LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ cô
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 9229013
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS ĐINH QUANG HẢI
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận án là
trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA………
LỜI CAM ĐOAN………
MỤC LỤC………
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT………
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU………
MỞ ĐẦU……….
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN………
1.3 Nhữ
ng kết quả nghi
ên cứu
đã đạt đượ
c và nhữ
ng
Trang 4luận án
cần tiếp tục nghiên cứu………
Chương 2: PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH
HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 1991 - 2001………
2.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình và giáo dục phổ thông ở Hòa Bình
trước khi tái lập tỉnh (1991)………
2.2 Bối cảnh lịch sử và chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông ở tỉnh
Hoà Bình (1991 - 2001)………
2.3 Phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình trong 10 năm đầu
sau khi tái lập tỉnh (1991 - 2001)………
Tiểu kết chương 2………
Chương 3: PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH
HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2001 - 2010………
3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương phát triển giáo dục phổ thông ở
Trang
1
771317212138
4569
70
3.2 Phát triển
Trang 5phổ thông ở tỉnh Hòa Bình, góp phần tạo bước
đột phá về kinh tế - xã hội (2001 - 2010)………
Tiểu kết chương 3………
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM………
4.1 Nhận xét………
4.2 Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra………
Tiểu kết chương 4………
KẾT LUẬN……….
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….
PHỤ LỤC………
70
76 105 107 107 131 142 143
146 147 163
Trang 6TT Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991 - 2010)………
Bảng 2.1 Số lượng giáo viên phổ thông (1991 - 2001)………
Bảng 2.2 Số trường học phổ thông (1991 - 2001)………
Bảng 2.3 Số phòng học phổ thông (1991 - 1996)………
Bảng 2.4 Số lớp học phổ thông (1991 - 2001)………
Bảng 2.5 Số lượng học sinh phổ thông (1991 - 2001)………
Biểu đồ 2.2 Chất lượng giáo dục hai mặt, học sinh phổ thông tỉnh Hòa Bình (1991 - 1996)………
Bảng 2.6 Số lượng học sinh phổ thông đoạt giải Quốc gia (1991 - 1996)
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ trẻ em vào lớp 1 và bỏ học………
Biểu đồ 2.4 Chất lượng giáo dục hai mặt bậc trung học, năm học 2000 - 2001 Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và THPT (1997 - 2002)…
Biểu đồ 3.1 Chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông năm học 2004 - 2005 Biểu đồ 3.2 Chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông năm học 2009 - 2010 Bảng 3.1 Số lượng trường, lớp phổ thông (2001 - 2010)………
Biểu đồ 3.3 Số lượng học sinh phổ thông (2001 - 2010)………
Bảng 3.2 Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và đỗ tốt nghiệp phổ thông năm học 2004 -2005………
Biểu đồ 3.4 Ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và số phòng học được xây dựng trong năm học 2005 - 2006………
Bảng 3.3 Số trường học và giáo viên được thanh tra năm học 2005 - 2006
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt chuẩn năm học 2009 - 2010…
Bảng 4.1 Số trường học, phòng học và học sinh phổ thông năm học 2009
Trang
25 47 50 51 52 52
56 57 59 61 62 78 82 83 84 88
93 100 124
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục phổ thông đượcnhìn nhận là một bậc giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là “bản lề”,vừa là “xương sống” của toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nhân cáchcủa lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, giúp các em từ bước đi chậpchững, từ nhận biết đơn sơ lên nắm bắt được nhiều kiến thức cơ bản về vănhóa chữ, văn hóa làm người và định hướng được cuộc sống của mình là phụcvụ đất nước và dân tộc Do vậy từ ngày nước nhà được độc lập đến nay sựnghiệp phát triển giáo dục phổ thông đã đạt được những thành tựu to lớn trêncác lĩnh vực: Quy mô không ngừng được mở rộng; chất lượng ngày một đượcnâng cao và từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực chosự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với vị trí và vaitrò to lớn đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục lần thứ 3 (năm1979) đã chỉ rõ: “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, làsức mạnh tương lai của một dân tộc Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triểntoàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [106, tr 23]
Hòa Bình là tỉnh miền núi, nằm ở vùng cửa ngõ Tây Bắc của Tổ quốc,nơi tụ hội nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm Văn hóa - Giáodục của vùng Tây Bắc Với đặc điểm địa lý giáp với đồng bằng sông Hồng vàThủ đô Hà Nội, tỉnh Hòa Bình được biết đến không chỉ nổi tiếng với côngtrình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, mà còn nổi tiếng với một nền văn hóađặc sắc là cái nôi “văn hóa Hòa Bình”
Là mảnh đất có chiều dày lịch sử và văn hóa, phát huy truyền thốngđấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã kề vai, sát cánh góp phầnlàm nên những trang sử hào hùng của dân tộc Bước vào công cuộc đổi mới,nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình tiếp tục vượt lên mọi khó khăn, thách
Trang 8thức để hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế và xãhội, phấn đấu trở thành vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng Tây Bắc.
Sau khi tái lập tỉnh Hòa Bình (năm 1991), nhận thức vai trò to lớn củagiáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như phát triểngiáo dục phổ thông nhằm “nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồidưỡng nhân tài, góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, xây dựng tỉnh Hòa Bình ngày càng giàu đẹp, văn minh và côngbằng xã hội” [158, tr 314], lãnh đạo và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình
đã thường xuyên chăm lo, tạo điều kiện để giáo dục phổ thông từng bướcđược đổi mới và phát triển vững chắc Năm 2010, tỉnh Hòa Bình đã đạt chuẩnquốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ và phổ cập giáo dụctrung học cơ sở, đội ngũ giáo viên các ngành học, bậc học không chỉ lớn về
số lượng mà còn mạnh về chuyên môn; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy vàhọc ngày càng hiện đại
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển giáodục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình trong những năm qua còn nhiều yếu kém, bấtcập như chất lượng giáo dục các cấp học, bậc học, ngành học còn thấp vàchưa đồng đều; việc dạy và học ở vùng kinh tế và xã hội khó khăn còn hạnchế; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, lạc hậu Ngoài ra còn nhiều hạn chế kháccần phải giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu giáo dục phổ thông ở tỉnh HòaBình là rất cần thiết Song cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiêncứu toàn diện, hệ thống về giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991
đến năm 2010 Trên những ý nghĩa đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài: " Giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010" làm luận án Tiến
sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu.
Luận án nghiên cứu nhằm đạt các mục đích sau:
Trang 9- Luận giải và làm sáng tỏ thực trạng quá trình phát triển giáo dục phổthông (GDPT) ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, từ đó rút ra những kinh nghiệm góp
phần phục vụ cho công tác hoạch định và phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình
trong các giai đoạn tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt các mục đích đề ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứuchủ yếu sau:
- Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài luận án
- Phân tích làm rõ các yếu tố tác động (cả thuận lợi và khó khăn) đối
với phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình Trong đó có đề cập từ chủ trương,
đường lối đến các biện pháp cụ thể trong việc phát triển GDPT của tỉnh HòaBình từ năm 1991 đến năm 2010
- Phục dựng lại quá trình phát triển của GDPT ở tỉnh Hòa Bình từ năm
1991 đến năm 2010 trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học về những thànhtựu, hạn chế và nguyên nhân
- Rút ra đặc điểm và bài học kinh nghiệm góp phần cung cấp cơ sở thựctiễn và luận cứ cho việc đổi mới GDPT ở tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Luận án tập trung nghiên cứu về quá trình phát triển GDPT ở tỉnh HòaBình từ năm 1991 đến năm 2010
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi thời gian
Luận án nghiên cứu GDPT ở tỉnh Hòa Bình trong thời gian 20 năm (từnăm 1991 đến năm 2010)
Lý do tác giả chọn mốc nghiên cứu năm 1991 là năm được kỳ họp thứ
IX, Quốc hội khóa VIII quyết định tái lập tỉnh Hòa Bình (8 - 1991) và mốc
Trang 10năm 2010 là năm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XV (10 2010) Đồng thời năm 2010 được coi là năm cuối của kế hoạch phát triển giáodục tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2010.
Phạm vi không gian
Luận án nghiên cứu trên phạm vi địa giới hành chính tỉnh Hòa Bìnhtrong giai đoạn 1991 - 2010 bao gồm: Thành phố Hòa Bình và các huyện: KỳSơn, Tân Lạc, Mai Châu, Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Đà Bắc, Yên
Thủy, Lạc Sơn, Cao Phong
- Phạm vi nội dung
Luận án tập trung nghiên cứu về: Chủ trương, đường lối chính sách củaĐảng, Nhà nước và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về phát triểnGDPT; thực trạng quá trình phát triển GDPT tỉnh Hòa Bình trên ba bậc: Tiểuhọc, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT); ngoài ra HòaBình là tỉnh miền núi, nên các trường phổ thông dân tộc nội trú cũng là đốitượng và nội dung nghiên cứu của luận án Trên cơ sở đó đưa ra những nhậnxét, đánh giá khách quan về GDPT ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm
2010 và rút ra một số kinh nghiệm cho các giai đoạn phát triển tiếp theo
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận.
