điều kiện để chăm sóc cho bảnthân, gia đình và họ càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn trong mọi biến cố, rủi ro cóthể sảy ra trong đời sống của họ Chính vì lẽ đó mà bảo hiểm nhân thọ ngày càng được
mở rộng và phát triển Trong những năm gần đây, con người Việt Nam đã nhận thức tốthơn vai trò của bảo hiểm nhân thọ Và thị trường bảo hiểm nhân thọ đã được mở rộnghơn và sôi động hơn khi có các công ty nước ngoài kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.Các công ty trong nước đang phải cạnh tranh gay gắt với nhau và với các doanh nghiệp,công ty bảo hiểm nước ngoài để tăng thị phần của mình bằng các biện pháp khác nhau:như đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới đại lý, hoànthiện sản phẩm, hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng
Trong những năm gần đây, sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đã có nhữngbước tiến đáng kể Nhận thấy được tình hình và muốn tìm hiểu sâu về bảo hiểu nhân thọ
em đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu “ Tình hình phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Quy trình nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ”
1.2 Mục tiêu của chuyên đề nghiên cứu
- Tìm hiểu và nêu rõ quá trình phát triển của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
- Đưa ra quy trình nghiệp vụ của bảo hiểm nhân thọ
1.3 Đối tượng nghiên cứu chuyên đề
- Các vấn đề liên quan bảo hiểm nhân thọ
- Thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu chuyên đề
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: nhằm làm rõ lý luận cơ bản vềchính sách BHXH của Đảng và Nhà nước
- Phương pháp điều tra, thống kê: để cập nhật số liệu phục vụ nội dung nghiên cứu
Trang 5- Phương pháp so sánh: để chỉ sự biển động của nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích: nhằm chi ra thực trạng, mặt tích cực, tồn tại, nguyên nhân
1.5 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mục lục, tài liệu tham khảo kết cấu của chuyên đề bao gồm 03 phần chính:
2.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ
Đối tượng tham gia của Bảo hiểm nhân thọ là rất rộng và không có giới hạn Nó bao gồmmọi người, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội Lịch sử ra đời của Bảo
Trang 6hiểm nhân thọ cũng rất sớm, cho đến nay nó đã được triển khai ở hầu hết các quốc giatrên thế giới Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1583, docông dân London là ông William Gybbon tham gia Phí bảo hiểm ông đóng lúc đó là 32bảng Anh, khi ông chết năm đó người thừa kế của ông đợc hởng 400 bảng Anh Năm
1759 công ty bảo hiểm ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ) Công ty này cho đến nay vẫncòn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán bh cho các con chiên ở nhà thờ của mình Năm
1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable ở nớc Anh đợc thành lập và bán bảo hiểmnhân thọ cho mọi ngời dân Ở Châu Á, các công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ởNhật Bản Năm 1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889,hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay Các nước Xãhội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiểm nhân thọ ởLiên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar Việt Nam trước đây công ty bảo hiểm Hưng-Việt ra đời vào năm 1958 đã tiến hành kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vào năm 1973 Xétmột cách tổng thể thì trên thế giới, BHNT là loại hình bh phát triển nhất, năm 1985 doanhthu phí BHNT mới chỉ đạt 630,5 tỷ USD, năm 1989 đã lên tới 1210,2 tỷ USD và năm
1993 con số này đã lên tới 1647 tỷ USD, chiếm gần 48% tổng phí bh Hiện nay có 5 thịtrờng BHNT lớn nhất thế giới đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp
Sở dĩ BHNT phát triển rất nhanh doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng bởi vì loại hìnhbảo hiểm này có vai trò rất lớn Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không chỉ thể hiện trongtừng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớtkhó khăn về tài chính khi gặp các rủi ro, mà còn thể hiện trên phạm vi toàn xã hội Trênphạm vi xã hội, bảo hiểm nhân thọ góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, huy độngvốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư Nguồn vốn nàykhông chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn mà còn góp phần thực hành tiết kiệm chống lạmphát và tạo công ăn việc làm cho người lao động
Tại Việt Nam, Bảo hiểm nhân thọ chính thức được triển khai từ tháng 8 năm 1996 còntrước đó chỉ là những dự án thí điểm Mặc dù Nhà nước cố gắng đầu tư để phát triển lĩnhvực này trong một thời gian nhất định, giúp các nhà Bảo hiểm trong nước về mặt tài
Trang 7chính, con người và trách nhiệm Nhưng do sức ép quá lớn năm 1999, chúng ta phải mởcửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân thọ cho phép 4 công tylớn vào Việt Nam Và cho đến nay thì thị trờng Bảo hiểm nhân thọ có thể nói là sôi động
và phát triển nhất trong lĩnh vực Bảo hiểm với số thu phí tăng nhanh Bên cạnh đó là thịtrường tiềm năng lớn với số dân đông Và có thể khẳng định chỉ một vài năm tới thì thịtrường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam không thua kém gì thị trường Bảo hiểm nhân thọcủa các nước trong khu vực và thế giới
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại BHNT
2.1.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: Bảohiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm màtrong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm) chongười tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước còn người tham gia
bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn Ví dụ: bảo hiểm sức
khỏe…
2.1.2.2 Đặc điểm
Bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho người được bảo hiểm sống hoặcchết Chính vì vậy mà bảo hiểm nhân thọ mang những đặc điểm cơ bản sau
Thứ nhất, tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe con người không xác định được giá trị.
