ĐẦU TƯ - Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong 1 thời gian dự án nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội - Quàn lý đầu tư xây dựng là quản lý Nhà nước về quá
Trang 1CHƯƠNG 1
DỰ ÁN ĐẦU TƯ - KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ
I ĐẦU TƯ
1 Khái niệm và thuật ngữ
2 Phân loại đầu tư
3 Các giai đoạn đầu tư
II CHI PHÍ
1 Chi phí và sản lượng
2 Chi phí thời cơ
3 Chi phí chìm
4 Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán
III DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1 Khái niệm một dự án đầu tư
2 Phân loại
3 Các đặc điểm của dự án
4 Các yếu tố dẫn đến thành công cùa một dự án
5 Các năng lực của người điều hành dự án
6 Các bộ phận của dự án
IV NGHIÊN CỨU KHẢ THI
1 Phân tích thị trường
2 Phân tích kỹ thuật
3 Phân tích nhân lực và quản lý
4 Phân tích tài chánh hay ngân sách
5 Phân tích hiệu quả kinh tế
6 Phân tích hiệu quả xã hội
V NGHIÊN CỨU DỰ ÁN KHẢ THI
VI THIẾT KẾ CHI TIẾT
VII THỰC HIỆN DỰ ÁN
VIII ĐÁNH GIÁ SAU DỰ ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG “DỰ ÁN ĐẦU TƯ_KHÁI NIỆM và
THUẬT NGỮ”
PHỤ LỤC 1: NGHỊ ĐỊNH số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 về việc ban hành Quy Chế Quản Lý và Đầu Tư Xây Dựng
Trang 2I ĐẦU TƯ
- Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong 1 thời gian dự án
nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
- Quàn lý đầu tư xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xd từ
bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai
thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định
- Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng
hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng,
cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một
khoảng thời gian xác định
- Vốn Nhà Nước là vốn thuộc sở hữu toàn dân hoặc có nguồn gốc toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý theo pháp luật
- Người có thẩm quyền quyết định đầu tư là tổ chức hoặc cơ quan Nhà nước
được Chính phủ giao quyền hoặc ủy quyền quyết định đầu tư
- Chủ đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân được giao trách
nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo qui định của pháp luật
• Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản
xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án dược xác định trong quyết
định đầu tư và chỉ được điều chỉnh theo qui định tại điều 25 (Điều 25 Phụ lục 1)
1 Tổng mức đầu tư bao gồm những chi phí cho việc chuẩn bị đầu
tư, chi phí thực hiện đầu tư và xây dựng, chi phí chuẩn bị sản xuất, lãi vay ngân hàng của chủ đầu tư trong thời gian thực hiện dầu tư, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất (đối với dự án sản xuất), chi phí bảo hiểm, chi phí dự phòng
2 Tổng mức đầu tư chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp:
a Nhà nước ban hành những qui định mới được thay đổi mặt bằng giá đầu tư và xây dựng
b Do thay đổi tỉ gia giữa đồng VN và đồng ngoại tệ, đối với phần phải sử dụng ngoại tệ cuả dự án
c Do trường hợp bất phản kháng
3 Bộ kế hoạch đầu tư hướng dẫn nôi dung chi tiết tổng mức đầu tư
* Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình thuộc dự án, được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật
Tổng dự toán công trình bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến khảo sát,
thiết kế, xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí sử dụng đất đai, đền bù và giải phóng
mặt bằng, chi phí khác vá chi phí dự phòng
Trang 3* Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp
