Tuy nhiên, Hải quan mỗi nước có những nét đặc thù riêng, tuỳ thuộc vào nhiệm vụ được nhà nước giao phó vì thế, Hải quan Việt Nam không thể áp dụng một cách máy móc mô hình quản lý rủi ro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN CHỚP
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN CHỚP
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Quang Thu
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2009
Trang 3mại và phát triển
WB Ngân hàng thế giới WCO Tổ chức Hải quan thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu 2001-2005 30
Bảng 2.2 Nhu cầu nhân sự đơn vị quản lý rủi ro 47
Bảng 2.3 Các phần mềm hiện đang sử dụng trong hoạt động Hải quan 51
Hình 1 Hình 0 1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 3
2 Hình 1.1: Ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát 8
3 Hình 1.2: Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan 13
4 Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Hải quan Việt Nam 27
5 Hình 2.2 Quy trình quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam 34
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu mang tính độc lập của cá nhân Luận văn được hoàn thành sau quá trình học tập, nghiên cứu thực tiễn, kinh nghiệm bản thân và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Quang Thu
Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Nguyễn Văn Chớp
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan Danh mục chữ viết tắt Danh mục bảng biểu, hình dùng trong luận văn Phần mở đầu .1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN .5
1.1 KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 5
1.1.1 Rủi ro 5
1.1.2 Quản trị rủi ro .6
1.2 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN 7
1.2.1 Bối cảnh về sự ra đời phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan: 7
1.2.2 Rủi ro trong lĩnh vực Hải quan 10
1.2.3 Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan 10
1.2.4 Quy trình quản lý rủi ro .12
1.2.5 Những điều kiện cần thiết hỗ trợ quản lý rủi ro .20
Tóm tắt chương 1 24
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM .26
2.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH; MÔ HÌNH TỔ CHỨC; NHIỆM VỤ CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 26
2.1.1 Lịch sử hình thành .26
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngành Hải quan .27
Trang 72.1.3 Nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam .28
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM 28
2.2.1 Phương pháp quản lý truyền thống của Hải quan Việt Nam .28
2.2.2 Sự cần thiết áp dụng phương pháp quản lý rủi ro vào hoạt động của Hải quan Việt Nam .30
2.2.3 Quy trình quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam .33
2.2.4 Thực trạng về các điều kiện cần thiết hỗ trợ quản lý rủi ro 37
2.2.4.1 Báo cáo quá trìn thực hiện nghiên cứu .37
2.2.4.2 Thực trạng về cơ sở pháp lý cho việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro 38
2.2.4.3 Thực trạng về nhận thức của cán bộ công chức Hải quan đối với việc áp dụng quản lý rủi ro 42
2.2.4.4 Thực trạng về bộ máy tổ chức hoạt động phục vụ cho công tác quản lý rủi ro hiện nay 45
2.2.4.5 Thực trạng về hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam .48
2.2.4.6 Thực trạng về việc xây dựng các quy trình quản lý Hải quan 51
2.2.4.7 Đánh giá chung về các điều kiện áp dụng phương pháp quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam .52
Tóm tắt chương 2 53
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM .55
3.1 BỐI CẢNH 55
3.1.1 Tình hình trong nước 55