Thứ hai, sự kiện bảo hiểm không không hoàn toàn gắn liền với rủi ro.
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định
mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụhưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm
Thứ ba, chỉ công ty bảo hiểm nhân thọ mới được cung cấp Bảo hiểm nhân thọ là bảo
hiểm con người đây là thuộc tính cơ bản nhất của bảo hiểm thọ các loại bảo hiểm khác
không khác Ví dụ: bạn tham gia bảo hiểm tính mạng, sức khỏe thì bạn phải đóng phí khi
Trang 8tham gia bảo hiểm Trong khoản thời gian tham gia bảo hiểm nếu bạn gặp rủi ro như tainạn thì bạn sẽ được bên bảo hiểm chi trả các chi phí phát sinh trong việc gặp rủi ro này.
Thứ tư, đây là loại hợp đồng dài hạn và thường mang tính tiết kiệm.
Thứ năm, bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng với các điều khoản mẫu nên yêu cầu rất cao
về tính linh hoạt và tính minh bạch
2.1.2.3 Phân loại BHNT
– Căn cứ vào phạm vi bảo hiểm:
+ Bảo hiểm sinh kỳ: khi người bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được quy định tronghợp đồng công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm
+ Bảo hiểm tử kỳ: khi người bảo hiểm chết trong thời gian được quy định trong hợpđồng, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm
+ Bảo hiểm trọn đời: sự kiện bảo hiểm là người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểmnào trong suốt cuộc đời người đó
+ Bảo hiểm liên kết đầu tư: phí bảo hiểm đồng thời là khoản đầu tư của người tham giabảo hiểm
– Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm: căn cứ vào đối tượng này thì có bảo hiểm cá
nhân và bảo hiểm nhóm
– Căn cứ vào lợi ích của khách hàng:
+ Bảo hiểm rủi ro đơn thuần: Loại bảo hiểm này có khoản phí thấp, được bảo vệ ở mức
cao
+ Sản phẩm rủi ro kết hợp với tích lỹ: loại bảo hiểm này thì khoản phí bảo hiểm cònmang tính chất của tiền gửi định giá
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường BHNT
Về mặt lý luận và thực tiễn ,ngời ta coi thị trợng Bảo hiểm nhân thọ là một tổng thể Nêncác nhân tố ảnh hởng nên thị trường này rất phong phú và đa dạng Để đạt được hiệu quả
Trang 9cao trong việc nghiên cứu thị trường Bảo hiểm nhân thọ , cần phải phân loại các nhân tốtrên các góc độ thích hợp
-Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực và thị trờng có thể phân thành các nhân tố kinh
tế ,chính trị –xã hội , tâm sinh lý
+ Các nhân tố kinh tế : Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với thị trờngBảo hiểm nhân thọ Bởi vì nếu một nước có nền kinh tế phát triển , thu nhập của ngờidân đợc nâng cao, lúc đó ngời ta mới nghĩ đến các hình thức tiết kiệm và các hình thứckhác để đảm bảo cuộc sống và đây là điều kiện để họ tìm đến các sản phẩm Bảo hiểmnhân thọ với mục đích góp phần làm ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn về tài chínhkhi gặp các rủi ro , đảm bảo cho con cái có thể đi học, có nguồn thu nhập khi về già Vàthực tế cũng cho thấy hầu hết các nớc có nền kinh tế phát triển là những nước có nền kinh
tế phát triển cụ thể là 5 thị trờng Bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới hiện nay là : Mỹ ,Nhật , Đức , Anh và Pháp