là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết, đảm bảo đúng chế độ kế toán của Nhà nước và được kiểm toán khi có yêu cầu của Người có thẩm quyền quyết định đầu
tư
* Tiêu chuẩn xây dựng là các tiêu chuẩn kỹ thuật được qui định để thực hiện các công việc khảo sát, thiết kế, xây lắp, nghiệm thu đảm bảo chất lượng công trình, áp dụng cho từng loại chuyên ngành xây dựng do Nhà nước hoặc các
Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành ban hành
* Quy chuẩn xây dựng là văn bản qui định các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi hoạt động xây dựng và các giải pháp tiêu chuẩn xây dựng được sử dụng để đạt các yêu cầu do Bộ Xây Dựng thống nhất ban hành
- Đấu thầu là quá trình lựu chọn nhà thầu, đáp ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu
- Xét thầu là quá trình phân tích, danh giá các hồ sơ nhận thầu, để xét chọn bên trúng thầu
- Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư, có dự án cần đấu thầu
- Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và tư cách pháp nhân để tham gia đấu thầu Nhà thầu có thể là cá nhân, trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn
- Gói thầu là một phần công việc của dự án đầu tư được chia theo tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án; có quy mô hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án; để tổ chức lựa chọn nhà thầu
- "Gói thầu" cũng có thể là toàn bộ dự án
- Tư vấn dầu tư và xây dựng là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cho bên mời thầu, trong việc xem xét quyết định kiểm tra quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư
- Sơ tuyển là bước lựa chọn các nhà thầu có đủ tư cách và năng lực dể tham dự dấu thầu
- Nộp thầu là thời hạn nhận hồ sơ dự thầu, được quy dình trong hồ sơ mới thầu
- Mở thầu là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu, được quy định trong hồ
sơ mời thầu
- Danh sách ngắn là danh sách thu hẹp các nhà thầu được lựa chọn qua các
buộc đánh giá hồ sơ dự thầu
2 Phân loại đầu tư
a) Đầu tư trực tiếp
Trang 4Đầu tư trực tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn (chủ đầu tư) và người sử
Tại các nước châu á khác, FDI qua mấy chục năm không những tích luỹ về lượng mà còn về chất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và tạo dựng một nền tảng công nghiệp ngày càng vững chắc Đặc biệt, từ giữa thập niên 1980, FDI của Nhật tại châu Á ngày càng nghiêng về các ngành chế tạo máy móc và linh kiện như xe hơi, sản phẩm đi ện và điện tử, máy công cụ, máy dùng trong nông nghiệp, trong xây dựng Tỷ lệ của các ngành sản xuất máy móc và linh kiện trong tông vốn FDI thuộc lĩnh vực chế tạo của Nhật tại châu A trong ba thập niên trước năm 1980 chỉ
có 24%, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 45% trong hai thập niên 1980 và 1990 Tính riêng về ngành điện và điện tứ, tỷ lệ này tăng từ 12% đến gần 27% trong thời gian trên Ngoài Nhật, các công ty Âu Mỹ và Đài Loan cũng đầu tư nhiều trong lĩnh vực này Hiệu quả tích tụ và phản ứng dây chuyền của các ngành này rất !ớn Khi
đã có một số công ty đầu tư sản xuất nhiều linh kiện, bộ phận điện tử vào một địa điểm nào đó (do những điều kiện ưu đãi về thuế, về cơ sở hạ tầng ) thường kéo theo những đầu tư mới để lắp ráp các linh kiện, bộ phận đó, hoặc để sản xuất những sản phẩm trung gian cung cấp cho những công ty đã đầu tư trước Do hiệu quả tích tụ và phản ứng dây chuyền này, sau nhiều năm tích cực thu hút FDI, hiện nay Malaysia đã trở thành một trong những trung tâm lớn của thế giới sản xuất ti-
