1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

9 điểm Trình bày vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội liên hệ thực tiễn tội phạm giết người

48 74 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình Bày Vai Trò Của Nạn Nhân Trong Cơ Chế Hình Thành Hành Vi Phạm Tội Liên Hệ Thực Tiễn Tội Phạm Giết Người
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tội Phạm Học
Thể loại Tiểu Luận
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 340,51 KB
File đính kèm tội phạm học.rar (313 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội phạm được xem là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội,hình thành từ khi có sự phân chia và đối kháng giữa các giai cấp trong xã hội. Nó không những gây ra những tác động tiêu cực đến các yếu tố, hiện tượng khác trong đời sống xã hội mà bản thân nó cũng bị chi phối, ảnh hưởng bởi chính các yếu tố đó. Sự tác động qua lại của các yếu tố này trở thành nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Trong đó, nạn nhân của tội phạm là một trong những yếu tố có tác động đến sự hình thành và phát sinh tội phạm. Một hành vi phạm tội được thực hiện thường có sự tác động, gây thiệt hại đến nạn nhân và ngược lại, nạn nhân trong nhiều tình huống cũng có sự ảnh hưởng nhất định đến việc nảy sinh ý định phạm tội cũng như thực hiện hành vi phạm tội. Nạn nhân có thể làm hạn chế nhưng cũng có thể góp phần thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Chính vì vậy, nhóm chúng em xin lựa chọn đề số 4 “Trình bày vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội? Liên hệ thực tiễn?” để làm Tiểu luận môn Tội phạm học.

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ & BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1 Cơ chế phát sinh hành vi phạm tội 4 Biểu đồ 1 Số vụ tội phạm trộm cắp tài sản và tổng số vụ tội phạm nói chung

trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017 14

Biểu đồ 2 Số người phạm tội trộm cắp tài sản và tổng số người phạm tội nói

chung trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017 15

Biểu đồ 3 Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài

sản trên địa bản tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017 15

Biểu đồ 4 Cơ cấu theo tình huống trở thành nạn nhân trong các vụ án trộm cắp

tài sản trên địa bản tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017 15

Biểu đồ 5 Cơ cấu số vụ án xâm hại tình dục trẻ em trong tổng số những vụ án

xâm hại tình dục nói chung trên toàn quốc năm 2016 19

Biêu đồ 6 Cơ cấu về độ tuổi của trẻ em nữ bị xâm hại tình dục trong tổng số

những vụ án xâm hại tình dục nói chung trên toàn quốc năm 2016 19

Biểu đồ 7 Cơ cấu về số vụ án hiếp dâm trẻ em và giao cấu với trẻ em trong tổng

số những tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trên toàn quốc năm 2016 20

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tội phạm được xem là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội,hình thành

từ khi có sự phân chia và đối kháng giữa các giai cấp trong xã hội Nókhông những gây ra những tác động tiêu cực đến các yếu tố, hiện tượngkhác trong đời sống xã hội mà bản thân nó cũng bị chi phối, ảnh hưởng bởichính các yếu tố đó Sự tác động qua lại của các yếu tố này trở thànhnguyên nhân làm phát sinh tội phạm Trong đó, nạn nhân của tội phạm làmột trong những yếu tố có tác động đến sự hình thành và phát sinh tộiphạm Một hành vi phạm tội được thực hiện thường có sự tác động, gâythiệt hại đến nạn nhân và ngược lại, nạn nhân trong nhiều tình huống cũng

có sự ảnh hưởng nhất định đến việc nảy sinh ý định phạm tội cũng nhưthực hiện hành vi phạm tội Nạn nhân có thể làm hạn chế nhưng cũng cóthể góp phần thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Chính vì vậy,

nhóm chúng em xin lựa chọn đề số 4 “Trình bày vai trò của nạn nhân

trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội? Liên hệ thực tiễn?” để làm

Tiểu luận môn Tội phạm học

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM

1 Khái niệm “nguyên nhân của tội phạm”

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả tự nhiên, xã hội hay tư duy)đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâuthuẫn trong bản thân nó, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồngốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi cái mới ra đời Khôngnằm ngoài quy luật đó, trong mỗi con người đều tồn tại hai mặt đối lập nhau, đó

là “mặt tốt” và “mặt xấu” Vậy nguyên nhân để một người trở thành tội phạm

có phải là do “mặt xấu” lấn át “mặt tốt” hay không? Theo quan điểm của chủ

nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhâna là một phạm trù triết học chỉ sự tácđộng lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây

ra một biến đổi nhất định nào đó1 Dưới góc độ ngôn ngữ học, nguyên nhân

được hiểu là “nhân tố tạo ra kết quả hoặc làm nảy sinh sự việc”2 Hai định nghĩa

này đều chỉ ra nội hàm cơ bản của nguyên nhân, đó chính là các nhân tố tạo ra kết quả nhưng không đề cập đến cơ chế khiến các nhân tố có thể tạo ra được kết

quả; từ đó, xác định vai trò của nguyên nhân trong cơ chế hình thành hành vi

phạm tội là “làm nảy sinh sự việc” Trong pháp luật hình sự Việt Nam, tội phạm được quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình

sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự3 Có thể thấy,tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội không chỉ tác động đến các yếu

tố, hiện tượng khác mà còn chi phối, ảnh hưởng đến ngay cả chính bản thân nó

Sự tác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực bên ngoài môi trường và bên trongcá

1 GS.TS Phạm Văn Đức (Chủ biên): Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Bộ Giáo dục & Đào

tạo, Hà Nội, 2019, tr.94.

2 GS Hoàng Phê (Chủ biên): Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học & Trung tâm Từ điển

học, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003, tr.694.