+ Các nhân tố chính trị – xã hội : Các nhân tố này ảnh hởng tới thị trờng Bảo hiểm nhânthọ thông qua các chủ trương chính sách của nhà nước về chính trị, trình độ văn hoá củanhân dân và cả thói quen của người dân Các chủ trơng chính sách của Nhà nước có thể làchính sách đối nội ,đối ngoại, chính sách mở cửa kinh tế, chính sách hội nhập cácchính sách này có ảnh hởng to lớn tới sự phát triển hay thu hẹp của thị trường Bảo hiểmnhân thọ của nước đó Trình độ văn hoá của ngời dân cũng ảnh hưởng tới nhận thức củangời dân về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng như vai trò của Bảo hiểm nhân thọ đốivới các cá nhân , các gia đình và toàn xã hội
+ Các nhân tố tâm sinh lý : Đây cũng là yếu tố quan trọng bởi vì nếu các doanh nghiệpBảo hiểm nhân thọ cũng như các loại hình Bảo hiểm nhân thọ , tạo ra được liềm tin , tạo
ra được cảm giác an toàn cho ngời tham gia Bảo hiểm thì sẽ dẫn tới các quyết định muacủa khách hàng
*Ngoài ra còn có sự tác động của các cấp quản lý đến thị trường Bảo hiểm nhân thọ nhưcác nhân tố quản lý vĩ mô,các nhân tố quản lý vi mô
Trang 10+ Các nhân tố quản lý vĩ mô : Như các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế, cácchính sách về pháp luật, các chính sách thuế, lãi suất tín dụng Các nhân tố này tạo nênmôi trờng kinh doanh cho các doanh nghiệp Và các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọcũng như các doanh nghiệp khác muốn làm ăn có hiệu quả, con đường quan trọng nhất làphải vận dụng một cách thích hợp các nhân tố này
+ Các nhân tố vi mô là các công cụ để quản lý các doanh nghiệp nhằm tạo ra các sảnphẩm Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng cao và giá cả phù hợp, đáp ứng nhu cầu củakhách hàng một cách tốt nhất dẫn tới mở rộng thị truờng của doanh nghiệp Bảo hiểmnhân thọ
2.2 Tình hình phát triển BHNT tại Việt Nam
2.2.1 Một vài nét về thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam đã chính thức thực hiện chính sách “Đổi mới”, với trọngtâm là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước Chính sách đổi mới đã thực sự có tác động tích cực đối với toàn
bộ đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đem lại sự ổn định và tăng trưởng kinh tế cao,đời sống người dân được cải thiện Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong
10 năm qua đạt trên 7% và trong năm 2007 đạt 8,5%; thu nhập bình quân theo đầu ngườităng từ 423 đô la Mỹ năm 2001 lên 835 đô la Mỹ năm 2007; lạm phát được kiềm chế vàkiểm soát; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 32% năm 2000 và còn14,7% vào năm 2007 Tăng trưởng kinh tế cùng với việc xoá bỏ dần cơ chế bao cấp đãthúc đẩy nhu cầu và sự ra đời của thị trường bảo hiểm nhân thọ của người dân Việt Nam.Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc Bộ Tàichính cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ Đáp lại yêu cầu của quátrình mở cửa và hội nhập cũng như yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo hiểm nhânthọ Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép hoạt động cho cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy phép cho 3 doanhnghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh - CMG - nay là Daiichi Life), sau đó là AIA(năm 2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life Đến nay trên thị
Trang 11trường đã có 09 doanh nghiệp hoạt động và theo dự báo sẽ có thêm nhiều doanh nghiệpbảo hiểm nhân thọ được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian tới.