Trang 83.1.2 Tình hình quốc tế 55 3.1.3 Những thay đổi về rủi ro .56 3.1.4 Mục tiêu, định hướng phát triển quản lý rủi ro của ngành Hải quan .57
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM ÁP DỤNG HIỆU QUẢ
PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TRONG NGÀNH HẢI QUAN
VIỆT NAM 58
3.2.1 Đề xuất một số giải pháp đối với ngành Hải quan .58 3.2.1.1 Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro .58 3.2.1.2 Nâng cao nhận thức, kiến thức về quản lý rủi ro, qua đó phát huy
ý thức trách nhiệm và nội lực toàn ngành 60 3.2.1.3 Xây dựng phát triển hệ thống quản lý rủi ro theo mô hình phù hợp
với các điều kiện riêng có của Hải quan Việt Nam 61 3.2.1.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ hiệu quả cho việc
áp dụng quản lý rủi ro 63 3.2.1.5 Xây dựng các quy trình nghiệp vụ gắn với quản lý rủi ro .64 3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện về cơ sở pháp lý đối với các cơ quan có
thẩm quyền 65
PHẦN KẾT LUẬN 68
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của nền kinh tế quốc tế, vấn đề này ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia trên thế giới; tạo ra sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, công nghệ, vốn giữa các quốc gia Áp lực đặt ra cho mỗi quốc gia là làm thế nào để sự lưu chuyển trên diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời vẫn đảm bảo được sự kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của mỗi nước
Một trong những thủ tục liên quan đến sự kiểm soát của nhà nước đối với các dòng lưu chuyển trên chính là thủ tục Hải quan Trong nổ lực tìm kiếm một phương pháp quản lý phù hợp, hiệu quả thì Hải quan một số nước trên thế giới đã tiếp cận với phương pháp quản lý rủi ro và đây được xem là phương pháp quản lý Hải quan hiện đại, mặc dù nó đã được áp dụng một cách hiệu quả ở một số ngành, lĩnh vực khác Tháng 06 năm 1999 tổ chức Hải quan thế giới đã thông qua công ước KYOTO sửa đổi, trong đó đưa ra khuyến nghị áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong kiểm soát Hải quan
Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Hải quan Việt Nam đã từng bước tiếp cận với phương pháp quản lý rủi ro Có thể nói, Hải quan Việt Nam có thuận lợi rất lớn trong việc triển khai áp dụng phương pháp quản lý này, thông qua việc học tập kinh nghiệm của Hải quan các nước
Tuy nhiên, Hải quan mỗi nước có những nét đặc thù riêng, tuỳ thuộc vào nhiệm vụ được nhà nước giao phó vì thế, Hải quan Việt Nam không thể áp dụng một cách máy móc mô hình quản lý rủi ro của Hải quan thế giới mà đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, chọn lọc, xây dựng chiến lược để áp dụng phương pháp quản lý này đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trang 10Thời gian qua, Hải quan Việt Nam đã từng bước nghiên cứu, triển khai áp dụng phương pháp quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ của mình Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp quản lý này chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, còn gặp nhiều vướng mắc
Đề tài này sẽ căn cứ vào lý thuyết về quản lý rủi ro, phân tích thực trạng việc
áp dụng quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam, qua đó đưa ra các điều kiện cần thiết; các giải pháp để Hải quan Việt Nam có thể áp dụng hiệu quả mô hình quản lý rủi ro hiện đại theo khuyến nghị của tổ chức Hải quan thế giới
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
* Tìm hiểu mô hình quản lý rủi ro hiện đại của tổ chức Hải quan thế giới
* Phân tích thực trạng về các điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình quản lý rủi ro hiện đại của tổ chức Hải quan thế giới vào hoạt động của Hải quan Việt Nam