Trang 5

3 Xem thêm: Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trang 6

nhân người phạm tội đã hình thành nên động cơ phạm tội, nói cách khác là

nguyên nhân làm phát sinh tội phạm.

Triết học Mác - Lênin cho rằng mối quan hệ cặp phạm trù nguyên nhân

và kết quả (mối quan hệ nhân quả) được coi là một mối quan hệ biện chứng giữacác quá trình, hiện tượng xã hội và tự nhiên Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả,còn kết quả là sản phẩm sinh ra từ nguyên nhân, nên nguyên nhân luôn có trướckết quả về mặt thời gian4 Bởi vậy, muốn tìm hiểu nguyên nhân của một hiệntượng, sự việc nào đấy thì cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy

ra trước khi hiện tượng, sự việc đó xuất hiện Thế nên, khi nghiên cứu nguyênnhân của tội phạm, cần phải đặt tội phạm trong hệ thống các hiện tượng và quátrình xã hội để từ đó tìm ra sự tác động, mức độ tác động, tính chất của sự tácđộng, hình thức tác động giữa các hiện tượng và quá trình xã hội với tội phạm

Từ những phân tích trên, nguyên nhân của tội phạm có thể hiểu là “tổng hợp các yếu tố tiêu cực mà sự tác động qua lại giữa chúng đã dẫn đến việc tội phạm được thực hiện”5 Theo đó, các yếu tố tiêu cực được đề cập trong định nghĩatrên có thể là các yếu tố tiêu cực xuất phát từ môi trường sống, từ chính bản thânngười phạm tội, hay là các tình huống cụ thể (xảy ra trong môi trường hoặc xuấtphát từ con người như từ chính bản thân nạn nhân hoặc những người xungquanh) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nguyên nhân của tội phạm là những yếu tốtrực tiếp làm phát sinh tội phạm; còn điều kiện của tội phạm là những yếu tố tuykhông trực tiếp làm phát sinh tội phạm nhưng lại tạo điều kiện cho tội phạm xảy

ra được thuận lợi, hỗ trợ, thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội Về bản chất,điều kiện là những dự kiện, hiện tượng, tình huống, hoàn cảnh nhất định

2 Cơ chế phát sinh hành vi phạm tội

Qua quá trình phân tích ở trên, có thể thấy nghiên cứu nguyên nhân củatội phạm chính là xác định các yếu tố tiêu cực tác động qua lại lẫn nhau và cơ

4 GS.TS Phạm Văn Đức (Chủ biên): Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Bộ Giáo dục & Đào

tạo, Hà Nội, 2019, tr.95.

5 TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Quốc Việt (Đồng chủ biên): Giáo trình Tội phạm học,

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr.101.

Trang 7

chế của việc tác động của các yếu tố này dựa trên việc nghiên cứu về hành viphạm tội của con người, cụ thể là nghiên cứu về cơ chế tâm lý - xã hội của hành

vi Cơ chế của hành vi phạm tội là một hiện tượng động, là sự tác động lẫn nhaunhất định trong các yếu tố cấu thành nó Các yếu tố cá nhân bên trong của cơchế hành vi phạm tội là những quá trình và trạng thái tâm lý được xem xét trongtrạng thái động, không tách rời mà là ở trong sự tác động lẫn nhau với các nhân

tố của môi trường bên ngoài quyết định hành vi đó6

Sơ đồ 1 Cơ chế phát sinh hành vi phạm tội

PSG.TS Đặng Thanh Nga nhận định “hành vi phạm tội phát sinh không phải từ chính môi trường hoặc do chính cá nhân mà nó phát sinh do mối tác động qua lại giữa ra môi trường và cá nhân”7 Dưới góc nhìn tổng quan, tộiphạm không chỉ là một hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - pháp lý màcòn chứa đựng trong nó những đặc tính chống đối lại xã hội Quá trình thực hiện

việc chống đối lại xã hội bắt nguồn từ những đặc điểm tâm lý tiêu cực bên trong chủ thể kết hợp với yếu tố thuận lợi của tình huống tiêu cực từ môi trường bên

6 TS Đỗ Thanh Trường: Một số vấn đề về cơ chế tâm lý - xã hội của hành vi phạm tội cụ thể

và nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm về ma túy, Cổng thông tin điện tử Viện

kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 16/11/2018, ve-co-che-tam-ly -xa-hoi-cua-hanh-v-d12-t7695.html, truy cập ngày 14/3/2021.

Trang 8

https://vksndtc.gov.vn/thong-tin/mot-so-van-de-7 PGS.TS Đặng Thanh Nga (Chủ biên): Giáo trình Tâm lý học tư pháp, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2019, tr.114.

Trang 9

ngoài đã thúc đẩy, điều khiển hành vi của cá nhân ra ngoài xã hội trở thành hành

vi phạm tội với một cơ chế tâm lý - xã hội gồm ba khâu cơ bản như sau:

Khâu thứ nhất, hình thành ý định phạm tội: Đây là một quá trình

tâm lý, hoàn toàn diễn ra trong ý thức chủ quan của người phạm tội, thể hiện một

sự thôi thúc phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi một xử sự nào đónhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của cá nhân Ý định phạm tội chỉ có thể đượchình thành khi có sự tương tác giữa những đặc điểm của cá nhân người phạm tội

với môi trường tiêu cực xung quanh để tạo ra những phẩm chất tâm lý tiêu cực.

