HÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ 1. Đề tài luận án: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt đông xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội” 2. Chuyên ngành: Kế toán 3. Họ và tên nghiên cứu sinh: 4. Người hướng dẫn khoa học: Mã số: 9.34.03.01 Trần Thị Ngọc Anh 1. GS.TS. Đoàn Xuân Tiên 2. TS. Lê Thị Diệu Linh 5. Những đóng góp mới của luận án 5.1. Về lý luận Thứ nhất: Luận án đã nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trên các nội dung cơ bản như: khái niệm, đặc điểm hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh, hợp đồng xây dựng, phân loại hợp đồng xây dựng, đặc điểm hợp đồng xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh, khái niệm doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng, nội dung kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng theo 2 cách tiếp cận: theo giao dịch và theo hợp đồng. Thứ hai: Luận án đã tổng hợp kinh nghiệm áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế doanh thu từ hợp đồng với khách hàng (IFRS 15) và rút ra bài học cho Việt Nam. 5.2. Về thực tiễn Thứ nhất: Luận án tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử hình thành, tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phân cấp quản lý tài chính, đặc điểm bộ máy kế toán, chế độ kế toán tài chính ảnh hưởng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội. Thứ hai: Luận án phân tích và trình bày thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội. Luận án dánh giá, chỉ ra một số kết quả đạt được và những hạn chế của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng tại các đơn vị được khảo sát. Đồng thời, luận án cũng đánh giá thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 15 trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội. Thứ ba: Luận án đã đưa ra định hướng phát triển các doanh nghiệp xây dựng dân dụng, các yêu cầu cơ bản và phương hướng hoàn thiện đồng thời đề xuất một số giải pháp và các điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu hội nhập và nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý ngành xây dựng. Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2021 Người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh 1. GS.TS. Đoàn Xuân Tiên 2. TS. Lê Thị Diệu Linh Trần Thị Ngọc Anh
Trang 1- -
TRẦN THỊ NGỌC ANH
KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG DÂN DỤNG
TẠI HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2- -
TRẦN THỊ NGỌC ANH
KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG DÂN DỤNG
TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành : Kế toán
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS,TS ĐOÀN XUÂN TIÊN
2 TS LÊ THỊ DIỆU LINH
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả của luận án
Trần Thị Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ vii
Danh mục các sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 24
1.1 Hoạt động xây dựng và đặc điểm của hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí xác định kết quả kinh doanh 24
1.1.1 Khái niệm và phân loại hoạt động xây dựng 24
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh 25
1.1.3 Hợp đồng xây dựng, phân loại hợp đồng xây dựng 28
1.1.4 Đặc điểm của hợp đồng xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh 29
1.2 Các khái niệm, nội dung doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng 30
1.2.1 Khái niệm, nội dung kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng 30
1.2.2 Khái niệm, nội dung doanh thu hoạt động xây dựng 33
1.2.3 Khái niệm, nội dung chi phí hoạt động xây dựng 36
1.3 Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng 40
1.3.1 Quan điểm tiếp cận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng theo giao dịch 40
1.3.2 Quan điểm tiếp cận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng theo hợp đồng 45
Trang 51.4 Kinh nghiệm áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế doanh thu từ hợp
đồng với khách hàng IFRS15 72
1.4.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế 72
1.4.2 Ưu, nhược điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 15 74
1.4.3 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới khi áp dụng IFRS 15 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 83
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG DÂN DỤNG TẠI HÀ NỘI 84
2.1 Tổng quan về hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 84
2.1.1 Lịch sử phát triển của ngành xây dựng dân dụng Việt Nam và Hà Nội 84
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh 91
2.1.3 Đặc điểm cơ chế quản lý tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 98
2.1.4 Thực trạng áp dụng mô hình tổ chức bộ máy kế toán 99
2.1.5 Thực trạng áp dụng các chính sách kế toán 102
2.2 Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 105
2.2.1 Thực trạng áp dụng hợp đồng xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 105
2.2.2 Thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 108
2.2.3 Phương pháp xác định và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 110
Trang 62.2.4 Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt
động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại
Hà Nội 117
2.2.5 Trình bày thông tin doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trên báo cáo tài chính 124
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 126
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 126
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 128
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 133
2.4 Đánh giá thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 15 trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 137
Chương 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ, XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐÔNG XÂY DỰNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ XÂY DỰNG DÂN DỤNG TẠI HÀ NỘI 138
3.1 Phương hướng hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 138
3.1.1 Định hướng phát triển của doanh nghiệp xây dựng nói chung và các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội nói riêng 138
3.1.2 Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 140
3.1.3 Phương hướng hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 144
Trang 73.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả
kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng
dân dụng tại Hà Nội 145
3.2.1 Hoàn thiện xác định HĐXD 145
3.2.2 Hoàn thiện thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh HĐXD 146
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp xác định và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh HĐXD 147
3.2.4 Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh HĐXD 155
3.2.5 Hoàn thiện trình bày thông tin trên BCTC 161
3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phi và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội 163
3.3.1 Đối với Nhà nước và cơ quản quản lý 163
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp xây dựng dân dụng 166
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 168
KẾT LUẬN 169
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 171
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 172
PHỤ LỤC 177
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CP NLVLTT Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp
CT,HMCT Công trình, hạng mục công trình
FASB Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính của Hoa kỳ FPTS Viết tắt của công ty cổ phẩn chứng khoán FPT
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Thuyết minh BCTC của Tập đoàn Petrofac ngày 30/6/2018 79
Bảng 1.2: Bảng cân đối kế toán của Tập đoàn Bouygues 82
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu của ngành xây dựng dân dụng Việt Nam 88
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của ngành xây dựng dân dụng Hà Nội 89
Bảng 2.3: Báo cáo tình hình doanh thu của một số công ty xây dựng tại Hà Nội 104
Bảng 2.4: Trích bảng doanh thu cho từng công trình tại Cty VIMECO quý 4/2019 115
Bảng 2.5: Trích bảng chi phí cho từng công trình tại Cty VIMECO Quý 4/2019 123
Bảng 3.1: Bảng dự toán công trình 148
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong ngành xây dựng ở Việt Nam 86
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng ngành xây dựng theo nhóm công trình ở Việt Nam 87
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong ngành xây dựng tại Hà Nội 89
Biểu đồ 2.4: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị được khảo sát 101
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1: Kế toán sửa đổi hợp đồng 48
Sơ đồ 2.1: Tổ chức Công ty CP xây dựng số 1 Vinaconex 1 92
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức của tổng công ty VINACONEX 94
Sơ đồ 2.3: Quy trình tổ chức xây dựng 97
Sơ đồ 2.4: Quy trình thi công công trình xây dựng dân dụng 97
Sơ đồ 2.5: Sơ đồ Tổ chức bộ máy kế toán theo kiểu vừa tập trung vừa phân tán 100
Sơ đồ 2.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán theo kiểu tâp trung 101
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản và đặc biệt là xây dựng dân dụng là ngành sản xuất ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Hàng năm vốn đầu tư xây dựng vào ngành xây dựng cơ bản chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cả nước, trong đó xây dựng dân dụng chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu giá trị ngành Theo báo cáo của FPTS, xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm 41,2% giá trị ngành, xây dựng dân dụng chiếm 40,6% và còn lại là xây dựng công nghiệp Với nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thi công dài, quy mô lớn, sản phẩm là các công trình xây dựng có tính đơn chiếc và giá trị cao Nhu cầu xây dựng ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn chính là động lực thúc đẩy ngày xây dựng không ngừng phát triển Đây là một trong nhân tố quan trọng tác động đến GDP của cả nước Do vậy, ngành xây dựng, đặc biệt là ngành xây dựng dân dụng có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế Trong thời gian qua ngành xây dựng Việt Nam có tốc