* Kiến nghị những giải pháp nhằm áp dụng hiệu quả mô hình quản lý rủi ro vào hoạt động của Hải quan Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro của tổ chức Hải quan thế giới vào hoạt động của ngành Hải quan Việt Nam
Trang 114 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
4.1 Quy trình thực hiện
Quy trình thực hiện luận văn được trình bày như sau:
Hình 0.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu
Mô hình quản lý rủi ro của tổ chức Hải quan thế giới
Hải quan Việt nam, thực trạng về các điều kiện áp dụng mô hình quản lý rủi ro
Trang 125 NỘI DUNG THỰC HIỆN
Phần mở đầu Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về quản lý rủi ro, quản lý rủi ro trong hoạt động
Trang 13Tác giả Nguyễn Quang Thu (2008), định nghĩa: “Rủi ro là khả năng sẽ xảy ra
một kết quả có lợi hay không có lợi từ một mối nguy hiểm hiện hữu” hay “rủi ro là một điều kiện trong đó khả năng một sự bất lợi sẽ xuất hiện so với dự đoán khi có biến cố xảy ra” (10, trang 9)
Có nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro:
- Rủi ro có và không kèm theo tổn thất về tài chính
- Rủi ro động và rủi ro tĩnh
- Rủi ro căn bản và rủi ro riêng biệt
- Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán
Trên thực tế, việc phân biệt rủi ro động và rủi ro tĩnh được sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế
Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể
sẽ mang đến sự tổn thất
Trang 14Rủi ro tĩnh là những rủi ro mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện tổn thất hay không chứ không có khả năng sinh lời và không chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự
Rủi ro bao gồm một số thuộc tính sau đây:
- Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn, không mang tính chắc chắn
- Rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố đó là tần suất xuất hiện rủi ro và hậu quả của nó
- Rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo các yếu tố tác động liên quan
- Rủi ro có thể đo lường được thông qua việc đánh giá về mức độ, tần suất và hậu quả của rủi ro
1.1.2 Quản trị rủi ro
Đi từ khái niệm rủi ro trên, quản trị rủi ro cũng có nhiều khái niệm khác nhau tuỳ theo việc áp dụng quản trị rủi ro vào lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, theo tác giả Quách Đăng Hoà (2008) thì quản trị rủi ro chung nhất có thể được định nghĩa như
sau: “Quản trị rủi ro nói chung có thể được hiểu là hành động để nhận diện về khả
năng và mức độ xảy ra của rủi ro, qua đó áp dụng các biện pháp để kiểm soát thích hợp đối với rủi ro đó.” (4, trang 9)
Các biện pháp lựa chọn để xử lý rủi ro có hiệu quả bao gồm:
Ngăn chặn không cho rủi ro xuất hiện; giảm thiểu khả năng và hậu quả của rủi ro có thể xảy ra; né tránh rủi ro; chuyển giao rủi ro; chấp nhận rủi ro
Việc lựa chọn biện pháp và hình thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường thực tế và năng lực của người lựa chọn
Trang 15Thực tế, quản trị rủi ro hay quản lý rủi ro đã được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả ở nhiều lĩnh vực tư nhân lẫn quản lý nhà nước
1.2 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN
1.2.1 Bối cảnh về sự ra đời phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan
David Widdowson (2005) trong cuốn Customs Modernization Handbook, Chương 5, khái quát về bối cảnh sự ra đời phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan như sau:
Quá trình hình thành và phát triển của ngành Hải quan gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của “người gác cửa nền kinh tế”, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, trước đây, ngành Hải quan luôn nổ lực kiểm tra, kiểm soát đối với tất cả các dòng dịch chuyển, hàng hoá, phương tiện, qua lại biên giới nhằm đảm bảo thực thi pháp luật và nguồn thu cho quốc gia (1, trang 91)