vi màu, máy quay video, đầu máy DVD và nhiều sản phẩm điện tử khác Thái Lan
đã trở thành trung tâm sản xuất xe hơi và các bộ phận liên hệ (lớn thứ ba ở châu á, sau Nhật và Hàn Quốc) Trong thập niên 1990, nhờ cải thiện môi trường FDI, Philippines đã thành công trong việc tăng sức cạnh tranh trong công nghệ điện tử, nâng tỷ lệ của các sản phẩm điện tử và chất bán dẫn trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ 17% vào năm 1990 lên tới 53 % vào năm 1998
FDI được tích luỹ của Nhật tại Việt Nam còn quá ít: chỉ bằng 1/11 của Thái Lan và 1/7 của Malaysia, chưa nói đến những nước như Indonesia, Trung Quốc Ngay cá Philippines là nước phát triển chậm nhất trong các nước ASEAN trong 30 năm qua nhưng FDI được tích luỹ của Nhật tại đây cũng lớn hơn Việt Nam 4,5 lần
Trang 5Nhưng như đã nói ở trên, sự cách biệt này không quan trọng lắm vì Việt Nam mơl bắt đầu có chính sách thu hút FDI từ cuối năm 1987 và Nhật chỉ thực sự bắt đầu đầu tư ở Vlệt Nam từ năm 1993
• Tình hình FDI tại VN
Ba đặc trưng của FDI tại Việt Nam
Thứ nhất, vốn đăng ký của các dự án FDI giám liên tục từ năm 1997 Đặc biệt vốn đăng ký năm 1999 chỉ bằng 40% năm trước và tụt xuống trở lại mức năm
1991 Vốn đăng ký năm 2000 đạt 19 tỉ USD, tăng 21% so với nam trước và do đó
về hình thức đã chấm dứt được khuynh bướng giảm liên tục vừa đề cập Tuy nhiên, trong năm 2000 có dự án khai thác khí đốt Nam Côn Sơn rất lớn, chỉ một dự án nầy đã chiếm hơn phân nứa toàn bộ vốn đăng ký của năm này Do đó, về thực chất, chưa cỏ một sự xoay chiều trong FDI tại Việt Nam
So sánh vốn thực hiện của FDI tại các nước châu á (xem báng) cho thấy vốn thực hiện FDI tại Việt Nam mấy năm gần đây chưa giảm nhiều vì nhờ kết quả của vốn đăng ký trong những năm trước đó nhất là những năm từ 1996 trở vế trước: Tuy nhiên, với khuynh hướng giám nhanh và liên tục trong vốn đăng ký những năm gần đấy, vốn thực hiện trong những năm sau sẽ giảm trầm trọng "Trong bản
dự tháo Báo cáo chính tri của Đại hội IX sắp tới: trong kế hoạch năm năm lần thứ bảy (200l-2005), Việt Nam dự kiến sẽ cần mỗi năm 11,2 ti USD vốn FDI, bằng
18 – 19 % tổng vốn đầu tư (tý lệ này tương đương với tỷ lệ của mấy năm gần đây) Với tình huống vừa đề cập, Việt Nam rất có khả năng không đạt được mục tiêu
tập trung vào các ngành phi công nghiệp cũng thấy có ở kinh nghiệm tại các nước
khác như Trung Quốc Lý do là các nhà đầu tư nước ngoài muốn nhanh chóng thu hồi vốn trong một thị rường còn rủi ro, chưa ổn định về hành lang pháp lý và cơ sở
hạ tầng Một lý do nữa là trong giai đoạn đầu có nhiều nhu cầu đầu tư vào các ngành khách sạn, dịch vụ, thông tin đề xây dựng cơ sớ hạ tầng phục vụ cho phát triển sán xuất kinh doanh (mà có thể gọi chung là business infrastructure-
Bảng 2: Dòng chảy FDI vào các nước Châu á
Trang 6đây, FDI tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa chuyền sang giai đoạn tập trung vào ngành công nghiệp Thời kỳ FDI tập trung vào business infrastructure tại Việt Nam có thể nói là chấm dứt khoáng năm 1995-1996, nhưng sau đó thay vì FDI triển khai mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp, nhất là các ngành phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam, thì ngược lại, như đã thấy ở trên, FDI giảm mạnh và liên tục Trước nhu cầu cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, đế thú hút lao động dư thừa hiện nay và trước nhu cầu cần du nhập nhiều công nghệ, vốn và tri thức quản