độ tăng trưởng khá cao trên 7% tính từ năm 2015- 2019, đặc biệt là năm 2015 tốc độ tăng trưởng 10.8%, cao nhất trong 10 năm gần đây Việt Nam được đánh giá là một trong những nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng xây dựng khá cao trong khu vực Tuy nhiên đến năm 2020, do sự tác động của dịch Covid 19, tỷ lệ này giảm xuống 6,76% Mặc dù đây là mức tăng trưởng thấp nhưng vẫn được xem là khá cao so với khu vực và trên thế giới Trong các ngành kinh tế, dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực tới ngành xây dựng ở mức trung bình Ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch chủ yếu thông qua: gián đoạn về kinh tế và sự suy giảm nhu cầu đầu tư Trong đó, gián đoạn về kinh
tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng ngắn hạn của ngành, ngược lại suy giảm nhu cầu đầu tư sẽ có ảnh hưởng dài hạn hơn
Với việc sửa đổi Luật xây dựng năm 2014, gần đây là Luật xây dựng năm 2020 cùng với những chính sách hỗ trợ kích cầu, tình hình xây dựng, BĐS đang có những chuyển biến tích cực, kéo theo đó là sự đi lên của phân khúc xây dựng dân dụng Nhiều hiệp định tự do thương mại đã được ký kết và có hiệu lực như AFTA, ACFTA, AKFTA,CPTPP… đã đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam và thúc đẩy phát triển của ngành xây dựng Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thay đổi này cũng đặt ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi doanh nghiệp không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra với các doanh nghiệp nước ngoài Điều này sẽ tạo ra
Trang 12những cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng cũng mang thách thức đối với các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp xây dựng
Một bài toán đặt ra làm sao để có thể huy động và quản lý vốn một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí thất thoát trong vốn kinh doanh Hơn nữa, sản phẩm xây dựng có đặc điểm là công nghệ xây dựng biến đổi chậm, bí quyết kỹ thuật khó giữ, thị trường cạnh tranh gay gắt Do vậy, cần có sự quản lý chặt chẽ về sản xuất, quản lý
về tài chính, trong đó có quản lý về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh Với vai trò là một công cụ quản lý kinh tế, kế toán đặc biệt là kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp xây dựng Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, bài toán đặt ra đối với các doanh nghiệp xây dựng là phải làm sao nâng cao được năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường Giải pháp quan trọng đó là phải sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có, nâng cao chất lượng quản lý, từ
đó gia tăng lợi nhuận, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh Để thực hiện được điều này, các nhà quản lý của đơn vị cần thông tin hữu ích phục vụ cho quá trình ra quyết định và điều hành doanh nghiệp Kế toán đặc biệt kế toán doanh thu, chi phí, kết quả được xem là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp nhà quản trị ra quyết định phù hợp
Gần đây với việc ban hành và công bố chuẩn mực kế toán quốc tế doanh thu từ hợp đồng với khách hàng (IFRS 15) thay thế cho một số chuẩn mực đã ban hành trước đây IAS 11,IAS 18 đã đưa ra các cách tiếp cận mới thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp có mô hình hoạt động kinh doanh theo hợp đồng Điều này dẫn đến những thay đổi trong việc xác định và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Các nghiên cứu gần đây của E&Y, KPMG, Deloitte… đã cho thấy việc áp dụng IFRS 15 đã tác động lớn đến công tác kế toán của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây dựng
Đặc thù của ngành xây dựng có sự khác biệt so với các ngành nghề khác như thương mại, sản xuất, dịch vụ Do vậy, kế toán tại doanh nghiệp xây dựng cần phù hợp với đặc tính của ngành xây dựng, sự thay đổi về trình độ quản lý, chính sách kinh tế và công nghệ thông tin Đặc biệt hiện nay với sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới được kết nối thông qua AI, IOT…giúp tăng cường khả năng hỗ trợ và tương hỗ lẫn nhau nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng Việc tổ chức thông tin kế toán một cách khoa học, hợp lý sẽ góp phần đáng kể vào việc
Trang 13nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đồng thời cũng quyết định đến sự thành công và thất bại của DN
Trong những năm qua, hệ thống kế toán Việt nam về kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh nói riêng đã được xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp với nền kinh
tế thị trường Năm 2001, Việt Nam đã lần lượt ban hành 26 chuẩn mực kế toán, trong
đó những chuẩn mực liên quan đến ngành xây dựng VAS14- Doanh thu và thu nhập khác, VAS 15- Hợp đồng xây dựng Tuy nhiên những chuẩn mực này hiện nay đã bị lỗi thời không còn phù hợp với thực tế phát triển kinh tế hiện nay Năm 2014, với sự ra đời TT200/2014/TT/BTC, đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong công tác kế toán Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng kể vẫn còn những hạn chế nhất định tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp vận dụng trong thực tế, nhất là đối với các doanh nghiệp xây dựng dân dụng Thực tế công tác kế toán doanh thu, chi phí, kết quả tại doanh nghiệp xây dựng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế Điều này khiến các doanh nghiệp xây dựng khó có thể phát triển hội nhập với các doanh nghiệp xây dựng trong khu vực và quốc tế Hơn nữa, những bất cập này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp
Hoạt động xây dựng là một ngành kinh tế đặc thù, hoạt động kinh doanh của DNXD không giống như hoạt động bán hàng thông thường mà là sự kết hợp của cả hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ Thách thức lớn với kế toán là: xác định được cách tiếp cận, đo lường và xác định doanh thu, chi phí như thế nào? Khi nào ghi nhận doanh thu, chi phí? Các thông tin này được trình bày trên BCTC như thế nào?
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn của hoạt động xây dựng và trên cơ sở yêu cầu bức thiết của các công ty xây dựng dân dụng trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội”
2 Tổng quan nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án
Kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh là một trong những nội dung quan trọng của công tác kế toán nói chung và kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng nói riêng Do vậy, đã có rất nhiều luận án, cũng như các bài báo trong nước và quốc tế
đề cập đến kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh ở các loại hình
Trang 14doanh nghiệp khác nhau hoặc đề cập đến kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng dưới góc độ khác Tác giả đã nghiên cứu rất nhiều luận án và bài báo nhằm thu thập tài liệu
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả đưa ra một bức tranh tổng quát về các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới về những vấn đề có liên quan đến nội dung của luận án Trên cơ sở đó để xác định khoảng trống nghiên cứu trong luận án của mình Đây cũng là những minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài
Thứ nhất: Tổng quan các nghiên cứu về khung lý thuyết kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
- Các công trình nghiên cứu về doanh thu
Quá trình hình thành và phát triển của kế toán DT,CP và XĐKQKD đã được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới như W.Paton và A.C Little (1940), Giáo sư Bedford (1965), Jonh Hick (1940), Edward và Bell (1961), Bruce Pounder (2009), Jonathan C Glover và Yuri Ijiri (2000); Yuri Biondi, Robert J Bloomield và Jonathan C Glover (2011), Mathew G.Lamoreaux (2012)… Cùng với sự phát triển của xã hội kế toán nói chung và kế toán DT,CP,XĐKQKD cũng có sự phát triển tương ứng nhằm cung cấp thông tin rõ ràng và minh bạch hơn cho những đối tượng sử dụng thông tin kế toán như nhà quản lý, nhà đầu tư… Thông qua các công trình nghiên cứu, các tác giả đã cho thấy lịch sử phát triển của kế toán DT,CP và XĐKQKD và những quan điểm riêng của tác giả về kế toán dưới góc độ trên
Để có cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển khung lý thuyết
về kế toán DT,CP, XĐKQKD tác giả tóm tắt thành các giai đoạn phát triển như sau:
Giai đoạn trước năm 2018: Trong giai đoạn này việc tiếp cận DT,CP và XDKQKD của các DN dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Các chuẩn mực này được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành từ năm 1973 đến năm
2000 IAS đã đánh dấu bước phát triển mới trong kế toán, một khung lý thuyết kế toán
cơ bản được đưa ra và được áp dụng ban đầu cho các nước Châu Âu, sau đó được áp dụng phổ biến cho các nước trên thế giới Trong đó, hai chuẩn mực liên quan trực tiếp
DT, CP và XĐKQKD hoạt động xây dựng là IAS 11- Hợp đồng xây dựng và IAS 18- Doanh thu Hai chuẩn mực này là cơ sở cho việc ghi nhận kế toán trong các DNXD trong nhiều năm Theo đó, DT,CP và XĐKQKD được xác định dựa trên cơ sở giao
Trang 15dịch phát sinh Doanh thu, CP được phát sinh từ những hoạt động kinh doanh xảy ra thường xuyên trong DN Biểu hiện việc phát sinh DT, CP gắn với với yếu tố trên BCĐKT như tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Việc ghi nhận DT gắn với điều kiện ghi nhận DT, DT bán hàng phải thỏa mãn 5 điều kiện ghi nhận, DT dịch vụ phải thỏa mãn 4 điều kiện ghi nhận
Một số nghiên cứu trong giai đoạn này như tác giả Bruce Founder (2009) trong nghiên cứu “A fresh look at revenue recognition” cho rằng doanh thu là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN Vì vậy, việc ghi nhận doanh thu trong
DN phải được đảm bảo nguyên tắc khách quan, thống nhất cho các giao dịch phát sinh doanh thu tương tự cùng bản chất trong cùng ngành, lĩnh vực và giữa quốc gia Tuy nhiên với chuẩn mực kế toán tại thời điểm đó chưa thể đáp ứng việc ghi nhận doanh thu thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới Đây cũng chính là mầm mống cho sự ra đời của một mô hình ghi nhận doanh thu sau này