Dựa trên nguyên tắc nắm vững cơ sở lý luận và vận dụng phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chínhsách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục, trong đó có GDPT Đây là
cơ sở lý luận, phương pháp luận cho việc nghiên cứu GDPT ở tỉnh Hòa Bình
từ năm 1991 đến năm 2010
4.2 Phương pháp nghiên cứu.
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháplịch sử và phương pháp lôgic
Trang 11- Luận án sử dụng phương pháp lịch sử để bảo đảm trình tự và diễn tiếnthời gian của các sự kiện và vấn đề, làm rõ điều kiện phát sinh, phát triển vàbiểu hiện của chúng, qua đó phục dựng lại toàn bộ quá trình phát triển củaGDPT tỉnh Hòa Bình qua hai giai đoạn với những nét chung vừa mang tínhphổ biến, vừa có nét đặc thù riêng đối với địa phương miền núi.
- Luận án sử dụng phương pháp logic để xem xét, nghiên cứu các sựkiện, các vấn đề về GDPT để làm sáng tỏ mối liên hệ gắn bó, chặt chẽ cácvấn đề của GDPT với nhau và tìm ra bản chất, khuynh hướng, quy luật vậnđộng Trên cơ sở đó rút ra đặc điểm và kết luận từ quá trình phát triển củaGDPT ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010
Ngoài ra luận án còn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liênngành khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu; đặc biệttác giả chú trọng đến phương pháp điều tra khảo sát thực địa để thẩm định, bổsung và hoàn chỉnh tư liệu để thực hiện luận án
4.3 Nguồn tài liệu.
Để thực hiện luận án, tác giả chủ yếu dựa vào những tài liệu chủ yếu sau:
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định,… của
Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD - ĐT); của Tỉnh ủy, Uỷ bannhân dân (UBND) tỉnh Hòa Bình, Cục thống kê tỉnh Hoà Bình và một số Sở,Ban ngành của tỉnh có liên quan đến giáo dục nói chung, GDPT nói riêng từnăm 1991 đến năm 2010
- Các báo cáo tổng kết hàng năm của Sở GD - ĐT tỉnh Hoà Bình từnăm 1991 đến năm 2010
- Các công trình nghiên cứu, bài viết, các luận văn, luận án nghiên cứuvề lĩnh vực GDPT nói chung và liên quan đến GDPT của tỉnh Hòa Bình nóiriêng đã được công bố
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vềGDPT và sự vận dụng của tỉnh Hòa Bình vào thực tiễn địa phương
Trang 12- Luận án phân tích những yếu tố tác động đến GDPT của tỉnh HòaBình và tái hiện lại bức tranh khá đầy đủ, toàn diện, có hệ thống về thực trạngGDPT ở tỉnh Hoà Bình từ năm 1991 đến năm 2010.
- Luận án rút ra đặc điểm chủ yếu, một số kinh nghiệm và đặt ra một sốvấn đề đối với phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình trong các giai đoạn tiếp theo
- Kết quả của luận án cung cấp một tập hợp tư liệu phong phú, đa dạng,làm cơ sở tham khảo cho Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hòa Bình trong công táchoạch định phát triển GDPT giai đoạn tiếp theo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận.
Luận án góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và các luận cứ khoa họcvề phát triển giáo dục nói chung, GDPT nói riêng, cũng như góp phần vàoviệc nghiên cứu và bổ sung lý luận về lịch sử phát triển giáo dục ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn.
- Luận án đóng góp thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sửGDPT ở tỉnh Hòa Bình nói riêng, lịch sử giáo dục Việt Nam nói chung
- Luận án rút ra đặc điểm và bài học kinh nghiệm từ kết quả nghiên cứuGDPT ở tỉnh Hòa Bình giúp cho việc hoạch định chủ trương và thực hiệnphát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình hiện nay và các giai đoạn tiếp theo
- Luận án góp phần phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảngdạy lịch sử địa phương cho học sinh các cấp trong tỉnh
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Khái quát về tỉnh Hòa Bình và quá trình phát triển GDPT
của tỉnhgiai đoạn 1991 - 2001
Chương 3.Phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2010 Chương 4 Một số nhận xét và kinh nghiệm.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Giáo dục là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các giới
nghiên cứu, các tổ chức và học giả Đã có không ít tác giả nghiên cứu về đềtài này, từ những vấn đề lý luận đến thực tiễn, ở nhiều giai đoạn lịch sử khácnhau và có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, trong đó có thểchia thành các nhóm công trình nghiên cứu như sau
1.1 Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục phổ thông
Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO), với dự án: Nghiên cứu tổng thể Giáo dục - Đào tạo, phân tích
nguồn nhân lực VIE89/022 và dự án: Báo cáo đánh giá tình hình Giáo dục Đào tạo của Việt Nam hiện nay, được tiến hành trong 2 năm (1991 - 1992);
-Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ GD - ĐT tổ chức hội thảo với chủ đề
"Lựa chọn chính sách cải cách Giáo dục - Đào tạo", tại Hà Nội (8 - 1993)…
Những công trình này đã đánh giá về thực trạng GD - ĐT ở Việt Nam, đồngthời nghiên cứu về sự tác động của các nguồn lực, các chính sách lớn và đưa ramột số định hướng phát triển GD - ĐT ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng kết giáo dục 10 năm (1975 - 1985), Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1986: Cuốn sách đã nêu ra những chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đối với giáo dục Mặc dù không đi sâu vào lĩnh vựcGDPT, nhưng đã cung cấp những tài liệu quan trọng, nhất là những số liệuthống kê và tình hình GDPT của Việt Nam 10 năm sau ngày thống nhất đất
nước Trong cuốn 50 năm phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo (1945
-1995), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 đã khái quát về bức tranh toàn cảnh giáo
dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1995, cũng như đưa ra những đánh giá,nhận xét về giáo dục Việt Nam trong giai đoạn này
Trang 14Các nhà lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục qua các thời kỳ rất quan tâmđến việc tổng kết, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, tổ chứcthực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực giáo dục.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Võ Thuần Nho, 35
năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông, Nxb Giáo dục, 1981; Nguyễn
Khánh Toàn, Nền giáo dục Việt Nam: Lý luận và thực hành, Nxb Giáo dục, 1991; Phạm Minh Hạc, Sơ thảo lịch sử giáo dục Việt Nam 1945 - 1990, Nxb Giáo dục, 1992; Trần Hồng Quân, Giáo dục 10 năm đổi mới và chặng đường
trước mắt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996; Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1996; Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Nhân tố mới về Giáo dục và Đào tạo trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2002;… Các công trình nêu trên chủ yếu đi vào tổng kết quá trình pháttriển của ngành giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau, trong haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và thời kỳđầu khi cả nước độc lập thống nhất quá độ đi lên xây dựng CNXH, đồng thờibước đầu cũng rút ra một số kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển nềngiáo dục của nước nhà Bên cạnh đó, một số công trình cũng đi sâu nghiêncứu về vị trí, vai trò của nhân tố con người thông qua hoạt động GD - ĐT,nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam
như: Nguyễn Quang Hưng, Toàn cảnh Giáo dục - Đào tạo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Trần Văn Tùng, Nền kinh tế tri thức và yêu
cầu đổi mới giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001; Đặng
Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược
phát triển, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003; Lê Văn Giạng, Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003;
Trang 15Nguyễn Quang Kính, Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; Nguyễn Thế Long, Đổi mới tư duy, phát triển giáo
dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Nxb Lao động, 2006; Nguyên Hữu
Châu, Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, 2007; Đặng Bá Lãm, Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức, Giáo dục Việt Nam đổi mới
và phát triển hiện đại hóa, Nxb Giáo dục, 2007; Đinh Văn Ân, Hoàng Thu
Hòa, Giáo dục và Đào tạo - chìa khóa của sự phát triển, Nxb Tài chính,
2008; Phạm Tất Dong, Giáo dục Việt Nam 1945 - 2010, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 2010;… Các công trình đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trìnhphát triển nền giáo dục ở nước ta qua các thời kỳ khác nhau, nhiều công trình
đã phân tích về sự đóng góp to lớn của giáo dục đối với công cuộc xây dựngvà phát triển đất nước Bên cạnh đó, các tác giả còn đề cập đến việc tăngcường hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục, phương hướng đổimới giáo dục, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, xã hội hoá giáo dục,… Tuynhiên các công trình này vẫn chủ yếu tập đi vào lĩnh vực giáo dục nói chung,chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực GDPT, song đây cũng là những tài liệuquan trọng, đưa đến những nhận thức có tính hệ thống về giáo dục
Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, các tác giả NguyễnMinh San (Chủ biên), Phạm Việt Long, Hoàng Thế Thanh, xuất bản công
trình Mười thế kỷ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam (1010 - 2010), Nxb Dân trí,
2010 Đây là công trình nghiên cứu có giá trị to lớn, giúp cho người đọc thấyđược một cách rõ ràng và cụ thể bức tranh toàn cảnh về giáo dục và đào tạocủa đất nước từ khi nước ta giành được độc lập tự chủ cho đến nay Nội dungcuốn sách khắc họa tiến trình hình thành, phát triển và những thành tựu to lớncủa nền giáo dục và đào tạo Việt Nam trong 10 thế kỷ qua (1010 - 2010) theochiều lịch đại Ở cuối mỗi giai đoạn còn có phần nhận xét, đánh giá của cáctác giả về giáo dục và đào tạo nước nhà trong giai đoạn đó, đồng thời các tácgiả cũng giới thiệu những tấm gương nhà giáo tận tụy, lao động sáng tạo, gắn
Trang 16bó với sự nghiệp "trồng người", góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệTổ quốc Trải qua 10 thế kỷ biến thiên, thăng trầm của lịch sử, sự nghiệp giáodục và đào tạo Việt Nam luôn được xem là quốc sách hàng đầu, nhờ vậy giáodục nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu, đóng góp xứng đáng vào sựnghiệp xây đắp nền văn hiến Việt Nam rực rỡ, giàu bản sắc… Công trình đãgiúp cho tác giả có cái nhìn tổng quát về lịch sử giáo dục Việt Nam; trên cơsở đó đặt nền tảng cho việc nghiên cứu lịch sử giáo dục địa phương.