Phương pháp quản lý theo cách truyền thống này đã tồn tại trong rất nhiều năm cho đến những năm của thập kỷ 80 – 90 thể kỷ XX, khi xu hướng toàn cầu hoá kinh
tế ngày càng trở nên phổ biến, theo đó các dòng chảy thương mại ngày càng gia tăng đột biến, trong khi nguồn nhân lực của ngành Hải quan gia tăng không đáng kể do phải đặt dưới tầm kiểm soát về nhân sự của bộ máy nhà nước Vấn đề này đã đặt ra cho Hải quan các nước đứng trước nguy cơ thiếu nguồn nhân lực, quá tải về khối lượng công việc, mất khả năng kiểm soát do phải dàn trải về công việc, đặc biệt là sức ép của cộng đồng doanh nghiệp trong việc tạo thuận lợi cho thương mại, trong khi chính phủ đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ Dẫn đến hoạt động của Hải quan luôn
có sự mâu thuẫn giữa hai mục tiêu cơ bản đó là: tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, đồng thời phải đảm bảo kiểm soát Hải quan theo mục tiêu quản lý của từng quốc gia
Trang 16Hai mục tiêu trên không chỉ là áp lực của ngành Hải quan đối với chính phủ của mình mà còn là giữa chính phủ nước này đối với chính phủ nước khác trong việc thực hiện các cam kết về tự do thương mại
Sự mâu thuẫn này được thể hiện thông qua ma trận sau:
Hình 1.1: Ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát
Nguồn: David Widdowson (2005) Customs Modernization Handbook trang
92
Nhìn vào ma trận chúng ta thấy:
Ô (1): Mục tiêu quản lý kiểm soát cao, tạo thuận lợi thấp, còn được xem là cách quản lý quan liêu: cơ quan Hải quan kiểm soát chặt chẽ, đánh đồng giữa các đối tượng kiểm soát, đây là cách quản lý truyền thống của Hải quan trước đây Mục tiêu quản lý này được xem là một cản trở rất lớn trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại toàn cầu
Phương pháp quản lý quan liêu
Phương pháp quản lý cân bằng
Phương pháp quản lý khủng hoảng
Phương pháp quản lý không can thiệp
(3) (2)
Thấp
Trang 17Ô (2): Mục tiêu quản lý kiểm soát thấp, tạo thuận lợi thấp, còn gọi là cách quản
lý khủng hoảng: đây là cách quản lý kiểm soát ở mức độ thấp nhưng cũng không tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại Cách quản lý này cũng không mang lại hiệu quả gì cho hoạt động thương mại cũng như chính phủ
Ô (3): Mục tiêu quản lý kiểm soát thấp, tạo thuận lợi cao hay còn gọi là cách quản lý không can thiệp: cách quản lý này tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp nhưng lại kiểm soát ở mức độ thấp Cách quản lý này chứa đựng nhiều rủi ro đối với một quốc gia
Ô (4): Mục tiêu quản lý kiểm soát cao và tạo điều kiện thuận lợi cao hay còn gọi là cách quản lý cân bằng: cách quản lý này tạo được sự cân bằng cho cả nhiệm
vụ kiểm soát và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, cả hai khía cạnh này đều quan tâm ở mức độ cao Cách quản lý này tối đa hoá hiệu quả quản lý của cơ quan Hải quan đồng thời mang lại lợi ích cao cho doanh nghiệp
Rõ ràng để đạt được mục tiêu quản lý như ô (4) không phải dễ, bởi vì đây là mục tiêu chứa đựng hai yếu tố mâu thuẫn nhau Trong nhiều phương pháp quản lý được Hải quan các nước vận dụng để đạt được mục tiêu tại ô (4), thì phương pháp quản lý rủi ro đáp ứng được yêu cầu, được Hải quan nhiều nước trên thế giới áp dụng có hiệu quả Tháng 06/1999 tổ chức Hải quan thế giới đã thông qua công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục Hải quan gọi tắt là công ước KYOTO sửa đổi (hiệu lực 03/02/2006) trong đó đã đưa ra các khuyến nghị 6.3, 6.4, 6.5 về việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan Kể từ khi công ước KYOTO sửa đổi được phê chuẩn, Hải quan nhiều nước trước đây chưa áp dụng phương pháp quản lý rủi ro đã nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý này và đạt được kết quả như mong muốn