Tuy nhiên, không phải cá nhân nào có những phẩm chất tâm lý tiêu cực đều tấtyếu nảy sinh ý định phạm tội Chỉ khi những phẩm chất tiêu cực của con ngườigặp những tình huống tiêu cực cụ thể (thường là những tình huống đòi hỏi conngười phải lựa chọn những sự cụ thể) và có sự tác động qua lại giữa chúng thìmới phát sinh ý định phạm tội Ví dụ, nếu cùng sống trong một gia đình bạo lực,coi thường pháp luật, đạo lý xã hội thì người có tính tình ngang bướng, hiếuthắng thường sẽ dễ có khả năng hình thành ý định phạm tội hơn so với ngườitrầm tĩnh khi gặp phải yếu tố tình huống như va chạm giao thông hay đánh nhau

Khâu thứ hai, kế hoạch hóa việc phạm tội (quyết định thực hiện tội phạm): Chủ thể sau khi hình thành ý định phạm tội thường sẽ suy nghĩ, cân

nhắc và đi đến một trong quyết định: (i) Hủy bỏ ý định phạm tội; (ii) Tiếp tụcthực hiện ý định phạm tội Trường hợp phẩm chất tâm lý tiêu cực ở mức độchưa nghiêm trọng gặp tình huống cụ thể ít tiêu cực, cá nhân sẽ tính toán kỹlưỡng, từ bỏ ý định phạm tội và lựa chọn cách cư xử khác phù hợp với đạo đức

xã hội, không trái với pháp luật Ngược lại, nếu phẩm chất tâm lý tiêu cực tácđộng qua lại với tình huống cụ thể quá tiêu cực thì sẽ khiến cho chủ thể quyếtđịnh kế hoạch hóa việc phạm tội của mình Quá trình này được hiểu là sự cụ thểhóa ý định phạm tội vào kế hoạch thực hiện hành vi phạm tội, thông qua việcchủ thể xác định các mục đích cũng như cách thức, thủ đoạn, địa điểm, thời gian

và có các quyết định thích hợp để thực hiện tội phạm dễ dàng hơn Ví dụ: Đốivới tội phạm giết người, trước khi thực hiện, người phạm tội thường tìm hiểu rõquy luật đi lại, sinh hoạt của nạn nhân, lựa chọn thời gian thích hợp cũng nhưcác phương tiện, công cụ để thực hiện hành vi phạm tội như dao, kéo, mã tấu,…

Trang 10

Khâu thứ ba, thực hiện hành vi phạm tội: Đây là khâu cuối cùng và

quan trọng nhất trong cơ chế hành vi phạm tội, bởi nó trực tiếp thực hiện tộiphạm (hành động hoặc không hành động) và biểu hiện ra bên ngoài mức độ của

ý định phạm tội đầy đủ và rõ ràng nhất Trên cơ sở của chuẩn bị, tính toán kỹlưỡng kế hoạch thực hiện hành vi phạm tội, với phẩm chất tâm lý cực đáng kể

và tình huống cụ thể tiêu cực đã kích động khiến chủ thể trực tiếp thực hiệnhành vi phạm tội tới cùng Tuy nhiên, nếu cá nhân với phẩm chất tâm lý tiêu cực

ở mức độ không đáng kể, trong tình huống tiêu cực nhưng vẫn có thể kiềm chế,cân nhắc suy nghĩ thì dù có ý định thực hiện hành vi phạm tội nhưng cá nhân cóthể tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điển hình, vụ án anh trai truy sát cảnhà em ruột ở huyện Đan Phượng (Hà Nội) chỉ vì mâu thuẫn đất đai vào năm

2019, khiến bốn người tử vong và một người bị thương Đối với người kiềm chế,trầm tính, thương yêu gia đình nếu đặt trong cùng tình huống này thì sẽ có cách

cư xử khác phù hợp hơn như khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp

Có thể thấy, cơ chế tâm lý - xã hội của hành vi phạm tội luôn diễn ratheo một trình tự nhất định, cụ thể và chặt chẽ, khâu trước là cơ sở, là tiền đềcủa khâu sau Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi phạm tội nào cũng phải trảiqua đủ ba khâu này mà còn phụ thuộc vào hành vi phạm tội trên thực tế, lỗi củachủ thể, hay là sự phát triển của hoạt động phạm tội Ví dụ, đối với một số vụcướp giật tài sản, cá nhân với tâm lý tiêu cực, gặp tình huống thuận lợi như chủtài sản sở hở, là nữ giới hoặc người già đi lại ở khu vực vắng vẻ, khiến cá nhânnày nảy sinh ý định và thực hiện ngay hành vi cướp giật mà không cần phải lên

kế hoạch trước Qua đây, cần lưu ý một số vấn đề sau đây: (i) Không phải aihình thành phẩm chất tâm lý tiêu cực cũng đều dẫn đến việc hình thành tội phạm.Việc phát sinh tội phạm là sự kết hợp từ nhiều nguyên nhân phát sinh; (ii) Người

có “phẩm chất tâm lý tiêu cực” sẽ khó có thể vượt qua những tác động xấu của

môi trường, sự cám dỗ, khó kiềm chế bản thân hơn; (iii) Những người vốn cóbản tính hiền lành, được giáo dục cẩn thận (không hình thành nhân cách, phẩmchất tâm lý tiêu cực) nhưng trong một tình huống tiêu cực cụ thể thì vẫn có thểthực hiện hành vi phạm tội, nên ai cũng có thể thực hiện tội phạm

Trang 11

3 Phân loại nguyên nhân của tội phạm

Thứ nhất, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, có thể chia nguyên nhân

của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ các yếu tố thuộc môi trường và nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố thuộc bản thân người phạm tội.