lý, kinh doanh đề ngày càng có nhiều hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường thế giới, tình hình gần đây là đáng lo ngại vì sẽ ảnh hưởng đến chiến lược công nghiệp hoá sắp tới nếu không sớm có biện pháp đề khởi động một sự chuyển dịch cá lượng và chất của FDI tại Việt Nam
Đặc trưng thứ ba cửa FDI tại Việt Nam gần đây là ngày càng có nhiều dự án
100 % vốn nước ngoài, và các dự án liên doanh thì ngày cảng ít đi Nếu chia 13 năm (1988-2000) thu hút FDI thành 3 giai đoạn thì thấy như sau: Nếu trong giai đoạn 1988-1992, số dự án 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 12% tổng số dự án được cấp giấy phép, thì tý lệ này táng lên 38% trong giai đoạn 1993- 1996 và !ên tới 64% trong giai đoạn gần đây nhất Riêng trong năm 2000, tỷ lệ này là 78%, số
dự án án 100% vốn nước ngoài lên tới con số 286, gấp 4, 5 lần số dự án liên doanh.(tác giả tính từ tư liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư): Ngoài ra, nhiều dự án nguyên là liên doanh đã xin chuyển sang hình thức 100 % vốn nước ngoài Các trường hợp này bắt đầu từ năm 1997 (chi tính đen cuối tháng 4- 1999 đã có 39 dự
án như vậy) và tăng nhanh trong những năm gần đây
* Liên doanh (Joint Venture) : người đầu tư và vốn là nước ngoài hợp tác với cơ quan Nhà nước, người đầu tư và vốn trong nước
* Đầu tư trực tiếp trong nước : người đầu tư và vốn là nước trong nước
b) Đầu tư gián tiếp
Trang 7Đầu tư gián tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn
và hổ trợ vốn ký kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởi công pháp quốc tế
Theo cách thức hoàn trả ODA có ba loại:
+ Viện trợ không hoàn lại
Là loại ODA mà bên nước nhận không phải hoàn lại, nguồn vốn nầy nhằm
để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thoả thuận trước giữa các bên Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhà nước, dược cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Viện trợ không hoàn lại chiếm 25% tổng số ODA trên thế giới và được ưu tiên cho những dự án về các lãnh vực như y tế, dân số, giáo dục, môi trường + Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi)
Vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng
ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các
dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế Các điều kiện ưu đãi bao gồm:
• Lãi suất thấp
• Thời gian trả nợ dài
• Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ
+ ODA cho vay hỗn hợp
Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi
* Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao BOT (Built-Operation-Transfer)
Do thiếu vốn nên Chính Phủ có thể kêu gọi các công ty bỏ vốn xây dựng trước (Built) thông qua đấu thầu, sau đó khai thác vận hành một thời gian (Operation) và sau cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho nhà nước sở tại Hình thức nầy cũng được sử dụng ở VN, nhưng sau một thời gian có nhười ta có chung một nhận xét
là thường các dự án dạng BOT giá thành thường được đẩy lên cao hơn thực tế
Trang 8nhiều do phía đầu tư biết rằng bên đối tác thiếu vốn để xây dựng để phát triển cơ
sở hạ tầng và có quá nhiều nước đang phát triển cần vốn
c) Các phân loại đầu tư khác
• Phân theo nhóm Dựa vào vốn đầu tư, ngành nghề kinh tế mà các dự án đầu tư có thể phân thành ba nhóm A B C (chi tiết xem phần phụ lục trong phụ lục1)
• Phân loại theo trình tự lập và trình duyệt dự án Theo trình tự lập và trình duyệt dự án được phân ra làm 2 loại:
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần IV của chương nầy)
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần V của chương nầy)