Trang 181.2.2 Rủi ro trong lĩnh vực Hải quan
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đưa ra định nghĩa về rủi ro và quản lý rủi ro
trong hoạt động Hải quan như sau: “rủi ro trong lĩnh vực Hải quan là nguy cơ tìm
ẩn việc không tuân thủ pháp luật Hải quan.” hay nói cách khác “rủi ro trong lĩnh vực Hải quan được hiểu là việc không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ pháp luật Hải quan.” (8, trang 8)
Như vậy, rủi ro chính là những cản trở của việc đạt đến mục tiêu mà ngành Hải quan đang hướng đến
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, ngoài việc xem xét rủi ro trong từng bối cảnh, cơ quan Hải quan còn phải xem xét nó trong từng lĩnh vực và trong thời điểm cụ thể
Do rủi ro vừa mang tính chất động vừa mang tính chất tĩnh nên rủi ro cần được xác định chính xác theo thời điểm
Khi nghiên cứu khái niệm rủi ro trong lĩnh vực Hải quan, cần phân biệt 2 khái niệm đó là: rủi ro và vi phạm pháp luật Hải quan
- Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn vi phạm pháp luật Hải quan
- Vi phạm pháp luật Hải quan là những hành vi vi phạm cụ thể đã được phát hiện và xử lý
1.2.3 Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan
Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan là việc ứng dụng một cách có hệ thống các chính sách, thủ tục và thông lệ nhằm cung cấp cho cơ quan Hải quan những thông tin cần thiết về các dòng dịch chuyển, các lô hàng hoá, nơi có sự hiện diện của rủi ro để từ đó có biện pháp kiểm soát các rủi ro đó (8, trang 4)
Các nguyên tắc khi áp dụng phương pháp quản lý rủi ro:
Trang 19- Cơ quan Hải quan phải áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm soát nhằm đạt được các mục tiêu thu thuế, chính sách thương mại, bảo vệ cộng đồng; quản lý được sự gia tăng của dòng chảy thương mại quốc tế
Cơ quan Hải quan cần chuyển đổi từ kiểm soát từng giao dịch sang kiểm soát tài chính, hồ sơ chứng từ, cho phép doanh nghiệp tự đánh giá tuân thủ Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Hải quan quản lý được sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, trong điều kiện nguồn lực có chiều hướng tinh giản
Quản lý rủi ro luôn là nền tảng cho các hoạt động nghiệp vụ Hải quan Nó định hướng cho quá trình xây dựng các chính sách chống buôn lậu, thực thi kiểm soát biên giới để kiểm tra tính hợp pháp của hàng hoá và hành khách đi lại qua biên giới, cũng như xây dựng các quy định về kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá các hoạt động này được thiết kế trên cơ sở các chương trình kế hoạch chặt chẽ, đồng bộ mang tính hệ thống trong toàn bộ hoạt động nghiệp vụ Hải quan
Quản lý rủi ro cần phải đảm bảo sự cân bằng giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu lại, cơ quan Hải quan cần xây dựng những tiêu chí để xác định những rủi ro có thể chấp nhận được và những rủi ro không thể chấp nhận được để quản lý có hiệu quả
Cơ quan Hải quan cần thiết lập cơ chế phân tích và rà soát rủi ro một cách có
hệ thống qua đó xác định ra các miền rủi ro xây dựng một chiến lược phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro, tập trung nguồn lực, biện pháp kiểm soát những miền rủi ro cao Hiệu quả của việc quản lý rủi ro đối với hoạt động của Hải quan có thể được nhận biết qua các yếu tố sau đây:
- Đạt được mục tiêu quản lý