Với sự gia nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, thị trường bảohiểm nhân thọ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, sản phẩm, chấtlượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp Có thể kể ra những con số và thông tin đáng chú ýsau:
- Về khai thác mới: nếu như năm 1996 doanh thu phí khai thác mới của toàn thị trườngchưa đầy 1 tỷ đồng thì đến năm 2003 con số này là 2.050 tỷ đồng (bằng 0,61% GDP) vànăm 2007 ước đạt 1.815 tỷ đồng (bằng 0,16 % GDP) Xin lưu ý, trong giai đoạn từ 2004đến 2006, thị trường bước vào giai đoạn suy giảm và đã có dấu hiệu hồi phục từ năm2007
- Tổng doanh thu phí bảo hiểm: năm 2003 tổng doanh thu phí của toàn thị trường đạt6.442 tỷ đồng (bằng 1,92% GDP) và năm 2007 đạt 9.485 tỷ đồng (bằng 2,06% GDP).Chính từ nguồn phí bảo hiểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ đã cung cấp một lượng vốnlớn cho nền kinh tế
- Tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2007: 3.834 nghìn hợp đồngchính (bằng khoảng 4,5% dân số)
- Về kênh phân phối đại lý: thị trường đã tạo việc làm cho nhiều người lao động Tổng sốđại lý tại cuối năm 2007 là 70.000 người
- Về sản phẩm: Đến nay, thị trường đã cung cấp cho công chúng hầu hết các dòng sảnphẩm từ sản phẩm truyền thống đến bảo hiểm liên kết chung (universal life) và gần đây làbảo hiểm liên kết đơn vị (unit linked)
Sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng là một nhân tố thúc đẩy sựhình thành và phát triển của khung pháp lý cho thị trường bảo hiểm nói chung và bảohiểm nhân thọ nói riêng, đánh dấu bằng sự ra đời của Luật kinh doanh bảo hiểm đầu tiêncủa Việt Nam vào năm 2000
2.2.2.Sự phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Tháng 8/1996 đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ ViệtNam ,và tháng 6/2020 vừa qua là sinh nhật lần thứ 24 của thị trường Nhìn một cách tổng
Trang 12thể qua những năm hoạt động của thị trờng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có những nétnổi bật sau đây
2.2.2.1.Thị trường sôi động , cạnh tranh ngày càng gay gắt và toàn diện
Từ tháng 8/1996 đến giữa năm 1999 chỉ có Bảo Việt “Một mình một chợ “ ,đến nay thịtrờng đã có 5 doanh nghi ệp : Bảo việt, Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA
Từ khi có sự góp mặt thêm của 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – những têntuổi lớn, đã có kinh nghiệm hoạt động ở nước ngoài kèm theo cơ chế tài chính ,thù laolinh hoạt, thị trường sôi động cạnh tranh ngay càng toàn diện và phát triển với tốc độ cao.Tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt ,có thể thấy rõ ở các thị trường lớn như Hà Nội,Thành Phố HCM, Hải Phòng,Đà Nẵng sự cạnh tranh thể hiện trên tất cả các mặt nhưthu hút khách hàng , thu hút đại lý (chính sách thù lao) , sản phẩm, dịch vụ, địa bàn hoạtđộng, quảng cáo , khuyến mại Nếu như mới hoạt động Manulife,Prudential và AIAchỉ tập trung triển khai ỏ hai đia bàn là Hà Nội, Thành Phố HCM và chủ yếu hướng vàokhách hàng có thu nhập trung bình khá trở lên , thì đến nay các công ty này đã tích cực
mở rộng phạm vi hoạt động sang các địa bàn còn lại và hướng tới các khách hàng có thunhập trung bình, đến thời điểm này các đều lấy mục tiêu tăng trưởng, mở rộng thị trường
là mục tiêu hàng đầu Xét về mặt tích cực ,cạnh tranh thực sự trở thành một nhân tố quantrọng thúc đẩy thị trường phát triển Chính nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của các doanhnghiệp, đã giúp dân chúng nhận thức rõ hơn về Bảo hiểm nhân thọ, giúp đa dịch vụ Bảohiểm nhân thọ đến tận nhà khách hàng, cũng nhờ cạnh tranh các doanh nghiệp đã nângcao chất lượng phục vụ khách hàng, chất lượng khai thác, đa dạng hoá sản phẩm, đồngthời thúc đẩy điều khoản, quy trình nghi ệp vụ (nh in bản mô tả quyền lợi Bảo hiểm, đánhgiá rủi ro ), bổ sung các dịch vụ tăng giá trị( cho vay phí tự động, cho vay theo hợpđồng, khôi phục hiệu lực hợp đồng ), hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động, trong đóđang chú trọng là mô hình đại lý, chế độ thù lao cho đại lý theo hướng hiệu quả hơn, phùhợp hơn với đặc điểm của kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ Cạnh tranh cũng thôi thúc cácdoanh nghiệp tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nh ứng dụng tin học, đadạng hoá các kênh phân phối Thời gian qua các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ rất tích