Cũng có không ít bài viết về GD - ĐT đăng tải trên các báo, tạp chí
như: Vũ Thiện Vương, Tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số
47 năm 2001; Trần Viết Lưu, Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục
phổ thông nước ta hiện nay, Tạp chí Giáo dục số 92 (2002); Vũ Ngọc Hải, Đổi mới Giáo dục - Đào tạo nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp
chí Phát triển giáo dục, số 4 năm 2003; Hồ Thiệu Hùng, Một số cơ hội để
đánh giá thực trạng giáo dục trung học phổ thông, báo Tuổi trẻ (2003);
Nguyễn Cảnh Toàn, Phát huy việc tự học trong trường phổ thông trung học, báo Giáo dục và Thời đại (2003) và Chất lượng giáo dục phổ thông - một số
vấn đề cấp bách, báo Văn nghệ (2003); Huỳnh Công Minh, Tiếp cận chất lượng giáo dục phổ thông dưới góc độ mục tiêu đào tạo, Tạp chí Giáo dục số
92 (2004); Ngô Văn Hiển, Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho Giáo
dục - Đào tạo thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Giáo
dục, số 112 năm 2005; Dương Văn Khoa, Phát triển mạnh mẽ Giáo dục - Đào
tạo theo hướng hiện đại, thiết thực, nhanh chóng nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực dồi dào và đội ngũ nhân tài cho đất nước, Tạp chí Dạy và Học ngày
nay, số 8 năm 2005; Phạm Thị Kim Anh, Những thay đổi của Giáo dục - Đào
tạo Việt Nam từ sau công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Tạp chí Dạy và Học
ngày nay, số 7 năm 2008; Nguyễn Hữu Chí, Những quan điểm cơ bản của
Đảng về Giáo dục - Đào tạo qua các chặng đường lịch sử, Tạp chí Lịch sử
Trang 17Đảng, số 10 năm 2010;… Nội dung các bài viết phản ánh nhiều mặt về thựctrạng nền giáo dục nước nhà; luận giải những quan điểm cơ bản của Đảng về
GD - ĐT từ năm 1945 đến nay; đề ra những phương hướng giải pháp tích cựcnhằm phát triển nền giáo dục XHCN Tuy nhiên, các bài viết này chỉ dừng lạiở những vấn đề lớn, phạm vi rộng của GD - ĐT Việt Nam, chưa đi sâu vàotừng địa phương cụ thể, song đây là nguồn tư liệu quý giúp tác giả định
hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu đề tài
Một số nhà nghiên cứu về giáo dục còn đi sâu tìm hiểu về kinh nghiệmnâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở một số quốc gia có nền giáo dục phát
triển, tiêu biểu như: Đặng Thị Thanh Huyền, Giáo dục phổ thông với phát
triển chất lượng nguồn nhân lực - những bài học thực tiễn từ Nhật Bản, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội 2001 Toàn bộ cuốn sách thể hiện sự am hiểu sâusắc của tác giả về GDPT Nhật Bản cũng như chiến lược phát triển kinh tế củađất nước này Điều đó được thể hiện xuyên suốt qua 4 chương của cuốn sáchvới một cấu trúc chặt chẽ, hợp lý, đảm bảo logic của cuốn sách Tác giả củacuốn sách đã phân tích rõ sự tiến triển về chiến lược giáo dục trong mối quan
hệ với các yêu cầu phát triển kinh tế của Nhật Bản, đặc biệt từ sau chiến tranhthế giới thứ hai Cuốn sách là đã khái quát một cách cụ thể và khá toàn diệnchặt chẽ giữa GDPT với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Nhật Bản.Những kinh nghiệm quan trọng của người Nhật Bản trong cách giải quyết cóhiểu quả mối quan hệ giữa GDPT và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đãđược phân tích khái quát thành ba bài học chủ yếu Qua đó, tác giả đã đưa racác gợi ý cho Việt Nam với ý tưởng muốn vận dụng những kinh nghiệm đó
vào hoàn cảnh nước nhà Các tác giả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Một số
kinh nghiệm về giáo dục phổ thông và hướng nghiệp trên thế giới, NXB Đại
học Sư phạm, Hà Nội 2004 đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dụctrung học phổ thông đối với mỗi quốc gia, biểu hiện ở chỗ: Giáo dục trunghọc đóng góp tích cực và tối ưu cho sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia
Trang 18Với yêu cầu phát triển toàn diện, người lao động dù học lên đại học học hoặcsớm đi vào cuộc sống lao động, nữ cũng như nam đều phải được hình thành
những giá trị văn hóa, đạo đức, nhân văn cùng với những kiến thức khoa học
kĩ thuật, năng lực sáng tạo Họ không chỉ có năng lực góp phần đẩy mạnh sự
phát triển quốc gia mà còn phải có tiềm năng sinh lợi từ những thành quả củasự phát triển đó Tác giả cũng nhấn mạnh: Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục
trung học phổ thông có tầm quan trọng ngày càng lớn trong hệ thống giáo dụcquốc dân Thực tế đòi hỏi phải tăng cường hiệu quả giáo dục hướng nghiệp
trong GDPT… Công trình của các tác giả nêu trên đã khái quát về bức tranh
của một số nước có nền giáo dục phát triển, từ đó thấy được thực trạng của
nền giáo dục Việt Nam Đây là những tư liệu quan trọng để tác giả nghiên cứuvà tìm hiểu về những khoảng trống của nền giáo dục Việt Nam nói chung,
GDPT nói riêng
Một số luận án Tiến sĩ chuyên ngành Giáo dục học, Lịch sử Việt Nam
hiện đại, nghiên cứu về giáo dục nói chung và GDPT nói riêng như: Lê Xuân
Trường, Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển giáo
dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay, (2004); Phạm Xuân Tài, Quá trình
phát triển giáo dục phổ thông của Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2008,
(2012); Duy Thị Hải Hường, Giáo dụ c các tỉ nh mi ền núi phía B ắ c Vi ệt Nam
t ừ 1954 đến 1965, (2014); Nguyễ n Gia Ki ệ m, Quá trình th ự c hi ệ n xã hộ i hóa giáo dụ c ph ổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh t ừ năm 1986 đến năm 2010,
(2014); Nguyễn Văn Thắng, Quá trình phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh
Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2006, (2014); Nguyễn Thúy Quỳnh, Giáo
d ục phổ thông ở miền Bắ c Vi ệt Nam t ừ 1954 đến 1975, (2015) … Nội dung
của các luận án đều có điểm chung là đã quán triệt và vận dụng một cách sángtạo quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục và
GDPT vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương; nhận xét, đánh giávề thực trạng phát triển GDPT trên một số kết quả chính, từ đó rút ra những bài
Trang 19học kinh nghiệm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển giáodục nói chung, GDPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay
1.2 Những nghiên cứu có liên quan đến giáo dục ở tỉnh Hòa Bình
Phát triển GD - ĐT của của tỉnh Hòa Bình là một trong những nội dungquan trọng phục vụ mục tiêu phát triển KT - XH của địa phương, nên đã đượcđề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu, có thể kể đến:
Địa chí Hòa Bình, Tỉnh uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Đây là công trình khoa học tổng hợp chứađựng nhiều nội dung phong phú, khai thác triệt để các nguồn tư liệu thànhvăn và điền dã, đã làm sáng tỏ những lĩnh vực địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hoá,
xã hội và các mối liên hệ gắn bó giữa các lĩnh vực đó Về phát triển giáo dụcqua các thời kỳ từ thời phong kiến đến nay cũng đã được đề cập đến, tuy nhiênnội dung phần giáo dục chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận một cách khái quátnhất, những nét lớn về giáo dục của tỉnh Hoà Bình qua các giai đoạn lịch sử màchưa có đánh giá, nhận xét cụ thể về quá trình phát triển giáo dục trong tỉnh.Song có thể nói, các nguồn tư liệu thành văn, điền dã ở các lĩnh vực nêu trêncũng đã phần nào chỉ ra được những thuận lợi, khó khăn và sự tác động, ảnhhưởng rất lớn đến quá trình phát triển giáo dục của tỉnh Hòa Bình
Đảng bộ tỉnh Hoà Bình qua các kỳ đại hội (1945 - 2005), Ban Tuyên
giáo tỉnh uỷ Hoà Bình, 2008 Cuốn sách đã khái quát đầy đủ về 14 kỳ đại hộicủa Đảng bộ tỉnh Hoà Bình qua 60 năm lãnh đạo, trên cơ sở vận dụng linhhoạt các chủ trương của Trung ương và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệmvụ phù hợp với điều kiện của tỉnh trong các giai đoạn lịch sử cụ thể, qua đónhững chủ trương, đường lối về phát triển GD - ĐT cũng được đề cập mộtphần trong cuốn sách này, đồng thời là tư tiệu quan trọng để tác giả nghiêncứu, tổng hợp vào luận án