Trong một nghiên cứu khác của Yuri Biondi, Jonathan C Glover và các các công sự (2011) đã đưa ra những điểm yếu trong ghi nhận doanh thu của IASB và FASB, từ đó đề xuất khuôn mẫu kế toán doanh thu mới Khuôn mẫu này hướng tới mục đích cụ thể hóa các quy định của kế toán doanh thu, mang lại các giải pháp kế toán thực tế hơn Hai vấn đề được giải quyết trong khuôn mẫu này là: thứ nhất doanh thu được ghi nhận khi khách hàng thực hiện thanh toán hoặc cam kết chắc chắn thanh toán Thứ hai, ghi nhận doanh thu và ghi nhận lợi nhuận được kết hợp với nhau, lợi nhuận được xác định trên cơ sở các tiêu chí khách quan về việc không chắc chắn theo HĐ và đảm bảo tính thận trọng Hai phương pháp xác định doanh thu được đề cập đến là: phương pháp HĐ hoàn thành và phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành Theo đó doanh thu được ghi nhận được gắn với mức độ hoàn thành theo HĐ
Trong nghiên cứu “A new system for recognizing revenue” của tác giả Mathew
G Lamoreaux (2012) đăng trên tạp chí Journal of Accounting lại chỉ ra cách thức để nhận biết doanh thu trong trường hợp các giao dịch được quy định chặt chẽ theo HĐ Theo nghiên cứu này năm 2012 IASB và FASB đã cũng nhau ban hành bản đề xuất sửa đổi chuẩn mực ghi nhận doanh thu nhằm yêu cầu đơn vị phải báo cáo đầy đủ hơn các thông tin về các giao dịch phát sinh doanh thu Một cách tiếp cận doanh thu mới được áp dụng cho tất cả các HĐ cung cấp hàng hóa dịch vụ cho khách hàng, trừ các
HĐ cho thuê tài sản, HĐ bảo hiểm và các công cụ tài chính Theo đó, cơ sở của của
Trang 16cách tiếp cận này là doanh thu được ghi nhận tương ứng với quá trình chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng theo cam kết trong HĐ
Ở Việt Nam cũng ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán nhằm phần nào đáp ứng với chuẩn mực kế toán quốc tế Việt Nam đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán bắt đầu từ năm 2001 Trong đó, VAS 14- Doanh thu(2001) và VAS 15- Hợp đồng xây dựng(2002) Việc ban hành những chuẩn mực này đã phần nào giải quyết những khó khăn cho kế toán của DNXD trong việc ghi nhận DT, CP và XĐKQKD tại thời điểm đó Cơ sở của những chuẩn mực này vẫn là dựa trên cơ sở giá gốc và giao dịch phát sinh
Quan điểm tiếp cận dựa trên giao dịch phát sinh, khi chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn với hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng cũng được thể hiện rất rõ trong nghiên cứu của Hà Thị Thúy Vân (2011), Nguyễn Thị Thanh Loan (2014), Trương Thanh Hằng (2014), Đỗ Minh Thoa (2015), Trần Tuấn Anh (2016)
Nghiên cứu của Trương Thanh Hằng (2014) là một trong những nghiên cứu về
kế toán doanh thu, chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách Đây cũng là một hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở HĐ Nghiên cứu này đề cập DT,CP trên cả hai góc độ: kế toán tài chính và kế toán quản trị Doanh thu được ghi nhận dựa trên các điều kiện ghi nhận doanh thu theo IAS 18 và VAS 14 Luận án cũng đưa ra các phương pháp để đo lường doanh thu vận tải hành khách là theo tỷ lệ phần trăm dịch vụ
đã cung cấp cho khách hàng Doanh thu được ghi nhận có tính đến các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán tính trên khối lượng vận tải Chi phí được tập hợp theo từng HĐ vận tải và được xác định tương ứng với khối lượng vận tải cung cấp cho KH Tác giả đã đưa ra thực trạng kế toán DT,CP trong DN vận tải hành khách, cho thấy sự khác biệt trong việc ghi nhận DT, CP theo HĐ so với ghi nhận
DT, CP ở loại hình DNSX thông thường Cho thấy những bất cập trong việc ghi nhận
DT, CP theo HĐ trong các DN vận tải hiện nay ở Việt Nam khi vẫn áp dụng theo chuẩn mực kế toán hiện tại
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2014) về kế toán DT, CP của Hợp đồng xây dựng tại các DNXD công trình thủy điện ở Việt Nam Luận án tiếp cận theo hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Dưới góc độ kế toán tài chính, Luận án
đi sâu vào nghiên cứu HĐXD, phân loại HĐXD, xác định nội dung và thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí hoạt động xây dựng, phương pháp xác định, phương pháp kế
Trang 17toán và trình bày thông tin doanh thu, chi phí trên báo cáo tài chính Dưới góc độ kế toán quản trị, luận án đã đưa ra hệ thống quản trị doanh thu, chi phí HĐXD, xây dựng
dự toán, định mức, phương pháp xác định doanh thu, chi phí HĐXD và trình bày thông tin phục vụ cho công tác kế toán quản trị Trên cơ sở đó, tác giả tìm hiểu thực trạng và giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí theo HĐ tại DNXD công trình thủy điện ở Việt Nam Tuy nhiên, luận án trình bày kế toán doanh thu, chi phí theo giao dịch dựa trên IAS 11, VAS 15 mà chưa tiếp cận theo IFRS 15 Hơn nữa, mặc dù luận án nghiên cứu dưới 2 góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị nhưng nội dung chủ yếu
đi sâu hơn vào thực trạng và đưa giải pháp dưới góc độ kế toán quản trị Các kiến nghị
về kế toán tài chính không gắn với HĐXD mà theo quy trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán
Giai đoạn từ sau năm 2018: đây là giai đoạn đánh dấu sự thay thế của IAS đang
áp dụng trước đây chuyển sang IFRS (chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) Hệ thống chuẩn mực này được ban hành nhằm thay thế cho những IAS đã lỗi thời không còn phù hợp với sự phát triển của kế toán hiện nay Bên cạnh chuẩn mực kế toán (IAS) vẫn có hiệu lực, IASB đã ban hành thêm 17 chuẩn mực báo cáo tài chính quôc tế (IFRS) như chuẩn mực IFRS 13- Giá trị hợp lý, IFRS 15- Hợp đồng với khách hàng… Trong đó IFRS 15 được ban hành thay thế cho IAS 11 và IAS 18 Chuẩn mực này được công bố năm 2014 và chính thức được áp dụng từ 1/1/2018 Các DNXD ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển sang áp dụng chuẩn mực này như các nước châu Âu, Úc, Mỹ… IFRS 15 đã đề cập đến một cách tiếp cận mới dựa trên cơ sở các nghĩa vụ của HĐ Việc ghi nhận doanh thu do vậy cũng gắn với nghĩa vụ HĐ Doanh thu được ghi nhận dựa trên việc chuyển giao quyền kiểm soát tài sản cho khách hàng Theo IASB (2015), ÍFRS 15 được ra đời vì ba lý do sau:
Thứ nhất: tạo ra một chuẩn mực chung để ghi nhận doanh thu áp dụng cho tất cả các ngành nhằm thống nhất điều chỉnh báo cáo tài chính của IFRS và thông lệ kế toàn được chấp nhận chung của Hoa Kỳ (US GAAP)
Thứ hai: để loại bỏ sự mâu thuẫn và yếu kém trong các tiêu chuẩn doanh thu hiện hành vì những tiêu chuẩn này khá lỗi thời, bộc lộ nhiều hạn chế và do đó, dẫn đến
sự thiếu nhất quán trong việc ghi nhận giao dịch phát sinh doanh thu phức tạp, như giao dịch phát sinh trong DNXD
Trang 18Thứ ba, nâng cao tính hữu ích của việc trình bày thông tin doanh thu vì việc trình bày thông tin doanh thu như hiện nay được cho không đủ để hiểu được thời điểm ghi nhận doanh phát sinh từ HĐ với khách hàng trong một DN cụ thể
- Các công trình nghiên cứu về chi phí
Các công trình nghiên cứu về chi phí về cơ bản đều hướng tới góc độ kế toán quản trị, đặc biệt kế toán chi phí trong DNXD, chi phí theo góc độ KTTC thường ít được đề cập đến
Theo Stenvan J Peterson (2009), Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp xây dựng khác biệt với chi phí phát sinh trong sản xuất, do vậy, chi phí xây dựng và chi phí quản lý chung cần được phân bổ cho từng hợp đồng theo phương pháp kế toán theo hoạt động (ABC)
Trần Thị Thanh Loan (2014) Chi phí theo HĐXD bao gồm: các chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng, chi phí chung liên quan đến hoạt động của các HĐ,
có thể phân bổ cho từng HĐ cụ thể như chi phí bảo hiểm, chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật, chi phí quản lý chung trong xây dựng và các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo điều khoản HĐ.Chi phí trực tiếp được tập hợp cho từng công trình, hạng mục công trình, chi phí chung được tập hợp lại sau đó phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình
- Các công trình nghiên cứu về kết quả kinh doanh
Các nghiên cứu về kết quả kinh doanh không đi sâu vào kế toán kết quả kinh doanh như thế nào mà tập trung vào các quan điểm về đo lường kết quả kinh doanh Quan điểm được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây là quan điểm kết quả toàn diện
Tuyên bố về chuẩn mực kế toán số 130 (1997) của FASB, việc áp dụng khái niệm kết quả toàn diện được hiện thực hóa thành các quy định cụ thể Theo đó, kết quả toàn diện bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh và thu nhập toàn diện khác Về hình thức trình bày, kết quả toàn diện có thể được trình bày theo 3 hình thức: (1) trình bày báo cáo lãi/lỗ truyền thống, (2) trình bày báo cáo kết quả toàn diện riêng biệt, (3) trình bày trong báo cáo về sự thay đổi của vốn chủ sở hữu
Với những phân tích ở khía cạnh đầu tiên, cũng chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu của tác giả Cơ sở lý luận của tác giả sẽ hướng tới tiếp cận DT,CP và XĐKQKD hoạt động xây dựng dưới góc độ kế toán tài chính gắn với nghĩa vụ HĐ hay
Trang 19nói cách khác gắn với việc chuyển giao quyền kiểm soát tài sản theo HĐ cho khách hàng Xây dựng một khung lý thuyết kế toán đầy đủ cho kế toán tại DNXD, cụ thể DNXDDD Tác giả nghiên cứu những khó khăn và bất cập mà các DNXDDD đang gặp phải khi áp dụng VAS15, thông tư TT133/2016/TT-BTC và thông tư TT200/2014/TT-BTC áp dụng cho DNXD, đặc biệt các DNXDDD tại Hà Nội
Thứ hai: Tổng quan về mặt nội dung kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
- Về thời điểm ghi nhận
Theo tác giả Mai Ngọc Anh và cộng sự(2014) thời điểm ghi nhận doanh thu phụ thuộc vào cách tiếp cận Theo tác giả, hai cách tiếp cận được đề cập đến đó là cách tiếp cận theo thời điểm và cách tiếp cận theo quá trình Với cách tiếp cận theo thời điểm, việc nhận biết một giao dịch đã tạo ra doanh thu hay chưa phải căn cứ vào các thời điểm quan trọng quá trình thực hiện giao dịch Một số thời điểm quan trọng được ghi nhận doanh thu: thời điểm ký hợp đồng, thời điểm giao hàng, thời điểm khách hàng chấp nhận thanh toán, thời điểm thu tiền…Cách tiếp cận theo quá trình không căn cứ vào thời điểm cụ thể gắn với giao dịch tạo ra doanh thu Theo đó, hoạt động tạo ra doanh thu được quan niệm là một quá trình mà các hoạt động trong quá trình đó tạo ra doanh thu Vấn đề đặt ra là kết thúc kỳ kế toán khi một phần quá trình tạo ra doanh thu
đã được thực hiện thì doanh thu có được ghi nhận hay không và ghi nhận như thế nào?