Trang 13cực ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào hầu hết các công việc nh phát hành, quản
lý hợp đồng, in hoá đơn, kế toán, thống kê quảng cáo giới thiệu sản phẩm Có thể nhậnđịnh rằng , cùng với chính sách hội nhập của Việt Nam cũng nh việc thực hiện hiệp địnhViệt- Mỹ , trong thời gian tới chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều gơng mặt mới trên thị trờngBảo hiểm nhân thọ Việt Nam làm cho thị trờng thêm sôi động Việc tăng vốn của cácdoanh nghiệp đang đang hoạt động trên thị trờng cũng đã khẳng định điều này
2.2.2.2 Thành công lớn , trưởng thành nhanh
Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được kết quả rất đáng tự hào trên nhiềumặt cụ thể: Tốc độ tăng trởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng Nếu như năm 1996Bảo Việt mới triển khai thí điểm Bảo hiểm nhân thọ tại một số tỉnh thành và đạt đợc kếtquả khá khiêm tốn vơí trên 1200 hợp đồng và doanh thu phí cha đến 1 tỷ đồng thì đếnnăm 2000 doanh thu phí Bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường đã đạt gần 1300 tỷ đồng vàgần 1 triệu hợp đồng có hiệu lực,năm 2001 là năm đáng ghi nhớ nhất của thị trờng Bảohiểm nhân thọ Việt Nam với doanh thu phí đạt 2786 tỷ đồng (tương đương với 0,55%GDP), vợt khá xa so với tổng doanh thu phí Bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trờng ,sốhiệu lực hợp đồng tính đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1,6 triệu hợp đồng (tơng đơng với1,9% dân số ).So với năm 2000,tốc độ tăng doanh thu phí của năm 2001 đạt115,6%,trong đó tốc độ tăng doanh thu phí từ các hợp đồng mới đạt trên 89%.Nếu tính từkhi mới bắt đầu triển khai, tốc độ tăng doanh thu Bảo hiểm nhân thọ bình quân trongnhững năm qua đạt 250%/năm,còn nếu tính từ năm 1999,năm bắt đầu có sự gia nhập củacác doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ khác ngoài Bảo Việt, tốc độ doanh thu phí bìnhquân đạt trên 135%/năm Đây là tốc độ tăng trưởng rất cao phản ánh sự trởng thànhnhanh chóng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Bên cạnh tốc độ tăng trởngdoanh thu phí ,thì chất lượng khai thác cũ đợc nâng nên đáng kể ,biểu hiện qua số tiềnbảo hiểm trung bình trên hợp đồng , số phí bảo hiểm bình quân /hợp đồng ,số phí bảohiểm bình quân trên hợp đồng ngày càng cao , công tác đánh giá rủi ro đợc chú trọng hơn(thông qua việc đánh giá rủi ro sức khoẻ ,tài chính ,mục đích tham gia,quyền lợi có thể
Trang 14đợc bảo hiểm ),tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng của toàn thị trường dưới 6%/năm (thấp hơn rấtnhiều so với các thị trờng khác )
Thiết lập mạng lới kinh doanh phủ khắp toàn quốc,mô hình tổ chức quản lý kinh doanhngày càng đợc hoàn thiện : Thời gian qua ,các doanh nghiệp và điển hình là Bảở Việt đãxây dựng mạng lới cung cấp dịch vụ khắp cả nớc , nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi tầnglớp nhân dân Với mạng lưới phủ khắp các huyện thị và đội ngũ đại lý ,cán bộ khai thácđông đảo ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm ,từ thànhthị tới nông thôn Mô hình tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp ngày càng hoànthiện và hoạt động có hiệu quả ,điển hình là chuyên môn hoá khai thác và thu phí Việcđào tạo cán bộ ,đại lý ngày càng được chú trọng và được xác định là nhân tố quan trọngquyết định dịch vụ cung cấp và thành công của doanh nghiệp
