Đề tài: So sánh – Đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn... ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ BÁO CÁO TỔNG KẾT NGHI
Trang 1Đề tài: So sánh – Đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Phụng, 18CNHCLC01, Khoa tiếng Nhật – Hàn – Thái
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NĂM HỌC 2020-2021
So sánh – Đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác
miêu tả thị giác trong tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Phụng, 18CNHCLC01, Khoa tiếng Nhật – Hàn - Thái
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 01
1 Lý do chọn đề tài 01
2 Mục tiêu nghiên cứu 01
3 Phương pháp nghiên cứu 01
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 02
5 Cấu trúc đề tài 02
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 03
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 03
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 03
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Việt 03
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Anh 03
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Hàn 03
1.2 Cơ sở lý luận 04
1.2.1 Khái niệm so sánh 04
1.2.2 Nghiên cứu đối chiếu về trường từ vựng – ngữ nghĩa 04
CHƯƠNG 2 SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU LỚP NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ TRI GIÁC MIÊU TẢ THỊ GIÁC TRONG TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG HÀN 05
2.1 Khái niệm động từ tri giác 05
2.2 Khái niệm động từ tri giác miêu tả thị giác 05
2.3 Lớp nghĩa cơ bản của động từ “nhìn” 06
2.4 Lớp nghĩa phái sinh của động từ “nhìn” 08
2.5 Tiểu kết 14
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 15
D TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16
Trang 4Bảng 2.4.1 Bảng khảo sát những câu có chứa động từ “nhìn” qua 5 chương đầu của bộ
truyện “The Da Vinci Code” và bản đối dịch Việt, Hàn 13
Bảng 2.4.2 Tổng hợp và tóm tắt các nét nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác “nhìn”
qua bảng 2.4.1 14
Trang 5ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: So sánh – Đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng
Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn
- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Phụng
- Lớp 18CNHCLC01 Khoa: tiếng Nhật – Hàn – Thái Năm thứ: 3
Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Th.S Đỗ Thị Quỳnh Hoa
- Rút ra những điểm giống và khác nhau của nhóm từ trên giữa ba ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa và từ vựng
3 Tính mới và sáng tạo:
Đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về động từ tri giác được đối chiếu giữa tiếng Hàn
và tiếng Việt Đồng thời dữ liệu nghiên cứu của đề tài này vẫn còn khá ít Trong đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu nhóm động từ tri giác miêu tả thị giác dựa trên dữ liệu của
cả ba ngôn ngữ Việt, Hàn và Anh Qua đó làm rõ hơn trường nghĩa của nhóm từ liên quan
để áp dụng vào quá trình giảng dạy, học tập hay dịch thuật
4 Kết quả nghiên cứu:
Qua khảo sát, thống kê và kế thừa, chọn lọc từ các bài nghiên cứu trước đó, người viết
đã đưa ra 4 nét nghĩa cơ bản của động từ tri giác nhìn và 3 nét nghĩa phái sinh từ 39 câu có chứa động từ nhìn trong 5 chương đầu của bộ tác phẩm The Davinci Code của Dan Brown
(2003) đối dịch Anh-Việt-Hàn Qua đó rút ra nhận xét về thói quen dùng từ của ba dân tộc
Trang 66 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác
giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp
dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện
đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 7ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Phụng
Sinh ngày: 07 tháng 02 năm 2000
Nơi sinh: Kon Tum
Khoa: Khoa tiếng Nhật – Hàn – Thái
Địa chỉ liên hệ: K68/22 Nguyễn Hữu Thọ, tổ 20B, phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu,
Đà Nẵng
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang
Trang 8Ngoài ra, khó có thể hiểu biết đầy đủ về các loại từ cơ bản trong tiếng Việt nếu như bỏ qua những động từ tri giác Sự thiếu vắng những công trình nghiên cứu về nhóm từ này trong tiếng Việt, đặc biệt là các công trình nghiên cứu liên quan được đối chiếu với tiếng Anh và tiếng Hàn cho thấy đề tài này là thực sự cần thiết
Những vấn đề đặt ra trên đây là lí do người viết chọn đề tài “So sánh – Đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn” để nghiên cứu nhằm góp phần vào phương hướng giảng dạy tiếng Hàn nâng cao và biên phiên dịch Việt ↔ Hàn, Việt ↔ Anh, Anh ↔ Hàn, đồng thời đóng góp một phần nhỏ vào định hướng phong cách dùng từ tự nhiên và phương pháp dịch tinh tế, chuẩn xác, dễ hiểu cho các đối tượng đang học tập và nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là các sinh viên khoa tiếng Anh và tiếng Hàn
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát và thống kê lớp nghĩa cơ bản, lớp nghĩa phái sinh của nhóm từ biểu thị thị giác trong tiếng Việt và đối chiếu với tiếng Anh và tiếng Hàn
Rút ra những điểm giống nhau và khác nhau của nhóm từ trên giữa ba ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa và từ vựng
Làm sáng tỏ sự phát triển nghĩa và khả năng kết hợp của nhóm từ này theo tư duy liên tưởng của mỗi dân tộc
Thấy được những đặc trưng về văn hoá của ba dân tộc cũng như phong cách sử dụng từ một cách tự nhiên của người bản ngữ thông qua việc nghiên cứu nhóm từ vựng - ngữ nghĩa này
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 92
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi của đề tài này, người viết chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở
tầng nghĩa của động từ tri giác đại diện cho thị giác trong tiếng Việt là nhìn và đối chiếu,
so sánh sự khác biệt, các lớp nghĩa phái sinh của nó trong tiếng Anh và tiếng Hàn
Đối tượng khảo sát chủ yếu của đề tài là các câu có chứa động từ nhìn trong 5 chương
đầu của bộ tác phẩm đối dịch The Da Vinci Code của Dan Brown (2003) Việt ↔ Hàn, Việt
↔ Anh, Anh ↔ Hàn
Các ví dụ về động từ “nhìn” được trích dẫn từ tác phẩm đối dịch The Da Vinci Code của Dan Brown (2003) và Từ điển tiếng Việt (2003) của Viện ngôn ngữ học, động từ “look” theo Từ điển Oxford và Từ điển Glosbe, động từ “보다” theo Đại từ điển tiêu chuẩn của Viện Quốc Ngữ Quốc gia Hàn Quốc1
5 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Công trình nghiên cứu gồm 16 trang, 2 bảng Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, đề tài bao gồm 2 chương như sau: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2 So sánh – đối chiếu lớp nghĩa của động từ tri giác miêu tả thị giác trong
tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Hàn
1 https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english
https://vi.glosbe.com/vi/en
https://stdict.korean.go.kr
Trang 103
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Việt
Một số bài nghiên cứu của các tác giả trong nước đã từng đề cập đến động từ tri giác ở
góc độ từ vựng Tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Kim Thản (1977), trong Động từ trong
tiếng Việt đã xếp các động từ tri giác vào nhóm “động từ cảm nghĩ-nói năng” vì “những
động từ này biểu thị sự hoạt động của trí não, của các cơ quan cảm giác và ngôn ngữ” Còn
theo Cao Xuân Hạo (1991), một động từ tri giác, chẳng hạn như nhìn, biểu thị một quá trình
ứng xử, có hai diễn tố (hành thể và mục tiêu) Sau này, Nguyễn Tất Thắng (2008) có phân tích về vai trò của thị giác trong ngôn ngữ theo cách nhìn tri nhận luận, tuy nhiên, trong đó không phân tích các động từ thị giác
Có một bài viết của Hoàng Thị Hòa (2013) về “Hiện tượng đa nghĩa của động từ “see”
trong tiếng Anh nhìn từ góc độ Ngôn ngữ học tri nhận” Trong đó tác giả lấy đối tượng
nghiên cứu là toàn bộ các động từ tri giác và phân tích theo nhiều quan điểm ngôn ngữ học khác nhau
Tuy nhiên, có lẽ đây là một vấn đề còn mới, nằm trong phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận cũng còn mới và trẻ nên vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và
có hệ thống
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Anh
Trên thế giới, một số nhà ngôn ngữ học đã có các công trình nghiên cứu về động từ tri