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình (1929 - 2010), Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách được
Trang 20nghiên cứu, kế thừa, dựa trên những nội dung: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hoà
Bình tập I (1929 - 1945), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hoà Bình tập II (1954 - 1975)
và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hoà Bình tập III (1975 - 2000) Bố cục của cuốn
sách gồm 6 chương, đã tái hiện toàn cảnh về vị trí chiến lược và truyền thốnglịch sử - văn hóa; quá tình hoạt động đầy thử thách, hy sinh giành thắng lợi tolớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình từ năm 1929 đếnnăm 2010 Tuy không trực tiếp đề cập đến quá trình phát triển giáo dục cũngnhư luận giải về những vấn đề này nhưng khi trình bày về quá trình lãnh đạo,chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, cuốn sách đã điểm qua một số thành tựu cũng nhưmột số hạn chế của giáo dục Hoà Bình
Lịch sử giáo dục và đào tạo tỉnh Hòa Bình (1945 - 2008), Sở GD - ĐT
Hòa Bình, 2010 Công trình đã ghi lại những trang sử hào hùng và oanh liệtcủa các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh của tỉnh Hòa Bình đã tạo dựngnên, giúp cho các thế hệ con em của nhân dân các dân tộc Hòa Bình hôm nayvà mai sau hiểu được phần nào lịch sử và truyền thống văn hiến, hiếu học củadân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân các dân tộc Hòa Bình nói riêng đểphát huy hơn truyền thống quý báu đó Đặc biệt công trình cũng đã nhấnmạnh đến những thành tựu về phát triển giáo dục từ năm 1991, thời điểm táilập tỉnh Hoà Bình đến năm 2008, trong đó có những thành tựu về GDPT.Công trình đã chứa đựng nhiều tư liệu quan trọng cho tác giả nghiên cứutrong luận án
Lịch sử Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Hòa Bình (1958 - 2013), Đảng
bộ tỉnh Hòa Bình, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, 2013 Cuốn sách bao gồm
5 chương, đã giới thiệu về các giai đoạn lịch sử cách mạng, những chặngđường phát triển của Đảng uỷ khối các cơ quan tỉnh từ năm 1958 đến năm
2013 Trong đó, Đảng bộ cơ quan Sở GD - ĐT Hòa Bình là đơn vị trực thuộcĐảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Do vậy nội dung được trình bày trong cuốnsách qua các giai đoạn lịch sử của Đảng bộ Khối tuy không đi sâu về lĩnh vực
Trang 21GDPT, song một số thành tựu chủ yếu dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ quanSở GD - ĐTcũng được đề cập đến trong nội dung của cuốn sách này.
Cuốn Gương người tốt, việc tốt tỉnh Hòa Bình (2010 - 2015), Hội đồng
thi đua - khen thưởng tỉnh Hòa Bình, 2015, bao gồm 80 bài viết về các tậpthể, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn tỉnh.Thông qua đó, biểu dương ghi nhận những kết quả đã đạt được từ các phongtrào thi đua yêu nước; tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong các cấp,các ngành Từ đó, khơi dậy và cổ vũ sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kếtdân tộc, phát huy nội lực, tạo động lực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ pháttriển kinh tế, xã hội, cũng như góp phần tuyên truyền, cổ vũ, nhân rộng cácgương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến ở các địa phương, đơn vị để xãhội học tập và làm theo Các tập thể và cá nhân được nêu gương, trong đó cólĩnh vực GDPT, tuy không tiệm cận trực tiếp đến lĩnh vực của luận án, songcũng là động lực thúc đẩy quan trọng cho phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bìnhtrong các giai đoạn tiếp theo
Đẻ đất đẻ nước và phong tục đạo lý nhân văn Mường, UBND tỉnh Hòa
Bình, Bùi Thiện sưu tầm, biên dịch, giới thiệu, NXB Văn hóa dân tộc, 2015.Công trình được coi là một bộ từ điển về sử thi, về tri thức dân gian của dântộc Mường nói chung và người Mường tỉnh Hòa Bình nói riêng Với hơn
1300 trang sách, tác giả đã giúp chúng ta rõ hơn về các nghi thức dân gianchủ yếu của người Mường là Mo, Trượng và Mỡi; quan niệm về vũ trụ, về xứMường xưa, về đạo lý, nhân văn, về lịch sử dân tộc người đã và đang là
những chủ nhân của tỉnh Hòa Bình Đặc biệt đây là lần đầu tiên, cuốn sáchchính thức cho chúng ta biết Mo Mường không chỉ có đẻ đất đẻ nước, mà còncó rất nhiều các áng Mo khác phản ánh phong tục và đạo lý Một cái nhìn baoquát thì đó là những câu chuyện về huyền thoại - huyền tích; là áng sử thi vềnguồn gốc loài người; về cuộc chiến sinh tồn; về lao động và những cuộcchiến huyền thoại từ xa xưa của xứ Mường Tác phẩm không trực tiếp đề cập
Trang 22đến GDPT, song là một tỉnh với đa số dân cư là dân tộc Mường, do chịu ảnhhưởng của các yếu tố truyền thống, văn hóa, tập tục, tín ngưỡng nên cũng cósự tác động nhất định đến phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình qua các giai đoạn.
Cuốn "Văn phòng Tỉnh ủy Hòa Bình 70 năm - những chặng đường phát
triển" đã tái hiện lại quá trình hoạt động 70 năm xây dựng và phát triển của
Văn phòng Tỉnh ủy qua các thời kỳ, thể hiện chính xác, đầy đủ dữ liệu và giátrị lịch sử, khoa học Tuy chưa được xuất bản, song các đại biểu tham dự Hộinghị đều nhất trí cao với nội dung và bố cục của cuốn sách và sẽ được pháthành trong thời gian gấn nhất, để các độc giả quan tâm nghiên cứu Qua
chặng đường 70 năm phát triển của Văn phòng Tỉnh ủy, cuốn sách không đisâu về chủ trương phát triển GDPT, song mọi tham mưu cho Tỉnh ủy về chủtrương phát triển GD - ĐT, nơi lưu trữ các văn bản của tỉnh ủy, trong đó cócác văn bản chỉ đạo về giáo dục, các số liệu báo cáo cũng được đề cập trongcuốn sách này
Liên quan đến đề tài của luận án còn có những công trình, bài viết của
các nhà nghiên cứu như: Pierre - Grossin, Tỉnh mường Hòa Bình, Nxb Lao động, Hà Nội, 1994; Đỗ Thế Mậu, Nguyễn Thành Công, Hà Văn Thu, Hòa
Bình những tập thể và cá nhân anh hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000; Quách Thế Tản, Văn hóa Hòa Bình ở thế kỷ XXI, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000; Chu Viết Luân, Hòa Bình - thế và lực trong thế kỉ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Bùi Văn Thắng, Hòa Bình phía trước là
những con đường, Tạp chí Thương Mại, 2005; Hồ Sỹ Quý, Nguyễn Ngọc
Hồng, Dương Thị Bạch Kim, Con người và phát triển con người ở Hòa Bình:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; Phạm
Lê Hòa, Những ghi chép về người Mường ở Hòa Bình Phần 1: Đặc điểm nơi
cư trú, Tạp chí Giáo dục Nghệ thuật, 2017… Các công trình, bài viết chưa
trực tiếp đề cập đến đề tài của luận án, song có mối liên hệ với các mặt, cáclĩnh vực và tác động chung đến quá trình phát triển GD - ĐT ở tỉnh Hoà Bình
Trang 23Luận án Tiến sĩ Sử học của Bùi Thị Nguyệ t Qu ỳnh, Quá trình chuyển
biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010, (2017) là công
trình nghiên cứu khoa học chuyên khảo đã tổng hợp một cách hệ thống về sựchuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 1991 đến 2010với những chỉ số định lượng cụ thể của từng lĩnh vực, cũng như những tiềmnăng thế mạnh và thách thức đặt ra cho địa phương trong sự phát triển đi lên.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số nhận xét, đánh giá,đồng thời cũng gợi mở một số đề xuất nhằm góp phần vào sự phát triển kinhtế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới Tuy không trực tiếp nghiêncứu về GDPT, song một số kết quả về phát triển KT - XH của tỉnh Hòa Bình,trong đó có GDPT cũng được đề cập khái quát trong nội dung luận án
1.3 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những vấn đề luận
án cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố.