Với tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan (2014), doanh thu được ghi nhận theo hai cách: theo tiến độ kế hoạch và theo khối lượng thực hiện Chi phí được ghi nhận sau khi ghi nhận doanh thu Quan điểm thứ nhất, chi phí phát sinh được tập hợp là chi phí SXKD dở dang, sau khi ghi nhận doanh thu của HĐXD, lúc đó mới kết chuyển chi phí
dở dang để tính giá thành công trình Quan điểm thứ hai, chi phí được ghi nhận theo phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng.Theo đó, khi kết quả thực hiện HĐXD không thể ước tính được một cách đáng tin cậy, thì chi phí của hợp đồng chỉ được ghi nhận là chi phí trong kỳ khi các chi phí này phát sinh
Về cơ bản cho dù tiếp cận theo quan điểm nào thì việc ghi nhận doanh thu phải phù hợp với giả định, khái niệm và nguyên tắc kế toán gắn với loại hình kế toán động để hình thành các điều kiện ghi nhận Các điều kiện ghi nhận doanh thu được thiết lập trên cơ sở(1) tình chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh tế, (2) khả năng
Trang 20đo lường được kết quả một cách đáng tin cây, (3) quá trình tạo ra doanh thu cơ bản được hoàn thành
Đối với chi phí, theo tác giả Mai Ngọc Anh(2014), và Nguyễn Thị Thanh Loan(2014), trên cơ sở giao dịch, chi phí phát sinh khi DN thực hiện các giao dịch dẫn tới tạo ra thu nhập trong kỳ Kế toán động hiện đại phản ánh các luồng lợi ích kinh tế của DN, vì vậy, bản chất của chi phí là sự suy giảm các luồng lợi ích như một sự hy sinh để có thể nhận được các khoản thu nhập
Về thực chất, cách tiếp cận theo giao dịch là cách tiếp cận theo thời điểm Cách tiếp cận theo HĐ là cách tiếp cận theo quá trình, gắn với giai đoạn, các hoat động theo quá trình hoạt động tạo ra doanh thu Qua nghiên cứu các luận án ở Việt Nam trước năm 2016, phần lớn các tác giả tiếp cận doanh thu, chi phí theo giao dịch mà chưa tiếp cận theo quá trình, chưa đưa ra một khung lý luận về thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí theo thời điểm hay quá trình Thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí được xác định dựa trên các điều kiện ghi nhận doanh thu theo VAS 14 và nguyên tắc phù hợp để ghi
nhận chi phí Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đơn vị hoàn thành nghĩa vụ tạo ra giao
dịch đó Hiện nay, việc hoàn thành nghĩa vụ tạo ra doanh thu khi mà DN chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó Thời điểm ghi nhận chi phí phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu Đối với DNXD trong nước, thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí được dựa trên VAS 14, VAS 15
Các luận án sau năm 2016 với sự ra đời TT200/2014/TT-BTC, cũng đã đề cập đến ghi nhận doanh thu, chi phí nhưng không đề cập cụ thể đến thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí Tuy nhiên tác giả Nguyễn Diệu Linh(2019) với luận án “Kế toán doanh thu dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam” đã đưa ra thời điểm ghi nhận doanh thu theo HĐ cho các DN dịch vụ viễn thông di động Theo tác giả doanh thu được ghi nhận theo thời điểm và theo thời kỳ Theo tác giả, doanh thu được ghi nhận theo thời điểm là doanh thu tại thời điểm giao dịch tạo ra doanh thu Doanh thu được ghi nhận theo thời kỳ, thời điểm ghi nhận doanh thu là khi chuyển giao quyền kiểm soát tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian
Như vậy đã có nhiều tài liệu nghiên cứu thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí tuy nhiên các nghiên cứu chưa đi sâu vào xác định thời điểm ghi nhận theo HĐ Tác giả Nguyễn Diệu Linh mới đề cập đến thời điểm ghi nhận doanh thu, chưa đề cập đến thời điểm ghi nhận chi phí và xác định kết quả kinh doanh Tác giả Trần Thị Thanh
Trang 21Loan cũng đề cập thời điểm ghi nhận nhưng chưa hoàn toàn gắn liền với HĐ trong các
DN xây dựng Đây cũng là một khoảng trống mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Về phương pháp xác định và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
Về phương pháp xác định và ghi nhận doanh thu, đặc biệt doanh thu theo
HĐXD được đề cập ở nhiều nghiên cứu như của Yuri Ijiri và cộng sự (2011), nghiên cứu của nhóm tác giả CS&H Group (2018), Amanda Corona (2019), Mai Ngọc Anh và cộng sự (2014),Lương Khánh Chi (2017),Nguyễn Thị Thanh Loan (2104), Nguyễn Diệu Linh(2019), Vũ Thị Quỳnh Chi (2019) phương pháp xác định doanh thu theo phương pháp hợp đồng hoàn thành và phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành Theo
đó, phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành thường được áp dụng để ghi nhận doanh thu đối với HĐ sản xuất, dịch vụ và xây dựng những tài sản có quy mô lớn, sản xuất và thi công dài Kế toán cần phát triển các phương pháp hợp lý để ước tính tỷ lệ hoàn thành của quá trình thực hiện hợp đồng Các phương pháp này được xây dựng dựa trên các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (giá dự toán) của từng HĐ hoặc đánh giá thực tế mức độ hoàn thành
Theo tác giả Vũ Hữu Đức và cộng sự (2010), việc ghi nhận doanh thu theo HĐ cần phải dựa trên việc xác định HĐ được ký kết là loại HĐ nào Hai loại HĐ được xem xét là HĐ theo tiến độ kế hoạch và HĐ khối lượng công việc hoàn thành Trong trường hợp HĐ được ký kết theo tiến độ kế hoạch HĐ, nhà thầu có quyền quyết định phương pháp xác định phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập BCTC để ghi nhận doanh thu mà không cần phải có sự xác nhận của khách hàng Doanh thu và giá trị ghi trên
HĐ yêu cầu khách hàng thanh toán có thể khác nhau Khoản chênh lệch giữa giá trị ghi nhận vào doanh thu và giá trị ghi nhận trên các lần xuất hóa đơn có thể là số âm hoặc
số dương do doanh thu có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị trên HĐ
Tác giả Lương Khánh Chi (2017) trong luận án “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh trong DN sản xuất xi măng thuộc tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam” đã đề cập đến ghi nhận doanh thu Doanh thu được ghi nhận khi DN hoàn thành trọn vẹn một nghĩa vụ thực hiện chuyển giao sản phẩm, hàng hóa theo cam kết với khách hàng Sản phẩm, hàng hóa được xác định là chuyển giao khi khách hàng có được quyền kiểm soát nó Quyền kiểm soát là khả năng quyết định việc sử dụng, khả năng thu được đáng kể mọi lợi ích còn lại Quyền kiểm
Trang 22soát bao gồm cả khả năng hạn chế các DN khác định đoạt và thu được lợi ích kinh tế
Kế toán ghi nhận doanh thu để phản ánh nghiệp vụ chuyển giao sản phẩm, hàng hóa tới khách hàng theo cam kết với giá trị tương ứng của khoản thanh toán kỳ vọng nhận được từ giao dịch trao đổi sản phẩm, hàng hóa cần vận dụng 5 bước:
- Bước 1: Xác định hợp đồng với khách hàng
- Bước 2: Xác định nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng
- Bước 3: Xác định giá trị giao dịch
- Bước 4: Phân bổ giá trị của giao dịch cho các nghĩa vụ theo HĐ
- Bước 5: Ghi nhận doanh thu
Đồng quan điểm, tác giả Nguyễn Diệu Linh(2019) nghiên cứu việc ghi nhận doanh thu dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam Tác giả cho rằng việc ghi nhận doanh thu dựa trên cơ sở:
Thứ nhất: xác định thời điểm chuyển giao quyền kiểm soát tài sản cho khách hàng Doanh thu được ghi nhận theo thời điểm hoặc thời kỳ
Thứ hai: tính chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
Thứ ba: khả năng đo lường được kết quả một cách đáng tin cậy
Thứ tư: khi ghi nhận doanh thu theo HĐ phải thực hiện thông qua mô hình
5 bước
Về phương pháp xác định và ghi nhận chi phí: Phương pháp xác định chi phí
được đề cập trong các luận án trước đây chủ yếu phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí gắn với quá trình sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí máy thi công (đối với DNXD), phục vụ cho công tác kế toán quản trị như phương pháp xác định chi phí theo công việc, phương pháp chi phí mục tiêu, phương pháp chi phí theo hoạt động ABC… Các tác giả như Nguyễn La Soa (2016), Lương Khánh Chi (2017), Trương Thanh Hằng(2014),
Lê Thị Hương (2017) đi sâu vào việc kiểm soát chi phí nhằm mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh Việc xác định chi phí theo góc độ tài chính chỉ được đề cập một cách chung chung Việc tập hợp và phân bổ chi phí được thực hiện theo khối lượng công việc hoàn thành
Theo Milan H Van (2017) Việc ghi nhận chi phí theo hợp đồng đặc biệt hợp đồng xây dựng cũng có sự khác biệt với việc ghi nhận chi phí ở các loại hình hoạt động khác Chi phí ghi nhận phải phù hợp doanh thu phát sinh theo hợp đồng và theo từng
Trang 23kỳ kế toán Tác giả cho rằng có sự tương đồng trong việc ghi nhận chi phí giữa IAS 11
và IFRS 15 Các chi phí được ghi nhận là những chi phí phát sinh để hoàn thành HĐ
Cả IAS 11 và IFRS 15 đều đưa ra những loại chi phí cần thiết để hoàn thành các nghĩa
vụ theo HĐ Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp các nhà quản lý ra quyết định liên quan đến HĐ IFRS 15 được xem là một bước tiến lớn trong việc ghi nhận chi phí nhằm tạo sự phù hợp hơn với chuẩn mực khác như IAS2, IAS16, IAS 38 Một nội dung quan trọng được đề cập trong IFRS 15 là việc ghi nhận chi phí như một khoản tài sản nếu những khoản chi phí này có khả năng thu hồi Đây là điểm khác biệt giữa IAS
11 và IFRS 15 Điều này nhằm đảm bảo chi phí gắn trực tiếp với HĐ, các chi phí không liên quan đến HĐ không được ghi nhận vào chi phí theo HĐ Theo IAS 11, chi phí được ghi nhận phù hợp với doanh thu tương ứng với tỷ lệ phần trăm hoàn thành