giác miêu tả thị giác, tiêu biểu trong số đó là “The Perception of the Visual World” của Gibson, J.J (1950) hay “Seeing clearly: Frame semantic, psycholinguistic, and cross-
linguistic approaches to the semantics of verb see” của Baker, Collin F (1999) Các nhà
nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về động từ tri giác dưới góc nhìn tri nhận
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về động từ tri giác miêu tả thị giác trong tiếng Hàn
Kể từ khi ngôn ngữ học tri nhận phát triển, các đề tài liên quan bắt đầu được chú ý, trong
số đó đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về động từ tri giác bằng phương pháp tri nhận Tại Hàn Quốc cũng đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đã thực hiện đề tài nghiên cứu trên Cụ thể là về động từ tri giác miêu tả thị giác, Park Ki Sung (2006) đã đề cập đến trong bài nghiên cứu của mình: “Động từ ‘보다’ nên được phân thành ‘보다 1’ chỉ hành động và
Trang 114
‘보다 2’ chỉ trạng thái ‘보다 1’ có những đặc điểm của sự hoạt động, ý định và thời gian kéo dài, trong khi ‘보다 2’ diễn tả sự tiếp xúc trực quan một cách tức thời thì có những đặc điểm của sự ngẫu nhiên, tính bị động và tính tức thời.” (Tạm dịch)
1.2 Cơ sở lý luận
Trước hết, đây là một đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu dựa trên hệ thống cơ sở lí luận của ngôn ngữ học đối chiếu, vì thế đầu tiên người viết nghiên cứu, kế thừa và vận dụng có chọn lọc các quan điểm và nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học đối chiếu trong việc nghiên cứu ngôn ngữ như sau
So sánh và đối chiếu là hai từ không có quá nhiều sự khác nhau về mặt ý nghĩa "So sánh"
là xem xét để tìm ra những điểm tương đồng hoặc khác biệt nhau về mặt số lượng, kích thước, phẩm chất, còn "đối chiếu" là so sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau.2
1.2.2 Nghiên cứu đối chiếu về trường từ vựng – ngữ nghĩa
Đối tượng đối chiếu trong nghiên cứu đối chiếu về trường từ vựng – ngữ nghĩa là những điểm giống và khác nhau của thành phần từ vựng và quan hệ từ vựng trong các ngôn ngữ được đem ra đối chiếu
Trong quá trình đối chiếu, cần phân biệt được trường liên tưởng và trường tuyến tính Đối chiếu trường liên tưởng là đối chiếu các nhóm từ có chung một nét nghĩa nào đó Đối chiếu trường tuyến tính là đối chiếu về khả năng kết hợp, khả năng thay thế của các từ trong trường
2Văn Tân (1994) Từ điển tiếng Việt Nxb Khoa học Xã hội.
Trang 125
CHƯƠNG 2
SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU LỚP NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ TRI GIÁC MIÊU TẢ THỊ
GIÁC TRONG TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG HÀN
2.1 Khái niệm động từ tri giác
Trong các tài liệu nghiên cứu tiếng Việt trước đây, động từ tri giác đã được một số tác giả đề cập ở góc độ từ vựng, tiêu biểu là Nguyễn Kim Thản (1977) và ở góc độ ngữ nghĩa-
cú pháp, tiêu biểu là Cao Xuân Hạo (1991) Nguyễn Kim Thản (1977) xếp động từ tri giác vào nhóm “động từ cảm nghĩ – nói năng” vì “những động từ này biểu thị sự hoạt động của trí não, của các cơ quan cảm giác và ngôn ngữ”
Dưới đây là một vài khái niệm liên quan đã được các nhà nghiên cứu, nhà ngôn ngữ học…
đề xuất trước đó, trong cả tiếng Anh và tiếng Hàn:
“ Động từ tri giác là nhóm động từ đặc biệt, nhất là trong ngôn ngữ học tri nhận Bởi ngôn ngữ học tri nhận tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tinh thần và trải nghiệm thể chất - xã hội Động từ tri giác có chức năng quan trọng bởi nhóm từ này liên quan trực tiếp tới trải nghiệm thực tế Những động từ này là những động từ cơ bản nhất Liên quan đến động từ tri giác, Gisborne (2010: 181-182) đã từng nói “Tôi cho rằng những động từ của tri giác đặc biệt chính xác, bởi chúng biểu hiện một cách trực tiếp và mang tính trải nghiệm Rốt cuộc, chúng ta chỉ có thể nhận thức được chuyển động và quan hệ nhân quả thông qua tri giác, vì vậy theo nghĩa này, tri giác thậm chí còn cơ bản hơn.”3 (Tạm dịch)
Theo No Yoon Chae (2010), “Động từ tri giác dùng để chỉ những động từ được sử dụng