- Nguyên nhân bắt nguồn từ các yếu tố thuộc môi trường là tổng hợpcác nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường vi mô hoặc môi trường vĩ

mô của con người, có tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở một mức độ nhất địnhlàm phát sinh tội phạm Ví dụ: Gia đình không hoàn thiện, nơi cư trú có nhiều tệnạn xã hội, trường không nghiêm, giáo dục học sinh yếu kém,…

- Nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố của bản thân người phạm tội làtổng hợp các nhân tố tiêu cực hình thành trong chính nội tại, thuộc về nhân thânngười phạm tội mà những nhân tố này có thể tác động, ảnh hưởng và dẫn đếnlàm phát sinh tội phạm của người phạm tội Những nhân tố tiêu cực này có thể

là các nhân tố thuộc tâm sinh lý, xã hội - nghề nghiệp của người phạm tội Vềđặc điểm sinh học, nạn nhân thường rơi vào nhóm người chưa thành niên, ngườigià, phụ nữ,… Đặc điểm xã hội thì dấu hiệu nghề nghiệp, vị trí xã hội, hoàncảnh kinh tế của nạn nhân như giết người vì lý do công vụ của nạn nhân, khủng

bố, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Về tâm lí thì sự dễ dãi, cả tin trong quan hệ

xã hội, hám lợi tạo điều kiện cho các tội như lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm

Thứ hai, căn cứ vào hình thức tác động của nguyên nhân tới tội phạm,

có thể phân chia thành nguyên nhân thứ yếu và nguyên nhân chủ yếu Nếu

nguyên nhân chủ yếu là tổng hợp các yếu tố đóng vai trò chủ chốt, trực tiếp làmphát sinh tội phạm, thì nguyên nhân thứ yếu là những nguyên nhân chỉ góp phầnlàm phát sinh tội phạm Ví dụ, do lợi nhuận từ việc buôn bán nội tạng rất caonên đối tượng A đã lừa gạt, dụ dỗ, bắt cóc đối tượng B để lấy nội tạng bán chonhững người cần cấy ghép nội tạng

Thứ ba, căn cứ vào lĩnh vực hình thành nguyên nhân, có thể chia

nguyên nhân của tội phạm hành các loại nguyên nhân như sau:

- Nguyên nhân về kinh tế - xã hội: Đây là tổng hợp các yếu tố tiêu cực

thuộc về lĩnh vực kinh tế - xã hội mà từ đó tác động làm phát sinh tội phạm như

Trang 12

TIỂU KẾT (1)

chất tâm lý tiêu cực, và khi gặp những tình huống cụ thể sẽ làm nảy sinh

ý định phạm tội Trong những điều kiện nhất định, nó sẽ dẫn cá nhân đến chỗ thực hiện hành vi phạm tội Ở mức độ tổng quan, có thể chia nguyên nhân của

tội phạm thành những nhóm nguyên nhân cơ bản như sau: (i) Nhóm nguyên

nhân bắt nguồn từ môi trường sống; (ii) Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía bản thân người phạm tội; (iii) Tình huống cụ thể (xảy ra trong môi trường hoặc xuất phát từ con người như từ chính bản thân nạn nhân hoặc những người xung quanh)8

tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, tác động của quá trình đô thị và công nghiệphóa, tác động của quá trình di dân…

- Nguyên nhân về chính sách - pháp luật: Đây là những sơ hở, thiếu sót,

bất cập, chồng chéo trong việc quy định các chính sách, hệ thống pháp luật làmảnh hưởng, phát sinh tội phạm Ví dụ, quy định về giải phóng mặt bằng, đền bùđất nông nghiệp còn lỏng lẻo dẫn đến một số cá nhân hoặc doanh nghiệp lợidụng sơ hở của pháp luật để đền bù không thỏa đáng cho một số hộ dân dẫn đếnnhững người này có phản ứng tiêu cực là chống người thi hành công vụ

- Nguyên nhân về văn hóa, giáo dục - xã hội: Đây là các yếu tố hạn chế

trong việc quản lý, triển khai thực hiện các vấn đề liên quan đến văn hóa - giáodục có thể làm phát sinh tội phạm Ví dụ: Nhà trường chưa coi trọng việc giáodục các em gái cách bảo vệ bản thân nhằm ngăn chặn hiệu quả tội phạm tình dục

- Nguyên nhân về tổ chức, quản lý - xã hội: Đây là những yếu tố thiếu

sót, bất cập của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý trong những lĩnhvực nhất định Thuộc về nguyên nhân này có thể là các nhân tố như: buông lỏngquản lí, đùn đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,…

8 Xem thêm:

Phụ lục 1 Nguyên nhân của tội phạm tiếp cận từ nguồn gốc phát sinh trong tội phạm học.

Trang 13

Phụ lục 2 Tình hình và vai trò của tình hình dưới góc độ tội phạm học.

Trang 14

II NẠN NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NẠN NHÂN

1 Khái niệm “nạn nhân của tội phạm”

Việc nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm mang lại những ý nghĩa hếtsức to lớn, không chỉ giúp cho việc điều tra vụ án nhanh chóng, thuận lợi màcòn bổ sung hoàn chỉnh trong những nghiên cứu của nghành Tội phạm học, từ

đó tìm ra các biện pháp phòng, ngừa tội phạm hiệu quả Theo Từ điển Tiếng

Việt, từ nạn nhân được định nghĩa là “người bị nạn hoặc người phải chịu hậu quả của một tại họa xã hội hay một chế độ bất công”9 Trên thực tế, có thể thấynạn nhân có rất nhiều dạng hình thức như nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân bịtai nạn lao động, nạn nhân tự tử, Hiện nay, khái niệm nạn nhân có rất nhiềuquan điểm chưa thống nhất, tuy nhiên phần lớn khái niệm này được hiểu theonghĩa hẹp và nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, tại khoản a Điều 1 Nghị quyết khung của Cộng đồng