HĐ Theo IFRS 15, chi phí HĐ phải được phân bổ vào lãi hoặc lỗ theo phương pháp tương tự như việc ghi nhận doanh thu thông qua việc thực hiện nghĩa vụ Về cơ bản khá tương đồng với nguyên tắc phù hợp trong IAS 11
Trong Luận án của Lương Khánh Chi (2017) và Nguyễn Diệu Linh (2019), Vũ Thị Quỳnh Chi (2019) đã đề cập đến HĐ, nhưng chủ yếu đến doanh thu HĐ Các luận
án đã hướng đến sự ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 15 cho việc đo lường và ghi nhận doanh thu cho những loại hình doanh nghiệp nhất định Tuy nhiên các luận án chưa xem xét đến các chi phí theo HĐ Mặc dù đây là một trong những yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của DN Các chi phí được
đo lường và ghi nhận theo quy trình sản xuất thông thường chưa gắn với HĐ hoặc có gắn liền với HĐ nhưng việc ghi nhận của kế toán chưa phù hợp Đây được xem là khoảng trống mà đề tài cần nghiên cứu để giải quyết
Về phương pháp xác định và ghi nhận kết quả hoat động kinh doanh: Theo tác
giả Mai Ngọc Anh và cộng sự (2014) khi tiếp cận từ các quan điểm lý thuyết kế toán
Lý thuyết sở hữu với loại hình kế toán tĩnh, tiếp cận kết quả hoạt động theo quan điểm kinh tế Theo đó, kết quả hoạt động là sự gia tăng giá trị của đơn vị, được xác định bằng giá trị tài sản thuần cuối kỳ trừ giá trị tài sản thuần đầu kỳ, không bao gồm biến động trực tiếp của tài sản thuần do chủ sở hữu góp thêm hoặc rút vốn Về logic, lý thuyết sở hữu và loại hình kế toán tĩnh không phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành kết quả hoạt động Lý thuyết thực thể và loại hình kế toán động truyền thống đo lường kết quả trên cơ sở các giao dịch và sự kiện làm phát sinh chi phí và thu nhập Trong đó, thu
Trang 24nhập và chi phí được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc dồn tích Kết quả hoạt động không bao gồm giá trị của tài sản và nợ phải trả biến động do các sự kiện không gắn với hoạt động động của đơn vị
SFAS 130 (1997) đã đề cập đến khái niệm kết quả toàn diện “Kết quả toàn diện
là một sự ước tính đầy đủ về ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện khác đến vốn chủ
sở hữu, ngoại trừ các khoản phát sinh trực tiếp với các chủ sở hữu” Về bản chất, khái niệm kết quả toàn diện là sự kết hợp của hai quan điểm lý thuyết sở hữu và lý thuyết thực thể trong bối cảnh các chủ thể sử dụng thông tin rất đa dạng Họ quan tâm đến cả hai khía cạnh: đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực và đo lường sự gia tăng giá trị tài sản thuần Theo quan điểm kế toán động hiện đại, có sự vận dụng các lý thuyết và quan điểm kế toán khác nhau
Theo tác giả Mai Ngọc Anh, nghiên cứu lịch sử phát triển của lý thuyết và thông lệ kế toán có thể ghi nhận các quan điểm khác nhau về một trong những vấn đề
cơ bản của kế toán là đo lường kết quả hoạt động Các quan điểm khác nhau đều dựa trên những giả định về điều kiện và môi trường mà trong đó kế toán được thực hiện Việc lựa chọn quan điểm nào phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, làm nên tảng xây dựng khuôn khổ quy định về kế toán
- Về việc trình bày thông tin doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh theo hợp đồng
Qua nghiên cứu của tác giả, các luận án và tài liệu trước đây phần lớn thực hiện việc công bố thông tin trên BCTC tiếp cận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh chủ yếu là theo giao dịch, theo sự chuyển giao rủi ro và lợi ích của hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng nên việc trình bày của kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở này Tuy nhiên luận án của tác giả Nguyễn Diệu Linh(2019) và Vũ Thị Quỳnh Chi(2019) đã đi sâu vào nghiên cứu tiếp cận doanh thu theo hướng chuyển giao quyền kiểm soát và các nghĩa vụ trong HĐ cho từng lĩnh vực cụ thể là DN dịch vụ viễn thông Các tác giả đã đưa ra việc trình bày thông tin trên BCTC, báo cáo thuế và các báo cáo quản lý khác Tác giả Nguyễn Diệu Linh cho rằng, BCTC cần cung cấp thêm các thông tin về HĐ với khách hàng Nghĩa là có thể phát sinh khoản mục tài sản từ HĐ hoặc nợ phải trả từ HĐ hoặc là một khoản phải thu, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa tình hình thực hiện nghĩa vụ của DN và sự thanh toán của khách hàng Mục tiêu là để một DN công bố thông tin đầy đủ để giúp những người sử dụng BCTC hiểu được bản chất, giá
Trang 25trị, thời gian và sự không chắc chắn của doanh thu và các dòng tiền phát sinh từ các
HĐ với khách hàng Theo hướng tiếp cận này, tác giả đã đi sâu và làm rõ những quy định chi tiết về việc trình bày thông tin về HĐ với khách hàng cũng như những thông tin về các nghĩa vụ mà DN phải hoàn thành theo từng HĐXD hay các ước tính được sử dụng trong việc ghi nhận và đo lường doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trên BCTC trong các DNXDDD
Thứ ba: Tổng quan về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh theo lĩnh vực ngành, nghề
Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh đã được nghiên cứu trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Có thể kể đến một số luận án nghiên cứu sau: tác giả Trương Thanh Hằng(2014) đề cập đến kế toán doanh thu, chi phí, và kết quả trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, vận tải; luận án của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh (2015) đề cập đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả trong doanh nghiệp thép thuộc công ty thép Việt Nam, hay luận án của tác giả Trần Tuấn Anh (2016) đề cập đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả của các doanh nghiệp sản xuất chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Các nghiên cứu trên đã đưa ra những nguyên tắc, cơ
sở, phương pháp ghi nhận và trình bày doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chí phí và xác định kết quả kinh doanh cho các DN trong các lĩnh vực, ngành nghề cụ thể từ đó mà đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kê toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong những điều kiện nhất định về phía DN và Nhà nước Việc hoàn thiện được thực hiện dựa theo quy trình kế toán: thu thập thông tin, xử lý thông tin và cung cấp thông tin Việc hoàn thiện về cơ bản đều thực hiện theo cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Trong đó đi sâu vào kế toán quản trị doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh như xây dựng định mức, lập dự toán, xây dựng dự toán doanh thu, xây dựng các mô hình kế toán quản trị chi phí Tuy nhiên việc hoàn thiện được thực hiện dựa trên cơ sở chuẩn mực VAS14- Doanh thu, thu nhập và theo VAS 15- Hợp đồng xây dựng
Các tác giả gần đây như Lương Khánh Chi(2016), Nguyễn Diệu Linh (2019),
Vũ Quỳnh Chi (2019) là những tác giả cũng nghiên cứu doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh theo hướng tiếp cận IFRS 15- doanh thu hợp đồng với khách hàng cho các doanh nghiệp viễn thông, vận tải Tuy ở các các mức độ khác nhau và ở các
Trang 26lĩnh vực khác nhau nhưng những luận án này đã mở đầu cho nghiên cứu chi tiết và cụ thể về kế toán theo HĐ Tác giả cũng kế thừa những nghiên cứu này để giải quyết các vấn đề trong luận án của mình
Đối với lĩnh vực xây dựng, khá nhiều các nghiên cứu vào lĩnh vực này những phần lớn các nghiên cứu là đi sâu vào nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong các DNXD như Giáp Đăng Kha (2015), tác giả Nguyễn La Soa (2015), tác giả Lê Thị Hương (2017) Các luận án chỉ tập trung nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong các
DN xây dựng, các tác giả cho thấy, chi phí là một trong những yếu tố quan trọng trong BCTC Việc xác định và ghi nhận chi phí một cách hợp lý giúp các DN quản lý chi phí một cách hiệu quả, giảm thiểu chi phí, tăng lợi nhuận cho DN Các tác giả xây dựng định mực chi phí, lập dự toán chi phí, xây dựng mô hình quản trị chi phí phù hợp với DNXD Trên cơ sở đó, xây dựng kế toán quản trị chi phí phục vụ cho các chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức thực hiện, chức năng kiểm soát
Qua tìm hiểu, phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy, các nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong DNXD, đặc biệt DNXDDD còn khá nhiều khoảng trống Việc kế thừa và tiếp cận các nghiên cứu trước đây sẽ giúp hoàn thiện cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong DNXD là rất cần thiết Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa
ra những vấn đề cần được giải quyết về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại DNXDDD trong điều kiện hội nhập kinh tế, khi chúng ta đang trong quá trình tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế, trong đó có chuẩn mực kế toán IFRS 15- Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng
2.2 Kết luận rút ra từ các công trình đã nghiên cứu
Thông qua những nghiên cứu về các công trình trong nước và quốc tế về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh, tác giả rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về kê toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh cho đến thời điểm này tuy đã có nhiều luận án nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động xây dựng nhưng vẫn chưa đầy đủ và chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể các doanh nghiệp xây dựng dân dụng