Các công trình, bài viết đề cập đến GD - ĐT nói chung, GDPT nóiriêng như tác giả nêu trên rất phong phú và đa dạng, đã nghiên cứu ở nhiềugóc độ, khía cạnh, giai đoạn lịch sử khác nhau Công trình được nghiên cứu làcác tổ chức, các nhóm, các cá nhân quan tâm Kết quả nghiên cứu của cáccông trình, bài viết đã làm rõ được những vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dục phổ thông
- Nhiều công trình nghiên cứu có tính chất lý luận về giáo dục, đã hệthống những quan điểm, tư tưởng của Đảng về GD - ĐT, bao gồm cả kháiniệm, mục đích, nội dung, cách dạy, cách học, cách quản lý, cách lãnh đạongành giáo dục… Đây là cơ sở lý luận quan trọng góp phần vào công tác xâydựng đường lối chính sách về phát triển giáo dục ở nước ta, cho nền khoa họcgiáo dục Việt Nam và về chiến lược xây dựng con người mới
- Các công trình cũng đã khẳng định vai trò của GD - ĐT là yếu tố quantrọng nhất trong chiến lược con người của Đảng, là hạt nhân, là động lực thúcđẩy sự phát triển KT - XH của đất nước
Trang 24- Một số công trình đã đi vào tổng kết quá trình phát triển của ngànhgiáo dục Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, đã đánh giá, nhận xétvề giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn đó; đồng thời rút ra một số bài họckinh nghiệm và định hướng phát triển GD - ĐT ở Việt Nam trong những nămtiếp theo.
- Một số tác giả đã đề cập đến việc tăng cường hợp tác quốc tế để nângcao chất lượng giáo dục, phương hướng đổi mới giáo dục, đa dạng hoá cácloại hình đào tạo, thực hiện xã hội hoá giáo dục và chỉ ra sự tác động của cácnguồn lực, các chính sách lớn đến GD - ĐT ở Việt Nam
- Một số nhà nghiên cứu về giáo dục còn đi sâu tìm hiểu về kinh nghiệmnâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở một số quốc gia có nền giáo dục pháttriển, qua đó đã đưa ra các gợi ý cho Việt Nam với ý tưởng muốn vận dụngnhững kinh nghiệm đó vào hoàn cảnh nước nhà
- Một số công trình, bài viết, luận án đã trực tiếp nghiên cứu về GDPTnhư nghiên cứu về lịch sử phát triển, đánh giá khái quát về thực trạng và đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDPT trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai: Các công trình nghiên cứu về tỉnh Hòa Bình có liên quan đến giáo dục
- Một số công trình, bài viết đã tái hiện toàn cảnh về vị trí chiến lược vàtruyền thống lịch sử - văn hóa; quá tình hoạt động đầy thử thách, hy sinh giànhthắng lợi to lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình qua cácgiai đoạn lịch sử, đã chứa đựng nhiều nội dung phong phú các nguồn tư liệuthành văn, điền dã và làm sáng tỏ trên những lĩnh vực địa lý, lịch sử, kinh tế,văn hoá, xã hội và mối liên hệ gắn bó giữa các lĩnh vực đó Về phát triển giáodục qua các giai đoạn lịch sử cũng đã được đề cập đến ở một cách khái quátnhất, những nét lớn về giáo dục của tỉnh Hoà Bình trong các công trình này
- Một số cuốn sách đã khái quát đầy đủ về các kỳ đại hội của Đảng bộtỉnh Hoà Bình, trên cơ sở vận dụng linh hoạt các chủ trương của Đảng, đồng
Trang 25thời đã đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cho phù hợp với điều kiệncủa tỉnh Hòa Bình qua các giai đoạn lịch sử Qua đó, những chủ trương,
đường lối và một số chỉ tiêu chính về phát triển giáo dục cũng được đề cậpđến trong các cuốn sách
- Một số công trình đã trực tiếp nghiên cứu về GD - ĐT ở tỉnh HòaBình, đã giới thiệu các sự kiện tiêu biểu và những thành tựu cơ bản của sựnghiệp giáo dục của tỉnh Hoà Bình dưới chế độ mới,…
Có thể nói các công trình, bài viết mà các tác giả đề cập đến trong nộidung tổng quan, có mối liên hệ với các mặt, các lĩnh vực và liên quan trựctiếp hoặc gián tiếp đến quá trình phát triển GDPT ở tỉnh Hoà Bình Đây lànhững tư liệu và là định hướng nghiên cứu có giá trị quan trọng giúp tác giảtham khảo cho luận án của mình
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về giáo dục và GDPT,mới chỉ đánh giá khái quát ở góc độ ghi nhận, hay nghiên cứu trên một sốmặt, một số lĩnh vực cụ thể, ở các địa phương khác nhau mà chưa nghiên cứumột cách có hệ thống, toàn diện về GDPT, nhất là chưa đánh giá được thựctrạng GDPT trên các mặt, các lĩnh vực Còn các công trình, bài viết nghiêncứu về tỉnh Hòa Bình và GD - ĐT ở tỉnh Hòa Bình cũng mới chỉ chủ yếu đềcập đến GD - ĐT nói chung, hoặc điểm qua một số thành tựu, hạn chế về giáodục qua các giai đoạn lịch sử… mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứuvề GDPT ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010
Với những đánh giá, nhận xét nêu trên, tác giả nhận thấy rằng GDPT ởtỉnh Hòa Bình còn những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong nộidung luận án, tác giả sẽ tập trung giải quyết vào một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ những yếu tố tác động đến GDPT ở tỉnh
Hòa Bình; đồng thời nêu lên chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảngbộ tỉnh Hòa Bình về phát triển GDPT
Trang 26Thứ hai, làm rõ thực trạng GDPT ở tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến
năm 2010
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá khách quan về quá trình phát triển GDPT ở
tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 sẽ rút ra đặc điểm chủ yếu và một sốkinh nghiệm cho GDPT tỉnh Hòa Bình trong các giai đoạn phát triển tiếp theo
Trang 27Chương 2 PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổquốc, có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên vùngnúi, điểm trung chuyển sức hút ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hộicủa Thủ đô Hà Nội
Nằm trong giới hạn ở vị trí 20,9 độ vĩ bắc và 104,86 độ kinh đông, phíaBắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnhSơn La, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và Thanh Hóa Diện tíchtoàn tỉnh Hòa Bình là 4.596,4km2, ở địa bàn miền núi, nông - lâm nghiệp làtiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâmnghiệp Trong tổng số 307.755ha đất nông - lâm nghiệp, đất lâm nghiệp chiếmtới 250.168ha, bằng 80%; cấy lúa, hoa màu 29.243ha, bằng 10% diện tích, cònlại phần lớn diện tích trong tỉnh là núi đá vôi và đồi núi trọc [2, tr 9,12]
Ngày 22 - 6 - 1886, chính quyền thực dân Pháp kí Nghị định cắt vùngđất có nhiều đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, HàNội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh Mường (tỉnh lỵ đặt tạiChợ Bờ), tỉnh Mường bao gồm 4 phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn và chợ
Bờ Ngày 5 - 9 - 1896, tỉnh lỵ tỉnh Mường được chuyển về làng Vĩnh Diệu,
xã Hòa Bình (phía tả ngạn sông Đà, đối diện xã Phương Lâm), từ đó tỉnhMường được gọi là tỉnh Hòa Bình và địa giới của tỉnh về cơ bản đã được ổn
Trang 28định Sau năm 1954, các châu được chuyển thành đơn vị hành chính cấphuyện Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kì họp thứ 2, ngày 01 - 4
- 1976, hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây sát nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình vàchính thức đi vào hoạt động Năm 1991, Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ IX,
đã quyết định điều chỉnh lại địa giới và chia cắt tỉnh Hà Sơn Bình thành haitỉnh là Hà Tây và Hòa Bình
Tính đến năm 2009, tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và 1 thành phố, 210
xã, phường và thị trấn Tỉnh lỵ Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình), cáchThủ đô Hà Nội 76 km về phía Tây Đường quốc lộ 6 đi qua Hòa Bình dài 125
km, nối liền Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào Cáctuyến đường 12, 15, 21 đã nối liền Hòa Bình với các tỉnh Ninh Bình, ThanhHóa và Hà Nam Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, tỉnh Hòa Bìnhcó 832.543 người, với mật độ dân số 171 người/km2 Hòa Bình là địa bàn cưtrú của nhiều dân tộc anh em, trong đó có 7 dân tộc chính Dân tộc Mườngđông nhất chiếm 62,98%, ngoài ra còn có các dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dântộc Tày, dân tộc Dao, dân tộc Mông và dân tộc Hoa [2, tr 9]
Địa hình Hòa Bình bị chia cắt phức tạp, có độ dốc lớn Vùng núi caohiểm trở nằm ở phía Tây Bắc với độ cao trung bình 600 - 700m so với mặtnước biển, với độ dốc 30 - 35°, có nơi dốc trên 40° Phía Đông Nam là vùngnúi thấp với độ cao trung bình 100 - 200m và độ dốc 20 - 25° [163, tr 3].Trên dải cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ (Lai Châu) đến bờ biểnNinh Bình, hoạt động Cacxtơ hóa đã tạo ra bồn địa giữa núi có điều kiện cưtrú thuận lợi (địa hình thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nguồn
nước…) hình thành lên các xứ Mường trù phú sinh sống
Khí hậu ở Hòa Bình có đặc điểm nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ướt vớinhiệt độ trung bình từ 23,4°C, những tháng nhiệt độ cao thường vào tháng 6,tháng 7, tháng 8 nhiệt độ trên 30°C; lượng mưa hàng năm từ 1800mm -
2000mm và độ ẩm trung bình hàng năm 85% [163, tr 20]
Trang 29Hòa Bình có hai con sông chính: Sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốcchảy qua các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam đến Việt Trì nhập vào sông Hồng,đoạn có chiều dài chảy qua Hòa Bình 151km Sông Bôi, bắt nguồn từ Kỳ
Sơn, chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy ra Nho Quan (Ninh Bình), có chiềudài qua Hòa Bình 66km Ngoài ra còn có các sông Bưởi, sông Bùi, sông
Lạng… Hồ lớn nhất của tỉnh Hòa Bình là hồ sông Đà với diện tích mặt nướctrên 9000ha và dung tích 9,5 tỉ m³ Đây không chỉ là công trình thủy điện lớnnhất cả nước với tổng công xuất 1920Mw và lượng thủy năng 50 tỷ kw/h màcòn là công trình thủy lợi cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất sinh hoạt, nuôitrồng thủy hải sản của tỉnh cũng như tạo ra khu du lịch lòng hồ đầy triển vọng
Thiên nhiên đã tạo ra cho Hòa Bình nhiều cảnh quan đẹp và kỳ thú
như: núi Cột Cờ (huyện Tân Lạc) hang Can (huyện Kỳ Sơn) hang Trại (huyệnLạc Sơn) hang Đồng Nội (huyện Lạc Thủy) các khu du lịch Vua Bà, Chợ Bờ,suối nước khoáng Mớ Bà (huyện Kim Bôi)… Nhờ bàn tay lao động cần cù vàsáng tạo, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên nền văn hóa Hòa Bình nổitiếng với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (bản Lác - Mai Châu), củadân tộc Mường (bản Đốm - Thành phố Hòa Bình), cùng với trang phục thổcẩm đầy màu sắc, đặc sản rượu cần của địa phương… đã mang đến cho HòaBình những điểm du lịch có giá trị văn hóa cao
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên nêu trên đã có ảnh hưởng rất lớnđến phát triển GDPT ở tỉnh Hòa Bình, đặc biệt đối với một tỉnh miền núi,
nhiều nơi giao thông đi lại thường xuyên bị chia cắt, địa hình, địa thế khá
hiểm trở, dân cư thưa thớt nằm dải rác ở khắp nơi, tỷ lệ dân tộc thiểu số cư trúở các vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ còn khá phổ biến,… vì vậy điều kiệncho con em tham gia học tập cũng như việc mở trường, lớp tại các thôn, bản,vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, ở vùng lòng hồ các em phải đi họcbằng thuyền vừa khó khăn, vừa nguy hiểm Những khó khăn đó đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến số lượng và chất lượng của giáo dục của tỉnh Hòa Bình
Trang 30Kinh tế.
Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sảnViệt Nam khởi xướng và lãnh đạo, từ thực tiễn phát triển KT - XH của địaphương, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình từ các khóa XI(1992) đến khóa XV (2010) đưa ra mục tiêu trọng tâm là: Ổn định và đẩymạnh phát triển KT - XH, giải phóng năng lực sản xuất; từng bước chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; phát triển mạnh mẽ tiểu thủ côngnghiệp, xây dựng - công nghiệp và phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ;tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội; bảođảm an ninh - quốc phòng; từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân [2, tr 818]
Thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển KT - XH do Đại hội Đảng bộtỉnh Hòa Bình đã đề ra, sau 20 năm tái lập tỉnh, giai đoạn 1991 - 2010, pháttriển kinh tế ở Hòa Bình có bước chuyển biến rõ nét, đã đạt những thành t ựukhá toàn di ện, GDP liên t ục đạt t ốc độ tăng trưởng khá, v ớ i mức bình quân7,6%/ năm trong giai đoạn 1991 - 1995; 7,5%/ năm trong giai đoạn 1996 -2000; 8%/ năm trong giai đoạn 2001 - 2005, đặ c biệt trong giai đoạn 2006 -
2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,14% Thu ngân sách nhà nước cóbước nhảy vọt (năm 1995 đạt 240,3 tỉ đồng, năm 2005 đạt 379 tỷ đồng, năm
2010 đạt 1.322 tỷ đồng) Thu nhập bình quân đầu người năm 1995 là 1,7 triệuđồng, năm 2000 là 2,5 triệu đồng, năm 2010 đạt 13,2 triệu đồng; đời sống củanhân dân các dân tộc trong tỉnh không ngừng được cải thiện Toàn tỉnh khôngcòn hộ đói, tốc độ giảm nghèo nhanh từ 31,31% năm 2005 xuống còn 14%năm 2010 Kết cấu hạ tầng KT - XH được đầu tư phát triển, đường giao
thông, điện, trường học, bệnh viện, công trình thủy lợi, cùng các công trìnhphúc lợi khác phát triển mạnh làm cho diện mạo của tỉnh Hòa Bình có nhiềuthay đổi nhanh chóng, nhất là Thành phố Hòa Bình và các thị trấn Sản xuất
Trang 31nông nghi ệp ti ếp tụ c phát tri ển theo hướng b ền v ững; s ản xuấ t công nghi ệptăng giá trị g ấp 2,5 lầ n so v ới năm 20 05; các ngành d ịch vụ phát tri ển khá,
t ổng mức doanh thu tăng gấp 4,5 l ần so v ới năm 2005 [2, tr 809] Quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Hòa Bình diễn ra theo hướng giảm dần tỉtrọng của nông - lâm - ngư nghiệp, tăng dần tỉ trọng của công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ Tiến trình này phù hợp với xu thế chung của chuyển dịch cơcấu kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế, được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991 - 2010)
- xây dựng và dịch vụ, tỷ trọng trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp giảm dần, đãđặt ra yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực đối với GDPT phải kịp thời thíchứng với sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Đây vừa là điều kiện thuận lợi,
song cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức đối với phát triển
GDPT ở tỉnh Hòa Bình
Trang 32Truyền thống lịch sử, văn hóa - xã hội.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ở địa bàn có vị tríquan trọng, địa thế hiểm yếu nên nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình cótruyền thống yêu nước, đấu tranh lâu đời, chính trong quá trình đó, truyềnthống yêu nước được hình thành và ngày càng được bồi đắp, phát huy Núivua Bà đã đi vào sử sách, là nơi lập căn cứ của hai nữ anh hùng Trưng Trắc,Trưng Nhị chống lại quân xâm lược Đông Hán trong những năm đầu côngnguyên Thế kỷ XV, phong kiến nhà Minh xâm lược và thống trị nước ta, LêLợi đã dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa), dải đất liền mạch vớiđịa bàn cư trú của đồng bào Mường Hòa Bình, nghĩa quân đã được nhân dâncác dân tộc Hòa Bình hết lòng ủng hộ, kết thúc cuộc kháng chiến 10 nămgian khổ giành độc lập dân tộc Thế kỷ XVIII, nước ta bị tập đoàn phong kiếnphương Bắc Mãn Thanh xâm lược, người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ từPhú Xuân đưa đại quân thần tốc ra đại phá quân Thanh, trên đường qua LạcSơn - Kim Bôi được nhân dân tận tình giúp đỡ như dẫn đường, ủng hộ và vậnchuyển lương thực, thực phẩm… Không chỉ có truyền thống yêu nước chốnggiặc ngoại xâm, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình còn có truyền thống đấutranh chống lại sự áp bức bóc lột của một bộ phận triều đình phong kiến thốinát Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhândân các dân tộc Hòa Bình tiếp tục nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất, anhdũng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ nền độc lậpdân tộc và lập nhiều chiến công vang dội, đồng thời là nơi tiếp tế quan trọngcho tiền tuyến, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Namthống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH
Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình có niềm tự hào là quê hương củamột nền văn hóa nổi tiếng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trìnhhình thành, phát triển của loài người nói chung và con người Việt Nam nói
Trang 33riêng, đó là nền văn hóa Hòa Bình, nền văn hóa của dân cư nông nghiệp sơkhai cách đây hàng vạn năm do nhà khảo cổ học người Pháp Colani phát hiệnvà được đại hội lần thứ nhất các nhà tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội vàotháng Giêng năm 1932 thừa nhận Hàng loạt các di chỉ khảo cổ học trên đấtHòa Bình được phát hiện, trong đó có trống Sông Đà là một trong nhữngchiếc trống vào loại đẹp nhất, cổ nhất thế giới Nhiều công cụ bằng đồngđược phát hiện như: rìu lưỡi xéo, lưỡi giáo, thuẫn, dao cắt, thạp thố… thuộcvăn hóa Đông Sơn đã chứng tỏ nền văn hóa nổi tiếng này đã phát triển rực rỡtrên vùng đất Hòa Bình, là những minh chứng lịch sử khẳng định cư dân xưatrên đất Hòa Bình đã góp phần xây dựng nền văn minh nông nghiệp của đấtViệt Dân tộc Mường chính là người Việt cổ.