Châu Âu ngày 15/3/2001 định nghĩa: “Nạn nhân là một thực thể tự nhiên, người

đã bị thiệt hại, bao gồm tổn hại về thể xác và tinh thần, tổn hại tình cảm hoặc mất mát kinh tế có nguyên nhân trực tiếp từ bởi hành động hoặc không hành động vi phạm Luật Hình sự của một quốc gia thành viên” Cũng có ý đồng nhất với quan điểm trên, TS Trần Hữu Tráng nhận định: “Nạn nhân của tội phạm học được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại

về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế”10 Theo cách hiểu này,nạn nhân chỉ là những cá nhân con người đã bị các hành vi mà theo luật hình sựcủa một quốc gia thành viên coi là tội phạm, gây thiệt hại về thể xác, tinh thần,tình cảm, kinh tế

Theo nghĩa rộng, khái niệm nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồmthể nhân mà còn có các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm phạm Theo học giả

Fritz R Paasch xác định “nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là các cá nhân

9 GS Hoàng Phê (Chủ biên): Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học & Trung tâm Từ điển

học, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003, tr.656.

10 TS Trần Hữu Tráng: Bàn về khái niệm nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học, Tạp chí

Nghề luật, số 05, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010, tr.58.

Trang 15

con người (thể nhân) và các pháp nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận”11 Tiếp đến, Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản về tư phápđối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên

Hợp Quốc ngày 29/11/1985 (tên tiếng Anh: Declaration of Basic Principles of Justice for Victims of Crime and Abuse of Power) quy định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân hay tổ chức bị hành vi phạm tội (theo quy định của luật hình sự các nước thành viên) xâm phạm, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tình cảm, kinh tế hoặc những thiệt hại đáng kể về các quyền cơ bản” 12 (Điều 1) và

“Nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm những người trực tiếp bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn bao gồm cả những người thân trong gia đình, những người phụ thuộc vào nạn nhân và cả những người chịu thiệt hại trong quá trình trợ giúp nạn nhân” 13 (Điều 2) So với nghĩa hẹp, khái niệm nạn nhân theo nghĩa

rộng đã được nhìn nhận tổng quan hơn, theo đó, nạn nhân của tội phạm có bađặc điểm như sau:

(i) Nạn nhân phải là cá nhân hoặc tổ chức còn tồn tại vào thời điểm tộiphạm xảy ra và tổ chức phải là tổ chức được hoạt động hợp pháp Nghĩa là, hành

vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan

để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, với tổ chức thì cần điều kiện là tổ

11 Hans Joachim Schneider: Viktimologie-Wissenschaft vom Verbrechensopfer, Tubinghen

1975, tr.10 (Hans Joachim Schneider: Nạn nhân học tội phạm, Tu-bi-ghen, Cộng hòa liên bang Đức, 1975).

12 Nguyên văn: “Victims” means persons who, individually or collectively, have suffered

harm, including physical or mental injury, emotional suffering, economic loss or subtantial impairment of their fundamental rights, through acts or omissions that are in violation of criminal laws operative within Member States, including those laws proscribing criminal abuse of power”.

13 Nguyên văn: “A person may be considered a victim, under this Declaration, regardless of

whether the perpetrator is identified, apprehended, prosecuted or convicted and regardless of the familial relationship between the perpetrator and the victim The term "victim" also includes, where appropriate, the immediate family or dependants of the direct victim and persons who have suffered harm in intervening to assist victims in distress or to prevent victimization”.

Trang 16

chức hợp pháp, có tài sản, còn tồn tại, nếu tổ chức bất hợp pháp thì không thể lànạn nhân của tội phạm và không được pháp luật ghi nhận, bảo vệ;

(ii) Thiệt hại mà nạn nhân gánh chịu rất đa dạng, có thể là thiệt hại vềthể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác;

(iii) Những cá nhân và tổ chức này có thể bị hành vi phạm tội trực tiếptác động (nạn nhân trực tiếp) hoặc có thể bị hành vi phạm tội tác động một cáchgián tiếp (nạn nhân gián tiếp), nhưng đều phải gánh chịu những hậu quả trựctiếp từ hành vi phạm tội Nghĩa là, giữa hành vi phạm tội với hậu quả thiệt hại

mà nạn nhân gánh chịu phải có mối quan hệ nhân quả với nhau; và thiệt hại đóphải do chính hành vi phạm tội gây ra Ngược lại, nếu không tồn tại mối quan hệnhân quả giữa hành vi phạm tội và thiệt hại xảy ra thì không được coi là nạnnhân của tội phạm

Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra định nghĩa như sau:“Nạn nhân của tội phạm là cá nhân, tổ chức phải gánh chịu những hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác mà những hậu quả thiệt hại này là do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”14

2 Phân loại nạn nhân của tội phạm

Thứ nhất, căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn

nhân thành hai nhóm cơ bản là cá nhân (thể nhân) và tổ chức Trong đó, cá nhân

là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm, bao gồm nạn nhân trực tiếp và nạnnhân gián tiếp; Còn nhóm nạn nhân là tổ chức chỉ có thể bị hành vi phạm tộixâm hại về tài sản hoặc kinh tế (chỉ có các nạn nhân trực tiếp)

Thứ hai, căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn

nhân, nạn nhân được chia thành ba nhóm: Nhóm nạn nhân trực tiếp (primary

victims hay direct victims) là những cá nhân hay tổ chức chủ yếu, bị hành viphạm tội trực tiếp tác động gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hay cácquyền và lợi ích hợp pháp khác; Nhóm nạn nhân thứ cấp hay nạn nhân gián tiếp(indirect victims hay secondary victims) là những cá nhân mà tuy hành vi phạm

14 TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Quốc Việt (Đồng chủ biên): Giáo trình Tội phạm học,

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr.168-170.