Tùy theo qui mô của đầu tư mà phải tiến hành nghiên cứu hai hoặc một bước trong trình tự nầy
3 Các giai đoạn đầu tư
a) Chuẩn bị đầu tư
Nội dung công tác đầu tư bao gồm các bước sau :
1 Nghiên cưú sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
2 Tiến hành tiếp cận, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét các khả năng có thể huy động nguồn vốn đề đầu tư và lựa chọn hình thức để đầu tư
3 Lập dự án đầu tư
4 Thẩm định dự án để quyết định đầu tư
b) Thực hiện đầu tư
Nội dung thực hiện dự án đầu tư bao gồm:
1 Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục điạ)
2 Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
3 Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật, ước tính khối lượng công trình
4 Thẩm định thiết kế công trình
5 Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
6 Xin giấy phép xây dựng và khai thác tài nguyên (nếu có)
7 Ký kết hợp đồng với Nhà nước để thực hiện
8 Thi công xây lắp công trình
9 Theo dõi việc thực hiện, kiểm tra các hợp đồng
Trang 9c) Đưa dự án vào khai thác sử dụng
Nội dung công việc phải thực hiện khi kết thúc xây dựng bao gồm :
1 Chi phí và sản lượng
Trong chi phí và sản lượng chúng ta có các dạng chi phí sau :
- Chi phí cố định (fixed cost) là chi phí mà xí nghiệp nhất thiết phải tiêu tốn ngay cả khi không sản xuất gì cả Ví dụ như nhà xưởng, tiền thuê đất
- Chi phí biến đổi (variable cost) là loại chi phí tăng lên cùng với mức tăng của sản lượng
- Tổng chi phí (total cost) bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi
- Chi phí tới hạn (marginal cost) là luợng chi phí gia tăng để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm
2 Chi phí thời cơ
Chi phí thời cơ (opportunity cost) là giá trị kinh tế thật sự của một tài nguyên dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó Giá trị đó biểu thị bằng lợi ích thu được nếu ta đem tài nguyên trên để sản xuất ra một loại hàng hóa khác Ví
dụ như thay vì sản xuất ra một chiếc xe hơi chúng ta lại làm ra một máy công cụ chẳng hạn Trong ước tính chi phí thời cơ, cần phải phân ra 2 loại tài nguyên : tài nguyên có thể thay thế được và tài nguyên không thể thay thế được
Có thể phân thành 2 nhóm gía thời cơ: giá có thị trường và giá không có thị trường
* Giá thời cơ có thị trường là giá cả của thị trường trong một thị trường canh tranh Ví dụ người mua trả giá cho một tấn than là 1.50; 1.51; 1.52 triệu $, thì người bán sẽ chọn giá 1.52 triệu $ (giá cao nhất) để bán Trong trường hợp nầy giá thời cơ cho 1 tấn than (cơ hội tốt thứ hai đã bỏ qua) là 1.51 triệu $
* Giá thời cơ không có thị trường là giá cả được tính toán cho loại tài nguyên thứ 2 Ví dụ một sinh viên nếu đi làm thay vì đi học thì có thể thu được là
2 triệu $ /năm, nhưng nếu đi học thì sẽ tốn 1 triệu $ /năm Như vậy chi phí thời cơ cho việc đi học là 3 triệu $ /năm
* Chi phí thời cơ và việc sử dụng vốn
Trang 10Việc sử dụng vốn cũng được xem như là một giá thời cơ khi đem vốn dùng trong các dự án khác nhau, người ta thường dùng một giá thời cơ để so sánh
3 Chi phí chìm
Chi phí chìm (sunk cost) là những chi phí không thu lại được do những quyết
định sai lầm trong quá khứ Loại chi phí nầy không được đưa vào trong tính toán
dự án
4 Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán
Chi phí tiền mặt (cash cost) bao gồm tiền phải chi trả và số nợ gia tăng Chi phí bút toán (book cost) là loại chi phí chỉ ghi trong sổ sách chớ không
có trong thực tế Ví dụ các khỏan tính khấu hao cho đầu tư vốn dùng trong việc
tính thuế
III DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1 Khái niệm 1 dự án đầu tư