Tự hào là mảnh đất có chiều dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trongtỉnh cũng tạo cho mình một sắc thái đặc sắc riêng Đồng bào Mường có lễ hộiCồng Chiêng, có trường ca “Đẻ đất, đẻ nước” Đồng bào Thái có chữ viếtriêng từ lâu đời với trường ca “Sống trụ sôn sao” Tiếng sáo cùng những lànđiệu dân ca H’Mông say đắm,… đã tạo ra sự phong phú đa dạng về văn hóaViệt Nam mà vẫn giữ được bản sắc riêng của mỗi dân tộc tỉnh Hòa Bình
Cần cù lao động, nghị lực trong cuộc sống đầy khó khăn vất vả, thậtthà chân chất và giàu lòng nhân ái, mến khách, tình gắn bó keo sơn giữa
những người cùng cộng đồng Trong lịch sử phát triển của mình, mặc dù tỉnhHòa Bình có bề dày văn hóa, nhưng do nhiều nguyên nhân, nền giáo dục HòaBình phát triển rất chậm Với điều kiện kinh tế mang tính tự cấp, tự túc, lại bịchế độ lang đạo, thực dân thống trị cực kỳ tàn bạo, lạc hậu và bảo thủ, đã kìmhãm trình độ dân trí của dân nhân các dân tộc trong tỉnh, ngay cả Công sứ tỉnhHòa Bình Regnier cũng phải xem đó như một sai lầm cần phải sửa chữa…
Từ các đặc điểm chủ yếu nêu trên, đã phản ánh những thuận lợi cơ bản,
to lớn cũng như những khó khăn không nhỏ đối với quá trình phát triển
GDPT ở tỉnh Hòa Bình Song, với truyền thống bất khuất kiên cường chống
Trang 34áp bức bất công, chống quân xâm lược của nhân dân các dân tộc và xuất phát
từ nền tảng văn hóa được các thế hệ dân cư Hòa Bình, là một trong những
nền tảng vững chắc, động lực quan trọng để giáo dục đào tạo nói chung,
GDPT ở tỉnh Hòa Bình nói riêng được phát triển bền vững, cũng như góp
phần vào việc giữ gìn, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc
2.1.2 Giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình trước khi tái lập tỉnh (1991).
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi,hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nhân dân các dân tộc trong tỉnh Hoà Bìnhbắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hươngsau 9 năm kháng chiến Ngành giáo dục tỉnh Hòa Bình bước vào thực hiện
nhiệm vụ mới rất vẻ vang, nhưng cũng đòi hỏi tinh thần trách nhiệm để vượtqua khó khăn, thách thức Xác định phát triển GD - ĐT là một trong nhữngnhiệm vụ trọng yếu, nhân dân các dân tộc Hòa Bình đã dốc sức cho sự nghiệpchấn hưng và phát triển giáo dục
Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975, ngành giáo dục tỉnh Hòa Bình tiếptục tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai theo hệ thống giáo dục 10, năm
gồm ba cấp: Cấp I là 4 năm, cấp II là 3 năm, cấp III là 3 năm Do vậy hệ
thống GDPT của tỉnh Hòa Bình đã không ngừng được phát triển Trong
những năm khôi phục và phát triển kinh tế (1954 - 1957), cùng với việc hoànthiện, củng cố hệ thống GDPT theo chương trình mới, tỉnh Hòa Bình vẫn duytrì được phong trào bình dân học vụ Tính đến cuối năm 1957, toàn tỉnh đã tổchức được 1548 lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ cho 10.949 người (đạt144% kế hoạch) Xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy trở thành lá cờ đầu về xóa
mù chữ của tỉnh được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Ngoài ra còn vậnđộng được 8.568 học viên tham gia bổ túc văn hóa, đạt 173% kế hoạch [146,
tr 103] Năm 1958, phong trào bổ túc văn hóa, phát triển GDPT được đẩy
mạnh hơn các năm trước Toàn ngành giáo dục của tỉnh đã mở các lớp bìnhdân học vụ, thu hút được 26.500 học viên tham dự, về cơ bản đã xóa mù chữ
Trang 35ở các xã Yên Lạc, Ngọc Lương, Yên Trị, Lạc Lương, Đoàn Kết, Hữu Lợithuộc huyện Yên Thủy; xã Thịnh Lang, Trung Minh, Phú Minh thuộc huyện
Kỳ Sơn Ở huyện Lương Sơn, năm 1960, 100% số người trong độ tuổi, chưabiết chữ đều đi học và chuyển sang thực hiện bổ túc văn hóa [146, tr 107-109] Đối với các xã vùng cao, vùng xa, toàn tỉnh Hòa Bình đã mở thêm 9trường cấp I ở vùng cao và vùng đồng bào Thiên Chúa giáo, ở Kim Bôi đãmở thêm một trường cấp II Số học sinh phổ thông thời kỳ này đã tăng lên7.290 em cấp I và 370 em cấp III [146, tr 109]
Ngoài ra, các phong trào như “dạy tốt, học tốt”, “xây dựng kỷ cương,tình thương, trách nhiệm”, “vở sạch chữ đẹp”… được phát động rộng khắp ởcác trường học
Cũng trong thời gian này, hưởng ứng phong trào miền xuôi đi xâydựng kinh tế, văn hóa và lập nghiệp ở miền núi, năm 1959, tỉnh Hòa Bình đãtiếp nhận 86 giáo viên và hàng chục sinh viên tình nguyện lên công tác ở địaphương trong tỉnh Hàng loạt các trường cấp I, cấp II đã được thành lập như:trường Ngọc Lương (Yên Thủy), Suối Rút (Mai Châu), Hợp Thịnh, ThịnhLang, Dân Hạ, Thu Phong (Kỳ Sơn), Mãn Đức, Tử Nê (Tân Lạc), Vĩnh Tiến,Thanh Lương (Kim Bôi) Được sự quan tâm của Tỉnh ủy và chính quyền địaphương, tháng 10 - 1961, tỉnh Hòa Bình đã thành lập Khu học xá và phátđộng phong trào thi đua “Hai tốt” để nâng cao chất lượng giáo dục
Thực hiện Chỉ thị 237 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 26 của Bộ
GD ĐT về công tác lãnh đạo sản xuất trong các trường học, ngày 1 4
-1958, trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình ra đời Đây làtrường “vừa học, vừa làm” đầu tiên ở Việt Nam với phương châm giáo dụccủa trường là thực hiện “học đi đôi với hành” Tiếp tục phát triển mô hìnhnày, tỉnh đã chỉ đạo thành lập trường phổ thông lao động ở các huyện Ngày
17 - 8 - 1962, nhà trường đã vinh dự được đón Bác Hồ về thăm, Bác đã ghitrong sổ vàng truyền thống của trường dòng chữ: “phải học tập tốt, lao động
Trang 36tốt, cố gắng mãi, tiến bộ mãi” Đây không chỉ là yêu cầu đối với trường
Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, mà còn là mục tiêu chungcho toàn hệ thống GD - ĐT của cả nước Từ mô hình trường Thanh niên laođộng xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, trường đã trở thành một điển hình giáo dụckhông chỉ trong nước mà còn có ảnh hưởng tới một số nước khác như Lào,
Cu Ba… đã tới thăm và học tập kinh nghiệm Không ngừng xây dựng vàtrưởng thành, trường luôn là đơn vị dẫn đầu các trường vừa học vừa làm vàđược nhận cờ thi đua xuất sắc nhất của Bộ Giáo dục trao tặng tại đại hội thi
đua “Hai tốt” toàn miền Bắc (12 - 1966).
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), ngànhgiáo dục Hòa Bình tích cực tìm ra những hình thức hoạt động cho phù hợpvới điều kiện địa phương để kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, học lýthuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành Kết quả, đầu năm 1961, Hòa Bìnhlà tỉnh miền núi đầu tiên hoàn thành công tác xóa mù chữ và vinh dự đượcđón Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng dự lễ mừng công về xóa mù chữ vàtrao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho ngành giáo dục của tỉnh.Năm 1962, toàn tỉnh Hòa Bình có thêm 5.434 người biết đọc, biết viết Nămhọc 1962 - 1963, tính chung các huyện thị trong tỉnh đã mở thêm 40 trườngphổ thông cấp I, đưa tổng số trường ở toàn tỉnh lên 201 trường, với 17.932học sinh; cấp II có 20 trường, với 2.266 học sinh; 1 trường cấp III, với 536học sinh Năm học 1963 - 1964, tổng số học sinh phổ thông các cấp lên
nhanh chóng với 22.756 em, đạt 109,18% kế hoạch, đặc biệt trong số họcsinh cấp III có 17% là con em đồng bào dân tộc Tày, Dao, Mông, Thái,
Mường [146, tr 118]
Tuy nhiên, một số chỉ tiêu cụ thể mà ngành giáo dục Hòa Bình đề racho giai đoạn này vẫn chưa đạt yêu cầu, trong đó đáng chú ý là việc huy độngcác trẻ em dân tộc trong độ tuổi đi học đến lớp đạt tỷ lệ thấp, nhất là ở cấp I,như ở Mai Châu, Đà Bắc mới đạt 23 - 26%, một số huyện khác cũng chỉ đạt
Trang 3728 - 47% Đặc biệt các vùng đồng bào dân tộc Mông, Dao tỷ lệ này càngthấp, bình quân 1.000 dân mới có 4 người đi học [146, tr 119].