Trang 17

tội không trực tiếp tác động đến họ nhưng do họ có mối quan hệ đặc biệt đối vớinạn nhân trực tiếp nên hành vi phạm tội đã gián tiếp tác động đến họ; Nhóm nạnnhân mở rộng cách gọi khác là nạn nhân thứ ba (tertiary victims) chỉ phạm virộng gồm những người chịu ảnh hưởng, tác động sâu sắc của hành vi phạm tội

Thứ ba, căn cứ vào vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội,

nạn nhân của tội phạm có thể được chia thành nạn nhân có lỗi và nạn nhânkhông có lỗi Nạn nhân có lỗi là những nạn nhân đã có các hành vi, xử sự khôngđúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành

vi phạm tội thực hiện Nhiều nhà tội phạm học còn chia nhóm này thành hainhóm, nhóm nạn nhân có lỗi nhỏ và nhóm nạn nhân có lỗi nghiêm trọng; Nạnnhân không có lỗi là những người có những hành vi, xử sự hoàn toàn đúng đắn,tuân thủ đúng những chuẩn mực đạo đức, pháp luật Hành vi của họ hoàn toànkhông tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy hành vi phạm tội

Thứ tư, căn cứ vào thể chất, trạng thái, tinh thần cũng như đặc điểm

tâm lý hiểu biết của nạn nhân, bao gồm các nhóm nạn nhân là người dưới 16

tuổi, nữ giới, người già, người mắc bệnh tâm thần, người tàn tật, Đây là nhữngnhóm đối tượng có các đặc điểm sinh học vốn có là những yếu tố thuận lợi tạo

ra nguy cơ trở thành nạn nhân nhiều hơn so với nhóm những người khác Đó làcác đặc điểm đặc thù như độ tuổi, giới tính hay sức khỏe, vì vậy các nhóm đốitượng trên đáng quan tâm và bảo vệ hơn

Ngoài ra, còn một số nhóm nạn nhân khác như nhóm nạn nhân là nhữngngười nhập cư và người thiếu số, nhóm nạn nhân là những người tham lam, hámlợi, nhóm nạn nhân là những người dâm đãng, háo sắc, nhóm nạn nhân là nhữngngười thích cô lập, ẩn dật và những người mắc bệnh hiểm nghèo 15

3 Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội

3.1 Nạn nhân có lỗi

Nghiên cứu về cơ chế phát sinh tội phạm đã chỉ ra rất nhiều nguyênnhân, động cơ, mục đích thúc đẩy sự hình thành và phát triển hành vi phạm tội

15 TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Quốc Việt (Đồng chủ biên): Giáo trình Tội phạm học,

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr.171-179.

Trang 18

Trong đó, nạn nhân đóng vai trò quan trọng đối với các quyết định của cá nhânkhi cân nhắc, suy nghĩ có nên thực hiện hành vi phạm tội hay không? Trongnhiều vụ án, nạn nhân chính là nhân tố làm nảy sinh ý định phạm tội cũng nhưthúc đẩy hành vi phạm tội xảy ra, thể hiện một phần lỗi của nạn nhân trong các

vụ án hình sự Nạn nhân có lỗi được hiểu là những nạn nhân đã có hành vi, xử

sự không đúng chuẩn mực tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạmtội được thực hiện Nói cách khác, giữa hành vi, cách xử sự của nạn nhân vớihành vi phạm tội của người phạm tội có sự tác động qua lại mà trong đó, hành vicủa nạn nhân là một trong những yếu tố thức đẩy, làm phát sinh tội phạm Nhìnchung, lỗi của nạn nhân có thể xuất phát từ một số nguyên do sau đây:

Một là, sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế của nạn nhân: Các đặc

điểm tâm lý của con người trước hết tác động đến việc thực hiện hành vi của họthể hiện qua lời nói, cử chỉ hay hành động Trong những tình huống nhạy cảmnhư va chạm giao thông, vô ý vấp nhau,… chỉ cần những lời nói cử chỉ khôngđúng mực, chửi bới, thô lỗ, nóng nảy, cọc cằn… sẽ làm kích động, khiêu khích

sự bực tức, ức chế với những người khác và nếu những người này cũng là nhữngngười nóng nảy, không kiềm chế được thì tất yếu phát sinh hành vi phạm tội

Hai là, tính hám lợi hoặc tính phản trắc, bội bạc của nạn nhân: Nạn

nhân do ảnh hưởng tiêu cực của môi trường gia đình, bạn bè, cộng đồng hìnhthành nên những phẩm chất lệch lạc như lòng tham, sự ích kỷ, coi thường cácchuẩn mực xã hội, lười lao động,… Hám lợi là bất chấp tất cả dù không đủ khảnăng hay hi sinh tinh thần để đạt được những lợi ích đó Những người như thế sẽbất chấp tất cả kể cả đi vào con đường sai trái Nó thể hiện sự mong muốn quámức khiến cho người ta không còn tỉnh táo vì vậy rất dễ bị lợi dụng và lao vào

các đường dây lừa đảo Hay tính phản trắc, bội bạc thể hiện sự “ăn cháo đáo bát” của nạn nhân cũng là nguyên cớ gây nên hận thù và khi đặt trong tình

huống tiêu cực cụ thể sẽ dễ làm nảy sinh ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việcthực hiện tội phạm ở người khác