- Dự án đầu tư : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định
Một dự án có thể xác định theo nhiều cách Các dự án có thể là do các bộ ngành hữu quan đề xuất , có thể bắt nguồn từ quá trình xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia hay các doanh nghiệp tư nhân hoặc nhà nước cũng có các dự án đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn trước khi thực hiện
Khi thực hiện một dự án bao giờ cũng có sự mâu thuẩn tiềm ẩn giữa về lợi ích giữa những người thực hiện dự án và toàn xã hội Lý do là lợi ích của dự án và các chương trình công cộng chỉ tập trung cho một bộ phận dân chúng Chẳng hạng như, một đập thủy lợi chỉ giúp ích cho một nhóm hộ nông dân trong vùng ảnh hưởng của đập mà thôi Nói một cách khác một dự án đầu tư chỉ giúp ích cho một
bộ phận cộng đồng nào mà thôi Những đối tượng do nhận biết lợi ích do dự án mang lại cho mình nên có xu hướng ủng hộ mạnh mẽ Đồng thời nếu các chi phí của dự án được cung cấp phần lớn bằng tiền ngân sách chung của chính phủ, là kinh phí được phân bố rộng rãi cho toàn xã hội, thì sẽ không có một nhóm người nào thấy mình phải chịu phần lớn gánh nặng chi phí của dự án Kết quả có thể đoán trước được là những người được hưỡng lợi từ dự án có xu hướng tạo thành một nhóm lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ dự án, trong khi có nhóm người thua thiệt (là những người gánh chịu chi phí dự án) lại quá phân tán và những mất mát cá nhân trong số họ quá nhỏ , nên họ không thể trở thành đối trọng có hiệu quả để chống lại nhóm đối tượng hưởng lợi mang tính tập trung cao
Nói cụ thể 1 dự án có thể chi phí cao 100% trong khi mức lợi ích chỉ là 50% nếu xét trên toàn xã hội, nhưng nếu nhóm hưởng lợi chỉ chiụ 5% mức tổng chi phí của dự án, họ sẽ thấy đó là 1 dự án vô cùng tốt và sẽ gây áp lực mạnh mẽ để dự án
Trang 11được thực hiện Chính vì vậy mà chúng ta cần sớm có hệ thống thẩm định dự án tốt nhằm bảo vệ tốt lợi ích của cả quốc gia
Tuy nhiên câu chuyện không chỉ dừng tại đó bởi trong thực tế cũng có các áp lực ủng hộ dự án và các chương trình phát sinh từ chính trong bộ máy chính quyền Các bộ ngành chức năng thường đệ xuất các dự án và việc họ coi trọng các dự án
mà họ nghĩ là phục vụ cho lợi ích chung, cũng là một điều tự nhiên và phù hợp Tuy nhiên sự hăng hái của các quan chức nầy chưa đủ bảo đảm là các dự án mà họ
đề xuất thực sự có hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội Chúng ta cần các qui trình thẩm định chính thức, vì hệ thống nầy sẽ giúp chúng ta tránh được những lưạ chọn đầu tư sai lầm Chỉ có những suy nghĩ ảo tưởng mới khiến chúng ta cho rằng nhiệt tình của các cơ quan trong chính quyền, của các quan chức đối với dự án mà họ
xây dựng và đệ trình lại không là nguyên nhân đáng kể có thể đưa đến sai lầm
2 Phân loại
Các dự án đầu tư có thể phân loại dựa theo các căn cứ sau đây :
1 Căn cứ nguồn tài lực khan hiếm của dự án
2 Số vốn đầu tư
3 Sự tác động của các dự án đầu tư khác đến lợi ích thu được tư dự án đầu tư được xem xét
Một số dự án có thể tự đứng vững 1 cách độc lập Loại dự án khác chỉ có thể thành công khi có thêm các dự án đầu tư khác yểm trợ Loại thứ 3, các dự án vô tác dụng nếu có các dự án cạnh tranh khác được thông qua
* Dự án đầu tư phụ thuộc và dự án đầu tư độc lập
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 tăng lên thì dự
án 2 được coi như là bổ sung cho dự án1
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 giảm xuống thì dự
án 2 được coi như là thay thế cho dự án 1