Từ cuối năm 1964, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằngkhông quân và hải quân, tỉnh Hòa Bình là cửa ngõ khu Tây Bắc và là nơi tậpkết các cơ sở hậu cần quan trọng nên đế quốc Mỹ coi Hòa Bình là một trongnhững trọng điểm tập trung phá hoại, nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Hòa Bình bịmáy bay Mỹ đánh phá ác liệt Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, cáctrường học đã nhanh chóng sơ tán về các làng, bản Phương châm giáo dụctỉnh Hòa Bình lúc này là tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các cấp học,bậc học Với tinh thần quyết tâm cao, thầy và trò luôn duy trì bám trường,bám lớp và đạt được những kết quả đáng khích lệ Năm học 1964 - 1965, tỷ lệhọc sinh thi tốt nghiệp phổ thông ở cả ba cấp: cấp I đạt 95,5%, cấp II đạt97%, cấp III đạt 93,2% Huyện Kim Bôi, năm học 1974 - 1975 tỷ lệ học sinhlên lớp đạt 90%, chuyển cấp đạt 85% [146, tr 126,134,138]
Tháng 12-1966, trường cấp III Hoàng Văn Thụ tiếp tục được Bộ Giáodục công nhận là 1 trong 9 trường tiên tiến toàn miền Bắc; năm 1971 Trườngthanh niên Lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình là 1 trong 3 trường đượcnhận danh hiệu Đơn vị tiên tiến toàn ngành, được Nhà nước tặng thưởngHuân chương Lao động hạng Hai Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Dù khókhăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”, các trường, cáccấp học trong tỉnh đã phát động phòng trào thi đua “dạy tốt, học tốt” Cáctrường điển hình tiên tiến như: Ngổ Luông, Định Cư, Thu Phong, Kim Bình,Vĩnh Tiến luôn là lá cờ đầu của ngành giáo dục tỉnh Hòa Bình
Số lượng học sinh phổ thông trong tỉnh Hòa Bình tiếp tục tăng nhanhtrong các năm Năm học 1964 - 1965 là 25.912 học sinh, đến năm học 1974 -
1975 là 88.516 học sinh Số trường trong toàn tỉnh cũng tăng lên Năm học
1964 - 1965 có 239 trường, đến năm học 1968 -1969 đã lên đến 314 trường;100% xã có trường cấp I; cứ 2,5 xã có 1 trường cấp II, huyện nào cũng có
Trang 38trường cấp III Tiêu biểu là huyện Lạc Thủy, năm học 1969 - 1970, có 136lớp cấp I và cấp II, với 5.503 học sinh, đến năm học 1974 - 1975 số học sinh
đã tăng 23% so với năm học trước [146, tr 127,133,134]
Để tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng đội ngũ giáoviên, tỉnh Hòa Bình đã tiến hành sáp nhập một số trường như: trường sưphạm bổ túc văn hóa Lê Hồng Phong nhập với trường Trung cấp sư phạm;trường sư phạm cấp I Mai Châu, Đà Bắc nhập với trường sư phạm cấp I củatỉnh Cũng trong thời gian này, ngành GD - ĐT Hòa Bình tiếp tục mở thêmtrường sư phạm 10 + 3 và tiến hành sáp nhập với trường Cao đẳng sư phạmThường Tín (Hà Tây) để tiếp tục nhiệm vụ đào tạo giáo viên Hàng nămtrường đã đào tạo được 400 - 500 giáo sinh, trong đó phần đông là các giáosinh dân tộc thiểu số trong tỉnh Hệ thống các trường sư phạm đã đóng gópmột phần quan trọng vào việc phát triển đội ngũ giáo viên và sự nghiệp GD -
ĐT của tỉnh Hòa Bình
Công tác toàn dân chung sức chăm lo sự nghiệp giáo dục cũng đãđượcquan tâm chỉ đạo Tiêu biểu như nhân dân huyện Kim Bôi đã tự nguyệnquyên góp 800 tấn củi khô, trị giá 16.000đ cho quỹ giáo dục, hỗ trợ các thầy,
cô giáo; huyện Lạc Thủy hàng chục phòng học và hàng trăm bộ bàn ghế họcsinh do nhân dân tự nguyện đóng góp và trang bị cho các trường học; huyệnLương Sơn thực hiện phương châm “Dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ”… Dovậy, năm học 1971 - 1972 đã khắc phục được tình trạng thiếu trường, lớp,hoặc trường lớp nhà rách vách nát, thiếu bàn ghế học cho học sinh
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miềnNam đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới, cả nước độc lập,thống nhất và đi lên xây dựng CNXH Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, ngày
27 - 12 - 1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khóa V) tại kỳhọp thứ II, đã ra Nghị quyết về việc hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bìnhthành tỉnh Hà Sơn Bình Trong bối cảnh đó sự nghiệp phát triển giáo dục của
Trang 39Hòa Bình gắn liền với mục tiêu phát triển KT - XH của tỉnh Hà Sơn Bình.Ngay sau khi sáp nhập, Ty Giáo dục Hà Sơn Bình được thành lập và đi vàohoạt động, đã khẩn trương chỉ đạo có hiệu quả các mặt công tác của ngành.Riêng về khu vực Hòa Bình, ngành giáo dục đã tập trung chỉ đạo thựchiện và có những bước phát triển mới Năm học 1975 - 1976, tỷ lệ học sinhtốt nghiệp cấp I đạt 99%, cấp II đạt 97%, cấp III đạt 76%; trường, lớp, bànghế được sửa chữa và mua sắm thêm, một số xã đã xây dựng trường cấp IIkiên cố, xây dựng trường cấp III Yên Thủy, Tân Lạc [146, tr 153].
Năm 1977 là năm đầu tiên ngành giáo dục tỉnh Hà Sơn Bình thực hiệnNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất Triển khai thực hiện Nghịquyết của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh đã đưa ra chỉ đạochung đó là: phải coi trọng công tác bổ túc văn hóa, tăng số học sinh phổthông, chuẩn bị tiến hành cải cách giáo dục; quy hoạch sắp xếp lại mạng lướitrường cấp III; vận động học sinh các dân tộc tiếp tục học lên cấp III, đồngthời tổ chức nội trú ở một số trường miền núi, tạo điều kiện cho học sinh cácdân tộc đi học Đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường; tăngcường tu sửa trường, lớp và chuẩn bị chu đáo việc khai giảng năm học mới.Thực hiện chủ trương nêu trên, GDPT khu vực Hòa Bình đã đạt đượcmột số kết quả như:
Năm học 1976 - 1977, số học sinh tốt nghiệp cấp III đạt tỷ lệ 82,%, cấp
II đạt 87,5%, cấp II bổ túc đạt 92% Tổng số học sinh khi khai giảng tăng 5%
so với năm học trước Trong chiến dịch ánh sáng văn hóa đã xóa mù chữ cho3.470 người; hoàn thành việc hợp nhất cấp I, cấp II để chuẩn bị cho việc cảicách giáo dục; các xã đều có trường cấp I và hầu hết có trường cấp II (trừ một
số xã vùng cao) [146, tr 157]
Năm học 1977 - 1978, số lượng học sinh tăng lên nhanh chóng đạt 99%kế hoạch, công tác bổ túc văn hóa thực hiện vượt mức 2,7% GDPT tiếp tụcphát triển khá, tỷ lệ thi đỗ trong các kỳ thi hết cấp đạt kết quả cao: cấp II đỗ
Trang 4089,8%, trong đó có nhiều trường đỗ 100%; cấp III đỗ 80%, trong đó trườngcấp III Mai Châu đỗ 100%; cấp II bổ túc văn hóa đỗ 88%, cấp III bổ túc vănhóa đỗ 80% Nhiều trường cấp III đã có sự chuyển biến theo phương thức
“vừa học, vừa làm” Trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường,nhiều địa phương đã kết hợp tốt việc sử dụng vốn của Nhà nước với huy độngvốn và sức lao động đông đảo của nhân dân; đã sử dụng 2,7 triệu đồng ngânsách đầu tư cho các trường cấp I và cấp II, trong năm học đã xây dựng thêm
800 phòng học, hầu hết là kiên cố, nhiều ngôi trường cao tầng và bán kiên cố
đã được xây dựng như trường cấp III Hoàng Văn Thụ, trường cấp III Côngnghiệp, các trường PTCS Hữu Nghị A, Hữu Nghị B, Kim Đồng, Nguyễn BáNgọc, Lý Tự Trọng; đã hoàn thành việc hợp nhất trường cấp I, II thành
trường PTCS [146, tr 159-160, 163]
Năm học 1978 - 1979, các ngành học, cấp học tiếp tục phát triển, số họcsinh cấp II tăng từ 10 - 20%, cấp III tăng 20% (riêng huyện Đà Bắc tăng110%) Đặc biệt, huyện Yên Thủy là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh hoàn thành phổcập cấp I cho toàn dân; xã Ngổ Luông (Tân Lạc) hoàn thành phổ cập cấp IItrong độ tuổi; năm 1979, Trường cấp III Công nghiệp B với những thành tíchxuất sắc trong phong trào vừa học vừa làm đã được Nhà nước tặng thưởngHuân chương lao động hạng Ba Công tác xây dựng các trường ở khu vựcvùng sâu, vùng xa cũng được quan tâm đầu tư, củng cố cơ sở vật chất như cáctrường cấp III Đà Bắc, Mai Châu, Lương Sơn, Kim Bôi A được xây dựngmới khang trang [146, tr 163-164]
Trước yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới, ngày 11 - 01 - 1979, BộChính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục lần thứ 3.Nghị quyết nêu rõ hệ thống GDPT được thực hiện theo chương trình 12 nămgồm 3 cấp, theo đó hệ thống trường phổ thông trong cả nước được chia thành
2 bậc: bậc PTCS từ lớp 1 đến lớp 9, bậc PTTH từ lớp 10 đến lớp 12 Thựchiện Nghị quyết số 14-NQ/TW, các địa phương trong tỉnh Hà Sơn Bình