Ba là, sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an ninh của bản thân: Người

phạm tội thường nhằm vào sơ hở của nạn nhân để thực hiện các hành vi phạm

Trang 19

tội của mình, trong nhiều trường hợp nạn nhân có thể do chủ quan, tự tin hoặc

vô ý không phòng vệ tốt cho bản thân sẽ thúc đẩy tội phạm xảy ra Việc ăn mặc

hở hang, ăn mặc quá lố, thường xuyên đi một mình vào đêm muộn…cũng có thểkhiêu khích việc phạm tội ở người khác ví dụ như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm,tội cố ý gây thương tích Hay tâm lý dễ dãi, thái quá của nạn nhân như phấnkhích quá sẽ dễ bị lừa gạt, bị lợi dụng có thể trở thành nạn nhân trong các tội lừađảo chiếm đoạt tài sản…và các thói quen xấu như tập trung vào cuối tuần ở cácquán bar, bida, karaoke…cùng với việc uống rượu bia nhưng không kiềm chếđược dẫn đến nhiều sự gây gỗ, xích mích, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hành

vi phạm tội xảy ra

Bốn là, sự phô trương tài sản hoặc mất cảnh giác, sơ hở trong bảo

vệ tài sản: Với tâm lý thích phô trương tài sản, thiếu sự đề cao cảnh giác đối với

việc bảo vệ tài sản của mình như không trông giữ xe cẩn thận, không khóa cửanhà, không an ninh bảo quản tài sản của mình, đeo nhiều trang sức vàng, bạc lênngười khi ra đường, cho trẻ em dùng điện thoại đắt tiền, đồ đắt tiền,… cũngđóng vai trò đáng kể trong quá trình phát sinh tội phạm Ở nước ta, thời gian qua

đã xảy ra hàng loạt các vụ phạm tội xâm phạm sở hữu nhằm vào những sơ hở,mất cảnh giác của chủ sở hữu

Biểu đồ 1 Số vụ tội phạm trộm cắp tài sản và tổng số vụ tội phạm nói

chung trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017

Trang 20

Biểu đồ 2 Số người phạm tội trộm cắp tài sản và tổng số người phạm tội nói

chung trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017

Biểu đồ 3 Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài

sản trên địa bản tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017

Biểu đồ 4 Cơ cấu theo tình huống trở thành nạn nhân trong các vụ án trộm cắp

tài sản trên địa bản tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013 - 2017

Trang 21

Nguồn: Phan Diệu Linh, Tình hình tội phạm trộm cắp tài

sản trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 đến năm 2017

Trang 22

Theo số liệu thống kê về tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địabàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 đến năm 2017, có thể thấy tội trộm cắp tài sảnchiếm tỷ lệ lớn nhất 45,21% (973/2152) số vụ án, 34,41% (993/2886) số bị cantrong các tội phạm nói chung Nguyên nhân là do Quảng Trị có mật độ dân cưkhông đồng đều, sống chủ yếu ở nông thôn và tình hình xã hội cũng không quáphức tạp, nhưng ở địa phương nghề nghiệp còn hạn chế, số lượng thất nghiệpnhiều, người phạm tội không có nghề nghiệp chiếm 43,33% và an ninh bảo quảntài sản của người dân còn chưa tốt, cẩu thả điều đó dẫn đến việc trở thành nạnnhân của tội phạm do sở hở trong quản lý tài sản chiếm đến 59,44% Cụ thể hơn,tại thành phố Đông Hà, năm 2019 trên địa bàn thành phố xảy ra 72 vụ trộm cắptài sản, chiếm hơn 60% số vụ phạm pháp hình sự, trong đó Công an thành phố

đã điều tra, làm rõ 64 vụ với 60 đối tượng, khởi tố 59 vụ với 40 bị can16

Năm là, khả năng tự bảo vệ bản thân của nạn nhân còn kém: Dù có

thể nhận thức được những mối nguy hiểm nhất định xung quanh nhưng kĩ năng

tự vệ và phòng vệ của một số người còn hạn chế, trong những tình huống cụ thểcòn loay hoay, chưa biết làm như thế nào để bảo vệ mình và công tác tuyêntruyền cũng chưa thật sự hiệu quả Vẫn còn nhiều sự việc như việc trẻ con chơimột mình không có người lớn theo dõi dẫn đến các vụ việc bắt cóc hay mọingười thường đi đêm về muộn, đi vào các đoạn hẻm tối, các đoạn đương vắngvẻ…cũng tiềm ẩn nguy cơ thúc đẩy tội phạm, tạo ra điều kiện thuận lợi nhấtđịnh cho người khác thực hiện hành vi nguy hiểm đối với bản thân mình Đặcbiệt hơn, đối với nhóm người dễ bị tổn thương là trẻ em, phụ nữ, người già,người tàn tật hay người mắc bệnh tâm thần thì sẽ bị hạn chế về khả năng tự vệbản thân nên luôn tiềm ẩn nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm

Sáu là, nạn nhân có lối sống vô đạo đức hoặc có hành vi trái pháp luật: Xã hội phát triễn mạnh mẽ đem lại những đổi thay tích cực, hiệu quả

nhưng cũng đồng thời xảy ra nhiều mặt trái, hệ lụy trong xã hội Điển hình là sự

16 Xem thêm: Tăng cường công tác đấu tranh với tội phạm trộm cắp tài sản, Báo Quảng Trị

điện tử, ngày 29/02/2020, http://www.baoquangtri.vn/B%E1%BA%A1n-%C4%91%E1%BB 8Dc-Ph%C3%A1p-lu%E1% BA%ADt/modid/422/ItemID/146453, truy cập ngày 14/3/2021.

Trang 23

chong-phi-tang-xac-o-binh-duong-lanh-an-chung-than-472662.htm, truy cập 14/3/2021.