Thứ hai, các nghiên cứu phần lớn tiếp cận doanh thu, chi phí theo đúng quy trình kế toán từ thu thập thông tin, xử lý thông tin, cung cấp thông tin Việc tiếp cận
Trang 27theo góc độ hợp đồng xây dựng tuy đã được đề cập trong một số luận án nhưng chỉ là những thông tin bổ sung không gắn với công tác kế toán hoặc gắn với những ngành nghề khác không phải là ngành xây dựng
Thứ ba, thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh thường được gắn với thời điểm phát sinh giao dịch mà không gắn với hợp đồng mà đây
là đặc điểm riêng có của các doanh nghiệp xây dựng nói chung và doanh nghiệp xây dựng dân dụng nói riêng
Thứ tư, về phương pháp đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Mặc dù có nhiều phương pháp xác định doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh, tuy nhiên do đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng có sự khác biệt với doanh nghiệp sản xuất nên phương pháp xác định doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh cũng cần phù hợp với đặc điểm riêng có của ngành xây dựng Việc ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh cũng cần gắn với nghĩa vụ phải hoàn thành theo hợp đồng
Thứ năm, việc trình bày thông tin doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trên báo cáo tài chính chưa có những hướng dẫn cụ thể liên quan đến HĐXD và các nghĩa vụ theo HĐ Do vậy không đảm bảo sự thống nhất giữa các DNXDDD trong việc cung cấp thông tin đến các đối tượng sử dụng thông tin
Trên cơ sở kế thừa các nội dung cơ bản của kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các nghiên cứu trong nước và ngoài nước Đồng thời xuất phát từ
những khoảng trống trên tác giả đã lựa chọn nghiên cứu chọn đề tài: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội”
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng, thực trạng
kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong DNXDDD tại Hà Nội, thuận lợi và khó khăn khi DNXDDD chuyển đổi sang áp dụng IFRS 15
3.1 Về mặt lý luận
Luận án xây dựng cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng nói chung, từ đó vận dụng cho DNXDDD Phân
Trang 28tích các đặc điểm của hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Ngoài ra, tác giả phân tích xu hướng áp dụng chuẩn mực
kế toán quốc tế IFRS 15 tại các quốc gia trên thế giới.Sự khác biệt giữa IFRS 15 và IAS 11
- Đưa ra các giải pháp và điều kiện để thực hiện những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong các DNXDDD tại Hà Nội nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả hơn Luận án cũng đưa ra những điều kiện để DNXDDD tại Hà Nội có thể chuyển đổi sang áp dụng IFRS 15 và những kiến nghị để Bộ Tài chính trong việc áp dụng IFRS 15
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án, các câu hỏi liên quan đến các vấn
đề về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng dân dụng mà luận án cần phải phân tích như sau:
1 Cơ sở lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng bao gồm những nội dung gì?
2 Đặc điểm của DNXD ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng như thế nào?
3 Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong DNXDDD tại Hà Nội
4 Hoàn thiện các nội dung của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các DNXDDD tại Hà Nội như thế nào cho phù hợp với xu hướng hiện nay?
Trang 295 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong DNXD, cụ thể: xác định Hợp đồng, thời điểm ghi nhận, phương pháp xác định và ghi nhận, kế toán và trình bày thông tin trên BCTC
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về giới hạn hoạt động: Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp xây dựng dân dụng khá đa dạng và phong phú bao gồm: hoạt động xây dựng, hoạt động kinh doanh bất động sản, hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác Tuy nhiên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu các hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại
Hà Nội Các DNXDDD khảo sát được xem xét dưới góc độ nhà thầu bao gồm nhà thầu chính và nhà thầu phụ không nghiên cứu dưới góc độ chủ đầu tư Luận án không đi sâu vào các hoạt động đầu tư khác của doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội như kinh doanh bất động sản hoặc hoạt động khác…
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh có nhiều khía cạnh bao gồm nội dung, tổ chức công tác kế toán…Tuy nhiên, do thời gian và giới hạn của một luận án tiến sĩ, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu nội dung kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng dưới góc độ kế toán tài chính không nghiên cứu dưới góc độ kế toán quản trị Tác giả nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh phát sinh tại tổng công ty/ công ty mẹ/ công ty và đơn vị thành viên trực thuộc, các thông tin trên BCTC riêng của từng DN, không nghiên cứu doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trên BCTC hợp nhất Những nội dung khác có thể được đề cập trong luận
án nhưng chỉ mang tính bổ sung và sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở những đề tài khác
- Phạm vi về mặt không gian: luận án chỉ tập trung nghiên cứu những doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội bao gồm cả các tổng công ty, công ty con, công
ty cổ phần, công ty TNHH…
- Phạm vi về mặt thời gian: dữ liệu được nghiên cứu từ năm 2016 đến năm
2020, là giai đoạn phân khúc xây dựng dân dụng đang phát triển mạnh mẽ
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với những lý thuyết cơ bản của khoa học kinh tế để nghiên cứu các vấn đề lý luận và
Trang 30thực tiễn Về lý luận tác giả dựa trên cơ sở các khái niệm, nguyên lý đã được nghiên cứu và thừa nhận ở Việt Nam và trên thế giới Phương pháp nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính để sử dụng để khảo sát, tổng hợp, phân tích kết quả điều tra nghiên cứu thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội Cụ thể phương pháp thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu được tiến hành như sau:
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận án thu thập dữ liệu thứ cấp thông
qua phương pháp nghiên cứu tài liệu Các tài liệu ở đây bao gồm các tài liệu có sẵn liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các nguồn khác nhau: công trình nghiên cứu khoa học, các thông tư, nghị định, văn bản quy định của pháp luật, các sổ sách kế toán, trên mạng internet… Các nguồn dữ liệu trong nước và nước ngoài
Tác giả căn cứ vào BCTC công bố của các DNXD, BCTC sao chụp từ phòng kế toán của DNXD tại Hà Nội Các tài liệu về bộ máy quản lý, bộ máy kế toán của DNXD, hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán bao gồm sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết liên quan doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh DNXD tại Hà Nội
Các tạp chí chuyên ngành: Tạp chí nghiên cứu tài chính, Tap chí nghiên cứu khoa học kế toán, Tạp chí Kế toán- Kiểm toán, các tạp chí nước ngoài
Các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế IASB, trang thông tin của của DNXD tại Hà Nội, các văn bản pháp luật có liên quan hoạt động xây dựng, luật kế toán, VAS, IAS, nghị định, thông tư, quyết định… của Bộ, Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan
Nội dung và mục đích sử dụng các dữ liệu thứ cấp cụ thể như sau: Đây là những thông tin quá khứ quan trọng giúp tác giả có cái nhìn cơ bản và tổng quan về những vấn đề đã được đặt ra và giải quyết trong thời gian qua để tìm ra khoảng trống mà luận
án sẽ cần phải nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:Phương pháp được áp dụng trong luận án
là phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp từ các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế, các nhà nghiên cứu Tác giả sử dụng các phương pháp sau: phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát và phương pháp phỏng vấn
Trước hết, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các báo cáo hoạt động xây dựng của Bộ xây dựng, Công ty FPTS về tình hình tăng trưởng của DNXD qua các năm để
Trang 31xác định phạm vi nghiên cứu của mình Phương pháp thống kê, quy nạp và diễn giải để phân tích doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng theo VAS 14, VAS 15, chế độ kế toán áp dụng cho DN như TT200/2014/TT-BTC, TT133/2016/TT-BTC
Trước tiên, tác giả nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống kê thông tin từ các BCTC của các DNXDDD tại Hà Nội, nhằm thu thập thông tin về kế toán của DN Tuy nhiên do các thông tin trên BCTC là chưa đầy đủ về thực tế kế toán doanh thu, chi phí
và xác định kết quả kinh doanh thực tế của DN Tác giả đã tiến hành ba cuộc khảo sát: Xây dựng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp chuyên gia, sau đó gửi bảng hỏi qua email, điện thoại, Google doc
Cuộc khảo sát thứ nhất, tác giả phỏng vấn 8 đối tượng (bao gồm 4 nhân viên kế toán thuộc công ty Vimeco, công ty xây dựng nhà số 1 thuộc Tổng công ty xây dựng nhà Hà Nội- Handico, Tập đoàn xây dựng Tây Bắc, công ty xây dựng Sông đà 1, 2 nhà quản lý của công ty Vinaconex, công ty Handico, 2 kiểm toán viên độc lập) Trên cơ sở thu thập thông tin từ Vinaconex, cùng với việc khảo sát, điện thoại với đối tượng liên quan đến các Tổng công ty xây dựng nhà Hà Nội Hadico, Tổng công ty xây dựng Sông