để thể hiện 5 giác quan cơ bản của con người về thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác Trong tiếng Hàn đó là ‘보다’, ‘듣다’, ‘(냄새를) 맡다’, ‘느끼다’… và tương ứng trong tiếng Anh là see, watch, hear, listen, smell, feel…” (Tạm dịch)
2.2 Khái niệm động từ tri giác miêu tả thị giác
Nhóm động từ tri giác miêu tả thị giác bao gồm nhiều động từ như nhìn, thấy, dòm, ngó, trông, xem… Nhưng trong phạm vi của đề tài này, người viết sẽ chỉ đi sâu vào nghiên cứu,
khảo sát, so sánh đối chiếu từ vựng – ngữ nghĩa của động từ tri giác nhìn trong tiếng Việt,
đồng thời liên hệ chúng với tiếng Anh và tiếng Hàn
3 S.Pd Prayudha – The Dynamicity of The Perceptive Verb Look: A Cognitive Linguistics Study
Trang 136
Nhìn là hành động để mắt vào một người, một vật (hay ví von theo cách của Cao Xuân Hạo: phóng ra một thứ tia gì đấy) hoặc hướng mắt về một phía nhất định (không có hay chưa có đối tượng cụ thể)
2.3 Lớp nghĩa cơ bản của động từ “nhìn”
Người viết đã tham khảo lớp nghĩa cơ bản của động từ “nhìn” dựa theo Từ điển tiếng Việt (2003) của Viện ngôn ngữ học, động từ “look” theo Từ điển Oxford và Từ điển Glosbe, động từ “보다” theo Đại từ điển tiêu chuẩn của Viện Quốc Ngữ Quốc gia Hàn Quốc4.Dựa theo các từ điển trên thì từ “nhìn” có 4 nét nghĩa như sau:
a) Đưa mắt về một hướng nào đó để thấy
VD: Trích trong chương 1, trang 5
Ngạc nhiên, Langdon nhìn đồng hồ cạnh giường
Dazed, Langdon looked at the bedside clock
침대 옆의 시계를 본 랭던은 망연자실했다
Kết luận: Ở nét nghĩa này, 3 ngôn ngữ được đối chiếu đều có cách biểu hiện tương đương
Các sắc thái khác nhau của biểu hiện “nhìn” (Nhìn chằm chằm, nhìn đắm đuối, nhìn
mải mê…)
VD: Trích trong chương 0, trang 2
Chỉ cách ông khoảng năm mét, bên ngoài cánh cổng chặn lối, cái bóng khổng lồ của
kẻ tấn công chằm chằm nhìn qua song sắt
Only fifteen feet away, outside the sealed gate, the mountainous silhouette of his attacker
stared through the iron bars
5 미터 떨어진 철문 밖에서 소니에르를 공격하던 남자의, 산처럼 큰 그림자가 철창
안을 들여다보고 있었다
Kết luận: Khi mô tả trạng thái nhìn thẳng vào một sự vật trong thời gian dài, tiếng Việt cần dùng từ láy “chằm chằm” ghép với động từ tri giác “nhìn” để biểu đạt chính xác ý nghĩa này Trong khi ở tiếng Anh, bản thân từ “stare” đã mang nghĩa là nhìn chằm chằm Còn
4 https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english
https://vi.glosbe.com/vi/en
https://stdict.korean.go.kr
Trang 147
trong tiếng Hàn, ta dùng từ phái sinh “들여다보다” được ghép từ động từ “들이다” và
“보다” để miêu tả biểu hiện trên
Tương tự với các sắc thái khác, đối với tiếng Việt, động từ “nhìn” không đứng một mình
mà cần được ghép với các tính từ miêu tả hoặc từ láy nhằm biểu đạt sắc thái đó một cách
cụ thể hơn
Đối với tiếng Anh, mỗi tình thái “nhìn” khác nhau hoặc là có một động từ riêng biệt có thể đứng độc lập mà không cần ghép thêm các từ loại khác; hoặc là động từ “look” được ghép cùng với các từ loại khác để miêu tả nét nghĩa của từng tình thái
Về tiếng Hàn, những biểu hiện trên được ghép từ một động tính từ dùng bổ nghĩa cho động từ tri giác phía sau để tạo thành một cụm từ hoặc một từ phái sinh mới diễn đạt cho nét nghĩa đó
VD:
nhìn hau háu => devour => 뚫어지게 보다
nhìn đăm đăm => stare/gaze => 빤히 쳐다보다
nhìn chăm chăm => look closely => 빤히 쳐다보다
nhìn trừng trừng => stare/glare => 지그시 보다
b) Nhìn là để mắt tới, quan tâm, chú ý tới đối tượng
VD: 5
Cứ đi luôn, không nhìn đến nhà cửa, con cái
Look at the time! We're going to be late
교차로를 건널 때에는 신호등을 잘 보고 건너야 한다
나는 그의 행동 하나하나를 눈여겨보았다
Kết luận: Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có biểu hiện tương đương về nét nghĩa trên, tuy nhiên trong tiếng Hàn, vốn dĩ nét nghĩa này không được đề cập là một nghĩa riêng biệt của 보다 (theo Đại từ điển tiêu chuẩn của Viện Quốc ngữ Quốc gia Hàn Quốc (국립국어원
5 Từ điển tiếng Việt 2003, Viện ngôn ngữ học, Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, trang 720
https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/look_1?q=look
https://stdict.korean.go.kr/search/searchView.do?pageSize=10&searchKeyword=%EB%88%88%EC%97%AC%EA%B 2%A8%EB%B3%B4%EB%8B%A4