Sản phẩm phong phú đa dạng,khách hàng thuộc nhiều tầng lớp Khi Bảo Việt triển khaithí điểm Bảo hiểm nhân thọ ,chỉ có ba sản phẩm được đa ra thị trờng là Bảo hiểm nhânthọ hỗn hợp thời hạn 5 năm , 10 năm,và an sinh giáo dục Cùng với sự phát triển của thịtrường ,số sản phẩm đa ra thị trường đã tăng nên nhanh tróng,đa dạng và ngày càng đợchoàn thiện Đến nay thị trờng đã có sự hiện diện của tất cả các chủng loại Bảo hiểm nhânthọ truyền thống như hỗn hợp ,sinh kỳ ,tử kỳ ,trọn đời ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọcách tân, các sản phẩm bảo hiểm hu trí ,đồng thời còn nhiều loại sản phẩm bổ trợ khác Với sự đa dạng về chủng loại các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu đa dạng,phong phú và toàn diện của nhân dân về Bảo hiểm nhân thọ
2.2.2.3.Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện
Trong thời gian qua,môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọngày càng được hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh,từng bướcthiết lập và duy trì một thị trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý nhànước đối với lĩnh vực này.Trước hết là sự ra đời của luật khinh doanh Bảo hiểm ,bắt đầu
có hiệu lực từ ngày 1/4/2001,tiếp đó là các nghị định (nghị định số 42/2001/NĐ CPngày1/8/2001 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh Bảo hiểm , Nghị định số
Trang 1543/2001/NĐ- CP ngày1/8/2001quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp Bảo hiểm
và môi giới Bảo hiểm )và thông tư hướng dẫn (Thông tư số 71/2001/TT- BTC ngày28/8/2001 hướng dẫn thi hành nghị định 42/2001 NĐ- CP ngày 1/8/2001 và thông tư số72/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướng dẫn thi hành nghị định 43/2001/NĐ- CP ngày1/8/2001của chính phủ) Tuy vậy đến nay ,hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinhdoanh Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chưa thực sự đồng bộ ,một số quy định cần thiếtcòn thiếu ,một số quy định chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán Bảo hiểmnhân thọ , chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý ,trong thời gian qua Nhà nước còn
có nhiều chính sách ưu đãi , hỗ trợ thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi vềthuế(theo luật thuế giá trị gia tăng ,hiện nay thị trường Bảo hiểm nhân thọ không thuộcdiện chịu thuế)
2.2.2.4 Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ hiệnđang có mặt trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam tính đến thời điểm này hiện đang có 5doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động trong đó có một công ty trong nước vàmột công ty liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài Và sau đay là các sản phẩmBảo hiểm nhân thọ của từng doanh nghiệp
a.Bảo Việt: Các sản phẩm chính:, Bảo hiểm và tiết kiệm trong thời hạn 5 năm,10 năm,Bảo hiểm trọn đời, Bảo hiểm an sinh giáo dục, Niêm kinh nhân thọ Các sản phẩm bổsung: Điều khoản riêng I:Bảo hiểm thơng tật bộ phân,vĩnh viễn do tai nạn, Điều khoảnriêng II:Bảo hiểm chi phí phẫu thuật, Điều khoản riêng III:Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý,Điều khoản riêng IV:Bảo hiểm tử kỳ
b.Prudential: Các sản phẩm chính: Phú trường an, Phú tích luỹ an khang, Phú tích luỹgiáo dục, Phú tích luỹ định kỳ, Phú hoà nhân
Các sản phẩm bổ trợ: Bảo hiểm từ bỏ thu phí, Bảo hiểm chết do tai nạn, Bảo hiểm chết
và tàn tật do tai nạn Các sản phẩm trọn gói: Phú tơng lai:Là sự kết hợp của sản phẩm
Trang 16chính phú tích luỹ với sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm từ bỏ thu phí, Phú bảo gia :Là sự kếthợp của sản phẩm chính phú tích luỹ an khang và sản phảm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ
có kỳ hạnvà sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn, Phú thành đạt:Là sự kếthợp của sản phẩm chính pú tích luỹ định kỳ với sản phẩm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ
có kỳ hạn và sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn
c.Manulife Các sản phẩm chính : Bảo hiểm hỗn hợp 5 năm,10 năm,15 năm, Bảo hiểmgiáo dục hỗn hợp Các sản phẩm bổ sung : Bảo hiểm tử vong và thơng tật do tai nạn,Bảo hiểm trợ cấp y tế
d Bảo Minh – CMG.: Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, Bảo hiểm trẻ em, Bảo hiểm hưu trí Các sản phẩm bổ sung: Bảo hiểm tử kỳ, Bảo hiểm chết và thơng tật do tai nạn, Bảo hiểm
mi ễn phí, Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tật
e AIA: Các sản phẩm chính : Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạn, Bảo hiểm trọnđời, Bảo hiểm giáo dục hỗn hợp
Các sản phẩm bổ sung : Bảo hiểm tử kỳ, Bảo hiểm chết và thơng tật do tai nạn, Bảohiểm miễn phí trong thời hạn thương tật
2.3 Quy trình nghiệp vụ của BHNT
Một quy trình nghiệp vụ BHNT bao gồm hai quy trình chính là khai thác và quy trìnhgiám định và trả tiền bảo hiểm Quy trình khai thác trong đó bao gồm các hoạt động từtìm kiếm thị trường, nhận giấy yêu cầu, thẩm định rủi ro, đến phát hành và chuyển giaohợp đồng bảo hiểm.Trong đó việc thực hiện đầu tiên là tìm kiếm khách hàng tiềm năng,
từ đó phân tích nhu cầu của khách hàng để đưa ra các cách tiếp cận, thuyết phục hợplý.Khi một hợp đồng bảo hiểm được kí kết thì cũng cần những chính sách chăm sóc, hậumãi cho khách hàng Một quá trình cũng không kém phần quan trọng trước khi tiến đến
kí kết hợp đồng bảo hiểm là thẩm định rủi ro Đánh giá rủi ro hiệu quả giúp công tyBHNT đảm bảo sự công bằng giữa các chủ hợp đồng, thực hiện phân phối qua các kênhđại lý và đạt được lợi nhuận cho công ty Sau khi ký kết hợp đồng BHNT, khi tình huốngbảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm, công ty BHNT thực hiện quy trình giám
Trang 17định và trả tiền bảo hiểm.Quá trình này được thực hiện nhằm giúp cho các công ty BHNTthực hiện những cam kết đã ghi trong hợp đồngmà vẫn chống được trục lợi bảo hiểm vàkiểm soát được chi phí.
2.3.1 Quy trình thẩm định rủi ro
2.3.1.1 Sự cần thiết của công tác thẩm định rủi ro
Sự thẩm định rủi ro tốt mang lại nhiều lợi ích đáng kể không những cho công ty bảo hiểm
mà còn cho các chủ hợp đồng, người được bảo hiểm và đại lý bảo hiểm
Về phía công ty bảo hiểm: Công tác thẩm định rủi ro tốt giúp công ty bảo hiểm duy trì sựcạnh tranh và sự vững mạnh về tài chính Lợi nhuận của một công ty bảo hiểm về cơ bảnđược xác định qua khả năng kiểm soát các chi phí, đánh giá chính xác mức phí của sảnphẩm bảo hiểm, và khả năng nhận định chính xác trong quá trình thẩm định Quá trìnhthẩm định rủi ro tốt đảm bảo cho công ty bảo hiểm tính toán được mức phí tương ứng vớirủi ro của mỗi người yêu cầu được bảo hiểm Uy tín lớn cùng với khả năng cạnh tranhthành công trên thị trường của công ty bảo hiểm phụ thuộc lớn vào việc công ty đó đượcchuẩn bị tốt như thế nào để thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng đối với ngườiđược bảo hiểm Một công ty BHNT phải đánh giá rủi ro tốt để duy trì sự lớn mạnh củamình Nếu tiêu chuẩn thẩm định của công ty bảo hiểm quá cao sẽ gây khó khăn về thịtrường cho các đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, từ đó sẽ đánh mất doanh thu phítiềm năng và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngược lại, nếu một công tybảo hiểm chấp nhận quá nhiều rủi ro nguy hại hoặc tính toán mức phí bảo hiểm quá thấp
so với mức độ rủi ro được chấp nhận, công ty bảo hiểm đó sẽ không có đủ quỹ để thựchiện các cam kết Trường hợp xấu nhất, nhà bảo hiểm có thể mất khả năng thanh toán vàkhông còn khả năng hoạt động
Về phía người được bảo hiểm: Việc thẩm định rủi ro tốt sẽ hạn chế những trường hợpkhông công bằng.Ví dụ một người có rủi ro tử vong cao và một người có rủi ro tử vongthấp sẽ không thể đóng cùng một mức phí bảo hiểm cho cùng một loại hình và cùng một
số tiền bảo hiểm