Đà, Tập đoàn XD Tây Bắc Kết quả thu được tác giả tổng hợp và phân tích nhằm thu thập thông tin ban đầu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của DNXDDD, cơ cấu quản
lý, hình thức tổ chức, mô hình tổ chức và phân cấp quản lý trong doanh nghiệp
Cuộc khảo sát tiếp theo, tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi để tiến hành thu thập thêm các ý kiến và quan điểm của những người sử dụng thông tin kế toán và những người xây dựng bộ máy kế toán tại các công ty xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua việc gửi các câu hỏi trực tiếp hoặc thông qua Google.doc cho những đối tượng sau: Các nhà quản lý của doanh nghiệp, kế toán trưởng, kế toán các doanh nghiệp Tác giả đã gửi đi số phiếu điều tra 100 phiếu, trong đó số phiếu nhận được 65 phiếu
Các phiếu điều tra được tác giả gửi đi với mục đích tìm hiểu các thông tin liên quan đến cách thức ghi nhận, xác định và trình bày doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của các DNXDDD tại Hà Nội Lấy ý kiến đánh giá thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong thời gian qua
Từ đó cho thấy những vấn đề phát sinh cần được giải quyết đối với công tác kế toán
Trang 32doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh dựa trên hợp đồng tại DNXDDD
(phụ lục 1A, phụ lục 1B)
Cuộc khảo sát thứ ba, tác giả gửi phiếu khảo sát bằng Google.doc đến 30 đối
tượng bao gồm các đối tượng là nhân viên kế toán, chuyên gia kế toán kiểm toán, các
giảng viên đại học, kiểm toán viên nhằm xem xét khả năng áp dụng IFRS 15 trong các
DNXD ở Việt Nam Tác giả cũng thực hiện phỏng vấn hai chuyên gia về kế toán để
tìm ra những khó khăn và kiến nghị các giải pháp nhằm hỗ trợ các DNXD trong quá
trình chuyển đổi sang áp dụng chuẩn mực kế toán mới, trong đó có IFRS 15 (Phụ lục
1C, phụ lục 1D)
Số phiếu gửi đi 30, số phiếu nhận về 30
Stt Đối tượng khảo sát Số lượng
5 Giảng viên đại học 6
6.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Các tài liệu thu thập được sẽ được kiểm tra, phân loại, đánh giá và được sắp xếp
theo từng nội dung nghiên cứu Về mặt lý luận, tác giả đưa ra những khái niệm và nội
dung cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh nói chung và
kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây
dựng dân dụng nói riêng, sự ảnh hưởng của hoạt động xây dựng đến công tác kế toán
tại các doanh nghiêp Về mặt thực tiễn, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng kế toán
doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh thông qua các công cụ xử lý dữ liệu
để tính toán và tổng hợp dữ liệu thu thập được theo mục tiêu của luận án
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Thứ nhất về khoa học: luận án nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về nội
dung kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh hoạt động xây dựng trong các
doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới hai góc độ theo
giao dịch và theo hợp đồng xây dựng
Trang 33Thứ hai về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội, nêu ra được những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế này trong kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội Đồng thời đưa ra những điều kiện để thực hiện các giải pháp trên nhằm giúp các doanh nghiệp xây dựng hoạt động một cách có hiệu quả hơn
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh hoạt động xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội
Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh
hoạt động xây dựng trong các đơn vị xây dựng dân dụng tại Hà Nội
Trang 34Chương 1
LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1 Hoạt động xây dựng và đặc điểm của hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí xác định kết quả kinh doanh
1.1.1 Khái niệm và phân loại hoạt động xây dựng
Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công công trình xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,
có thể bao gồm dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, thủy lơi, năng lượng và các công trình khác
Công trình xây dựng được phân loại thành các loại công trình sau:
Công trình dân dụng bao gồm:
- Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ
- Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa, công trình giáo dục, công trình y tế, công trình thương nghiệp, dịch vụ, nhà làm việc, khách sản, nhà khách, nhà phục vụ giao thông, nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóng, phát thanh, sóng truyền hình, nhà ga, bến xe, công trình thể thao các loại
Công trình công nghiệp gồm:
- Công trình khai thác than, khai thác quặng, công trình khai thác dầu khí, công trình hóa chất, hóa dầu, công trình kho xăng dầu, khí hóa lỏng, và tuyến ống phân phối khí, dầu, công trình luyện kim, công trình cơ khí, chế tạo, công trình công nghiệp điện tử- tin học, công trình năng lượng, công trình công nghiệp nhẹ, công trình công nghiệp
Trang 35thực phẩm, công trình công nghiệp vật liệu xây dựng, công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp
Công trình giao thông gồm: Công trình đường bộ, công trình đường sắt, công trình đường thủy, công trình cầu, hầm, sân bay
Công trình thủy lợi gồm: công trình hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, công trình kênh và bờ bao các loại
Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm:công trình cấp thoát nước, nhà máy xử lý nước thải, công trình xử lý chất thải, bãi chứa, bãi chôn lấp rác thải, công trình chiếu sáng đô thị…
Như vậy có thể thấy xây dựng dân dụng là những hoạt động chỉ liên quan đến hoạt động xây dựng nhà bao gồm nhà ở riêng lẻ, chung cư và các công trình công cộng khác như các công trình y tế, giáo dục, văn hóa… không bao gồm các hoạt động xây dựng như công trình giao thông, công trình công nghiệp, công trình thủy lợi…
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
Các doanh nghiệp xây dựng nói chung và các doanh nghiệp xây dựng dân dụng nói riêng thường khác biệt với hầu hết các loại hình doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp xây dựng thường phải đối mặt với những vấn đề và thách thức riêng có mà các loại hình doanh nghiệp khác không gặp phải Mặc dù xây dựng cũng là ngành tạo ra sản phẩm nhưng việc sản xuất ra sản phẩm cũng khác biệt với việc sản xuất ra sản
phẩm của các ngành công nghiệp khác
Thứ nhất, sản phẩm xây dựng là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có
quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc Mỗi công trình, các DNXD đều phải ký một hoặc một số các hợp đồng xây dựng sau khi đã thắng thầu (hoặc được chỉ định thầu) Mỗi HĐ bao gồm đầy đủ dự toán bao gồm dự toán thiết kế, dự toán thi công trình Dựa trên cơ sở những dự toán này để tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây dựng theo dự toán, quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng phải so sánh với
dự toán, lấy dự toán làm thước đo phần lớn hoạt động xây dựng
Thứ hai, khác với những doanh nghiệp sản xuất, quá trình hoạt động được định
hướng theo quy trình sản xuất thì đối DN xây dựng hoạt động xây dựng được định hướng theo từng hợp đồng xây dựng, cụ thể là từng công trình, hạng mục công trình Sản phẩm xây dựng cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (máy móc, thiết
Trang 36bị thi công, người lao động….) phải di chuyển theo địa điểm công trình Vì vậy sẽ phát sinh thêm nhiều các chi phí như chi phí xây dựng lán trại tạm thời cho công nhân, chi phí vận chuyển máy móc thiết bị, chi phí giám sát…
Thứ ba, sản phẩm xây dựng được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu) Mức giá này được thể hiện ngay trên HĐXD tại thời điểm ký kết hợp đồng Sản phẩm được sản xuất ra không cần phải tìm thị trường để bán sản phẩm Giá bán được xác định trước khi phát sinh chi phí thực tế để hình thành nên sản phẩm xây dựng Do đó tính chất hàng hóa của của sản phẩm xây dựng không thể hiện rõ (vì đã quy định rõ giá cả, người mua, người bán sản phẩm trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao thầu…)
Thứ tư, sản phẩm xây dựng từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình bàn
giao đưa vào sử dụng thường kéo dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng HĐXD Quá trình thi công được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như mưa, nắng, lũ lụt Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình đúng như thiết kế dự toán, các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình (chủ đầu tư giữ lại một tỷ lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết thời hạn bảo hành công trình mới trả lại cho đơn vị xây dựng)
Thứ năm, trong doanh nghiệp xây dựng, sản xuất kinh doanh được tổ chức theo
cơ chế khoán đang được áp dụng phổ biến Các DNXD sẽ khoán sản phẩm xây dựng cho công ty trực thuộc hoặc các tổ đội thi công Đây là hình thức nhằm gắn trách nhiệm
và lợi ích với người lao động.Từng đơn vị thi công sẽ chịu trách nhiệm về tiến độ thi công trình, khắc phục tình trạng chậm tiến độ, kéo dài thời gian thi công ảnh hưởng đến
kế hoạch bàn giao công trình Phương thức này cũng giao quyền tự chủ về hạch toán kinh doanh cho các đơn vị thi công Điều này sẽ nâng cao tính chủ động sáng tạo trong việc tổ chức quản lý lao động, tổ chức hoạt động xây dựng, tận dụng tối đa khả năng sẵn có của mình Về cơ bản có hai hình thức giao khoán là giao khoán toàn bộ chi phí sản xuất (khoán gọn) và giao khoán bộ phận chi phí sản xuất (khoán quản)