17

ích kỷ, cạnh tranh gay gắt và cũng như các tệ nạn xã hội khác,…khiến cho conngười ngày càng cách xa nhau và trong nhiều trường hợp không còn sự cấu kếtchặt chẽ Sự thờ ơ, vô cảm của các cá nhân trong xã hội cũng là nguyên nhânkhiến chính mình hay một ai đó trở thành nạn nhân của tội phạm Ví dụ như, điđường gặp vụ tai nạn giao thông, nạn nhân nằm đó nhưng lờ đi, vì không phảiviệc của mình, sợ mang vạ, hay không có ý thức tố giác tội phạm Và sự hìnhthành các thói quen xấu, việc ảnh hưởng các văn hóa phẩm đồi trụy, ảnh hưởngbởi nhiều tư tưởng cực đoan và có các hành vi trái pháp luật như hành hạ, lăng

mạ người khác…có thể thúc đẩy tội phạm xảy ra và biến mình trở thành nạnnhân của tội phạm

Một vụ án trong thời gian gần đây đã gây hoang mang chấn động dưluận, trong đó cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như nhiều bài báo đưa tin đã đềcập trực tiếp đến lỗi của nạn nhân trong vụ án hình sự: Vợ giết chồng, phi tangxác tại Bình Dương vào năm 2017 Tại phiên tòa, bị cáo Hàn Thị Hồng Diễm(sinh năm 1984, quê Hậu Giang) lạnh lùng khai về hành vi của mình Trình bàyquan điểm luận tội, đại diện Viện kiểm sát cũng đã nêu bị cáo phạm tội có mộtphần lỗi của bị hại Qua các thông tin được biết có thể thấy một phần lỗi của nạnnhân là anh Trần Thanh Tú (chồng chị Diễm) đã thúc đẩy hành vi phạm tội củachị Diễm Do hành vi trái pháp luật của anh Tú là quan hệ bất chính bên ngoài,thường xuyên chửi bới, hành hung chị Diễm Từ đó, hình thành 14 nên sự phẫn

ức âm ỉ trong chị Diễm và khi đặt vào tình huống xấu cụ thể đó là nạn nhân córượu trong người, cả hai cãi vã và anh Tú lấy bao trùm đầu đánh, cầm dao ẩu đảthì làm cho sức chịu đựng của bị cáo không kìm hãm được, dẫn đến câu chuyện

“tức nước vỡ bờ” bị cáo không làm chủ được bản thân và thực hiện hành vi

phạm tội là giết nạn nhân, phi tang xác bằng cách phân xác nạn nhân vào 10 bọcnylon đem vứt các nơi khác nhau và thậm chí còn cắt cả dương vật nạn nhân do

“hận anh Tú vì anh có người đàn bà khác”17

17 Xem thêm: Vợ giết chồng, phi tang xác ở Bình Dương lãnh án chung thân, Báo

VietNamNet, ngày 23/8/2018,

Trang 24

3.2 Nạn nhân không có lỗi

Trái ngược lại với nạn nhân có lỗi, nạn nhân không có lỗi là trường hợpnạn nhân là những người có hành vi, xử sự hoàn toàn đúng đắn, tuân thủ chuẩnmực đạo đức, thuần phong mỹ tục và pháp luật18 Hành vi của họ hoàn toànkhông hề tác động hay tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hay làm phát sinh hành

vi phạm tội nhưng họ vẫn có thể trở thành nạn nhân của tội phạm Nói cách khác,

không phải lúc nào cũng do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội.

Trong một số trường hợp ngay cả khi một người luôn có ý thức bảo vệtính mạng, sức khoẻ, tài sản của mình nhưng họ vẫn có thể trở thành nạn nhâncủa tội phạm nếu người phạm tội quá ranh ma, xảo quyệt, ngoan cố, cố tình thựchiện tội phạm đến cùng Ví dụ như, vụ việc của Trần Hoàng Tấn xảy ra tạiThành phố Hồ Chí Minh Vào 3 giờ 30 phút sáng ngày 18/12/2020, sau nửa giờtìm kiếm, khi Tấn đi ngang qua nhà số 8 Nguyễn Thị Minh Khai (Quận 1), thấycửa nhà là cửa kéo hai cánh, khóa bằng hai ổ khóa ngoài nên đã dừng xe vàdùng thanh kim loại mà mình mang theo để cạy ổ khóa19 Có thể thấy, dù ngườidân đã có ý thức bảo vệ tính mạng, tài sản của mình trước khi ra khỏi nhà hoặc

đi ngủ thông qua việc khóa cửa nhà cẩn thận, nhưng tội phạm sẽ vẫn có thể diễn

ra khi người phạm tội đã có sự chuẩn bị kĩ lưỡng từ cách thức đến phương tiện,công cụ cũng như lựa chọn thời điểm để thực hiện hành vi phạm tội

Thực tế cũng chứng minh rằng có những trường hợp mặc dù không cólỗi nhưng vẫn có thể trở thành nạn nhân của tội phạm, điển hình là những vụ án

về xâm hại tình dục trẻ em Cách đây gần bốn năm trước, chúng ta đã từng phải

giật mình thảng thốt khi đọc tin “Bé gái 1 tuổi bị lão già biến thái xâm hại tình dục ở Quảng Ninh” Thủ phạm trong vụ án này là Nguyễn Văn Kim (sinh năm

1936), còn nạn nhân là cháu H.G.H (sinh năm 2016, hàng xóm của Kim) Đối

18 TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Quốc Việt (Đồng chủ biên): Giáo trình Tội phạm học,

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr.175.

19 Xem thêm: Khám phá nhiều vụ trộm cắp tài sản ở trung tâm Sài Gòn, Công an Thành phố

Hồ Chí Minh, Chuyên trang Báo Công an nhân dân, ngày 28/12/2020, http://congan.com.vn/ vu-an/kham-pha-nhieu-vu-trom-cap-tai-san_105147.html, truy cập ngày 14/3/2021.

Ngày đăng: 09/12/2021, 16:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Cơ chế phát sinh hành vi phạm tội - 9 điểm Trình bày vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội liên hệ thực tiễn tội phạm giết người
Sơ đồ 1. Cơ chế phát sinh hành vi phạm tội (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w