- Theo phương thức khoán gọn công trình: DN sẽ chỉ giữ lại một phần chi phí quản lý, phần còn lại giao khoán chi phí cho các đơn vị nhận khoán Toàn bộ thiết bị, vật tư các đơn vị nhận khoán tự chịu trách nhiệm và cam kết tiến độ thi công với đơn vị
Trang 37giao khoán Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành, lập quyết toán thanh toán toàn bộ giá trị khoán giữa 2 bên Đơn vi nhận khoán thường là những đơn vị có hệ thống kế toán riêng Đơn vị có thể tự hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh cho từng CT,HMCT
- Đối với hình thức khoán khoản mục chi phí: thường được áp dụng với tổ, đội xây dựng trực thuộc quản lý trực tiếp của DN, không tổ chức bộ máy kế toán riêng, không có đủ năng lực để thực hiện tất cả các phần công việc Do vậy, bên giao khoán
sẽ chỉ giao khoán từng khoản mục Máy móc thiết bị thường sẽ do bên giao khoán quản
lý và đồng thời đôn đốc thực hiện kiểm tra tình hình tiến độ thi công
Hơn nữa để đấu thầu các DN phải có năng lực về vốn, máy móc, thiết bị, tài sản… Các DN nhỏ lẻ thường không thể đáp ứng những yêu cầu này nên cần phải có các tổng công ty hoặc một số các công ty liên doanh làm hồ sơ để đi đấu thầu, nếu thắng thầu, tổng công ty chia thầu lại cho các công ty con Phương thức quản lý xây dựng theo phương thức khoán có nhiều ưu điểm nhưng để có hiệu quả cao cần xây dựng một cơ chế phù hợp với từng trường hợp cụ thể
Ngoài ra, có thể do khối lượng công việc quá nhiều hoặc phần việc đó, DN không có khả năng thực hiện thì doanh nghiệp cũng có thể thực hiện giao khoán cho các nhà thầu phụ, doanh nghiệp chỉ kiểm soát chênh lệch giữa doanh thu và chi phí giao khoán
Đặc điểm của hoạt động xây dựng đã ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí
và xác định kết quả kinh doanh trong DN xây dựng như sau:
Thứ nhất, do trước khi tiến hành xây dựng đều phải có dự toán chi tiết về doanh
thu, chi phí phát sinh cho từng HĐ Đây chính là căn cứ để xác định mức giá dự thầu cho từng công trình, hạng mục công trình.Việc kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh phải gắn liền với các dự toán về doanh thu, chi phí Các dự toán càng chi tiết cụ thể, ước tính trước được khả năng mà DNXD có thể gặp phải sẽ giúp
kế toán xác định được chính xác doanh thu, chi phí và kết quả kinh của từng HĐ
Thứ hai, do sản phẩm xây dựng là đơn chiếc, có quy mô và kết cấu phức tạp vì
vậy, mỗi HĐXD đều được mã hóa riêng Việc tập hợp doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh được kế toán thực hiện theo từng HĐXD hay từng công trình, hạng mục công trình Doanh thu, chi phí của công trình nào sẽ được tập hợp trực tiếp cho công trình đó Các chi phí liên quan hoạt động xây dựng thường phát sinh nhiều hơn so
Trang 38với hoạt động sản xuất kinh doanh khác Ngoài các chi phí như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sản xuất chung, còn có các chi phí liên quan đến máy thi công Đây là chi phí gắn liền với hoạt động xây dựng Tuy nhiên, để tận dụng tối đa nguồn lực hiện có, cùng một lúc các DNXD thường sẽ thực hiện nhiều HĐXD khác nhau Do đó dẫn đến có những khoản mục chi phí có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình khác nhau ví dụ như chi phí máy thi công, chi phí giám sát công trình… Những chi phí này không thể tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình, kế toán cần phải phân bổ những chi phí này dựa trên những tiêu thức nhất định cho từng công trình, hạng mục công trình
Thứ ba, do các công trình xây dựng thời gian thường kéo dài Một HĐXD có
thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm dẫn đến việc thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí
và xác định kết quả kinh doanh không phải đợi cho đến khi không công trình hoàn thành bàn giao mới ghi nhận mà được ghi nhận theo theo từng giai đoạn phù hợp với tiến trình hoàn thành hợp đồng
1.1.3 Hợp đồng xây dựng, phân loại hợp đồng xây dựng
Hợp đồng xây dựng (HĐXD): là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hoặc toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng Trong đó bên giao thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư hoặc tổng thầu hoặc nhà thầu chính Bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là chủ đầu tư, là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính Bên nhân thầu có thể là liên danh của các nhà thầu
Hợp đồng xây dựng bao gồm các loại sau:
- Thứ nhất: theo hình thức hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:
+ Hợp đồng trọn gói
+ Hợp đồng theo đơn giá cố định
+ Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh
+ Hợp đồng theo thời gian
+ Hợp đồng theo giá kết hợp là hợp đồng xây dựng sử dụng kết hợp các loại giá hợp đồng nêu trên
- Thứ hai theo mối quan hệ của các bên tham gia hợp đồng, hợp đồng xây dựng bao gồm các loại sau:
Trang 39+ Hợp đồng thầu chính là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà thầu chính hoặc tổng thầu
+ Hợp đồng thầu phụ là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng thầu với nhà thầu phụ
+ Hợp đồng giao khoán nội bộ là hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một cơ quan, tổ chức
+ Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước
- Thứ ba dựa vào cách tính giá, Hợp đồng xây dựng được chia ra thành HĐXD
có giá cố định, HĐXD với chi phí phụ thêm
+ HĐXD với giá cố định là HĐXD trong đó nhà thầu chấp thuận một mức giá
cố định cho toàn bộ hợp đồng hoặc một đơn giá cố định trên một đơn vị sản phẩm hoàn thành Trong một số trường hợp khi giá cả tăng lên, mức giá đó có thể thay đổi phụ thuộc vào các điều kiện ghi trong hợp đồng
+ HĐXD với chi phí phụ thêm là HĐXD trong đó nhà thầu được hoàn lại các chi phí thực tế được phép thanh toán, cộng thêm một khoản được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên những những chi phí này hoặc được tính thêm một khoản phí cố định
Tuy nhiên việc phân chia này không phải lúc nào cũng rõ ràng do có những HĐXD có đặc điểm của cả HĐXD cố định, chi phí phụ thêm
Ngoài ra, một HĐXD với khách hàng có thể xảy ra những trường hợp sau: hợp đồng có thời hạn cố định, hợp đồng có thể bị hủy ngang, hoặc sửa đổi bởi một trong các bên tham gia vào bất kỳ thời điểm nào Ngoài ra tùy vào quy định của hợp đồng mà hợp đồng có thể tự động gia hạn trên cơ sở định kỳ
1.1.4 Đặc điểm của hợp đồng xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
Như đã đề cập ở trên, có rất nhiều loại HĐ khác nhau Vì vậy, kế toán các DNXD cần xác định đó là loại hợp đồng gì để từ đó xác định việc ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh cho phù hợp
Thứ nhất, xác định thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Mỗi công trình xây dựng đều phải ký một hợp đồng xây dựng riêng biệt
Thời gian của HĐ có thể kéo dài trong một niên độ kế toán hoặc trong nhiều niên độ kế
Trang 40toán khác Do vậy, việc xác định khi nào ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào việc kế toán tiếp cận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh dưới góc độ nào theo giao dịch hoặc theo hợp đồng Doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh có thể được thực hiện khi phát sinh nghiệp
vụ mà không phụ thuộc vào hợp đồng Hoặc doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh được ghi nhận khi hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng
Thứ hai, phương pháp xác định doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Tùy thuộc vào thời gian hoàn thành hợp đồng và cam kết theo hợp đồng cũng
như cách tiếp cận của DN mà phương pháp xác định doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh sẽ khác nhau Phương pháp xác định doanh thu, chi phí có thể theo phương pháp công việc hoàn thành hoặc theo tiến độ hoàn thành hợp đồng Ngoài ra, đối với những HĐ mà thời gian thực hiện kéo dài, việc xác định khối lượng công việc hoặc nghĩa vụ hoàn thành bàn giao cũng ảnh hưởng đến việc ghi nhận doanh thu, chi phí Việc xác định khối lượng công việc hoặc nghĩa vụ hoàn thành bàn giao dựa trên tỷ
lệ phần trăm hoàn thành Tỷ lệ phần trăm hoàn thành có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng doanh nghiệp
Thứ ba, phương pháp kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Tùy thuộc vào đối tượng tập hợp mà phương pháp kế toán doanh thu, chi phí và
xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các DNXD là khác nhau Đối tượng tập hợp có thể theo công việc hoặc có thể theo nghĩa vụ hợp đồng
Thứ tư, trình bày thông tin trên báo cáo tài chính Việc trình bày thông tin trên
báo cáo tài chính cũng phụ thuộc vào việc đối tượng xác định doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của DN là theo công việc hay theo nghĩa vụ HĐ Nếu trình bày thông tin theo công việc, kế toán chỉ cần trình bày mức độ hoàn thành công việc theo từng HĐ Tuy nhiên nếu cách tiếp cận theo HĐ, việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính còn cần trình bày cụ thể theo từng nghĩa vụ HĐ, mức độ hoàn thành theo từng nghĩa vụ
1.2 Các khái niệm, nội dung doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng
1.2.1 Khái niệm, nội dung kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng
Có rất nhiều lý thuyết và phương pháp khác nhau để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh Mỗi lý thuyết kế toán lại có những quan điểm riêng về bản chất