- Cải thiện được quy trình quản lý
- Cải thiện được môi trường xã hội và môi trường kinh doanh
Trang 20- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có, tăng hiệu suất làm việc trong điều kiện nguồn lực hạn chế thông qua việc tập trung nguồn lực vào các khu vực rủi ro cao
- Gia tăng các hoạt động thương mại, lưu lượng hàng hoá và thu hút đầu tư thương mại quốc tế
1.2.4 Quy trình quản lý rủi ro
Đối với hoạt động của Hải quan luôn luôn tồn tại yếu tố rủi ro trong việc tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và con người Việc mở rộng kiểm soát nhằm bảo đảm phù hợp với Luật và các quy định mà cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm cho việc tuân thủ, cần phải cân xứng với mức độ đánh giá rủi ro
Khái niệm quy trình quản lý rủi ro
WCO khái niệm quy trình quản lý rủi ro như sau: “Quy trình quản lý rủi ro là
việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro vào chu trình các bước, từ thiết lập bối cảnh, xác định, phân tích, đánh giá, xử lý rủi ro, theo dõi, đánh giá lại và đo lường tuân thủ, nhằm giúp cơ quan Hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực, đối tượng rủi ro.” (8, trang 10)
Nội dung quy trình
Công ước KYOTO sửa đổi bổ sung năm 1999 phần phụ lục tổng quát hướng dẫn thực hiện quy trình quản lý rủi ro gồm 06 bước Một số Hải quan các nước đã triển khai áp dụng quản lý rủi ro, theo đó thì quy trình quản lý rủi ro có thể được rút gọn còn 4 bước gồm: xác định rủi ro – phân tích rủi ro – đánh giá, xử lý rủi ro – theo dõi, kiểm tra và đo lường sự tuân thủ Đánh giá, xử lý rủi ro được gộp lại thành 1 bước và việc thiết lập bối cảnh được xen kẽ trong các bước của quy trình quản lý rủi
ro
Trang 21Quy trình quản lý rủi ro được thể hiện qua sơ đồ của hình 1.2:
Hình 1.2: Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan
Nguồn: WCO(6/2003), Risk management guide, WCO xuất bản, trang 10
Nội dung các bước quy trình quản lý rủi ro:
Bước 1: Thiết lập bối cảnh: Bối cảnh là trung tâm của quy trình quản lý rủi ro, là môi trường diễn ra các hoạt động Hải quan mà trong đó có rất nhiều yếu tố cần phải xem xét Giai đoạn
thiết lập bối cảnh hiểu theo nghĩa rộng là công việc chuẩn bị cho triển khai xây dựng
một chương trình quản lý rủi ro, theo nghĩa hẹp có thể được hiểu là việc xem xét
Thiết lập bối cảnh
Giám sát và đánh giá lại
Trang 22đánh giá từ thực trạng cho đến các yếu tố tác động liên quan đến rủi ro cũng như việc xử lý các rủi ro; bao gồm một số công việc chủ yếu sau đây:
* Xem xét đánh giá các yếu tố liên quan đến môi trường tổ chức và các yếu
tố tác động đến quá trình thực hiện quy trình quản lý rủi ro:
- Xem xét đối tượng và các yếu tố liên quan đến rủi ro;
- Xác định mục tiêu, phạm vi và lĩnh vực rủi ro cần quản lý;
* Xây dựng tiêu chí quản lý rủi ro dựa trên các yếu tố chủ yếu sau đây:
- Các quy định của pháp luật về Hải quan, các quy định, hướng dẫn cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng khác có liên quan;
- Kết quả phân tích, đánh giá rủi ro, bao gồm cả việc phân tích tự động dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin cũng như việc phân tích đánh giá dựa trên kiến thức, kinh nghiệm của công chức Hải quan;
Trong quá trình xây dựng tiêu chí quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan phải quan tâm đến cả hai loại tiêu chí nhằm phục vụ cho việc đánh giá tuân thủ cũng như việc đánh giá rủi ro Trong đó cần xác định rõ những tiêu chí ưu tiên về thủ tục Hải quan, tiêu chí chấp nhận và không chấp nhận rủi ro, có như vậy mới thể hiện đúng bản chất quản lý rủi ro
- Xây dựng tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên
* Xác định cấu trúc, mô hình thu thập thông tin, dữ liệu phân tích đánh giá rủi
ro thông qua các kỹ thuật quản lý rủi ro
* Làm rõ các cấp độ thực hiện trong quy trình quản lý rủi ro:
- Quản lý rủi ro chiến lược: bao gồm việc xác định các lĩnh vực rủi ro cao cần quản lý cũng như những lĩnh vực rủi ro thấp có thể chấp nhận Qua đó xây dựng các
kế hoạch mang tính định hướng chiến lược cho toàn bộ chương trình quản lý rủi ro
Trang 23- Quản lý rủi ro chiến thuật: xem xét, bố trí nguồn lực và các biện pháp cần thiết cho việc xử lý các rủi ro đã được xác định và đánh giá Quản lý rủi ro chiến thuật được hiểu là hoạt động mang tính triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả
- Quản lý rủi ro tác nghiệp: xây dựng các phương án xử lý đối với những tình huống rủi ro tức thời trong khi thực thi nhiệm vụ của công chức thừa hành
Bước 2: Xác định các rủi ro
Xác định rủi ro là giai đoạn bắt đầu của quá trình nhận biết và xử lý rủi ro thực chất là quá trình thu thập, phân tích dữ liệu để làm rõ điều gì xảy ra, tại sao xảy ra và xảy ra như thế nào? nhiệm vụ chủ yếu của bước này bao gồm việc tổ chức thu thập thông tin, dữ liệu từ tất cả các nguồn hiện có, phân tích xác định các nguy cơ không tuân thủ pháp luật Hải quan để làm cơ sở cho bước tiếp theo của quy trình
Giai đoạn xác định rủi ro giúp cơ quan Hải quan đưa ra danh sách các rủi ro tiềm ẩn Kết quả của giai đoạn xác định rủi ro tạo ra một bức tranh về rủi ro, phản ánh các lĩnh vực, nhóm hệ loại đối tượng…có thể xảy ra rủi ro và danh mục rủi ro theo từng lĩnh vực Điều này có thể tạo thuận lợi cho các lựa chọn trong các bước tiếp theo Tuy nhiên, cần chú ý đến việc mô tả rủi ro để tránh tình huống một rủi ro
bị lặp lại nhiều lần trong danh sách do được phân loại hoặc giải thích khác nhau Bức tranh về rủi ro được vẽ ra không chỉ một lần trong một giai đoạn nhất định như một năm một lần mà là một quá trình năng động và liên tục, nối tiếp sự vận động của môi trường xung quanh Tốc độ thích nghi với những thay đổi trong xác định rủi
ro sẽ góp phần tạo nên tính linh hoạt và hiệu quả của hoạt động nghiệp vụ Hải quan
Bước 3: Phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là việc sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ thuật công nghệ thông tin để xem xét một cách có hệ thống các thông tin hiện có nhằm xác định tần suất và hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật hải quan có thể xảy ra
Trang 24Tần suất rủi ro là khả năng, xác suất có thể xảy ra rủi ro Hậu quả rủi ro là những tổn thất, ảnh hưởng khi rủi ro xảy ra Sự kết hợp giữa tần suất và hậu quả cho phép xác định được cấp độ rủi ro Sự kết hợp này thường được thực hiện bằng phương pháp
ma trận hoặc biểu đồ Quá trình phân tích rủi ro được thực hiện theo trình tự sau:
- Xác định các hệ thống quản lý, kỹ thuật và các thủ tục hiện hành trong việc kiểm soát rủi ro Những biện pháp nào có sẵn để giải quyết được các rủi ro; biện pháp nào có thể làm giảm tần suất hoặc hậu quả của rủi ro trong trường hợp rủi ro xảy ra thực sự; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của chúng; khả năng đáp ứng yêu cầu kiểm soát rủi ro
- Phân tích, xác định tần suất và hậu quả của rủi ro: hậu quả và xác suất của rủi
ro cần phải được đánh giá trong bối cảnh của hệ thống kiểm soát hiện hành, có thể được xác định bằng cách thống kê và tính toán Đối với những nơi không có sẵn những dữ liệu lịch sử thì có thể tiến hành ước lượng chủ quan phản ánh mức độ tin tưởng của một cá nhân hay một nhóm rằng một sự kiện cụ thể nào đó hoặc một hậu quả nào đó sẽ xảy ra Để tránh những thiên lệch mang tính chủ quan cần sử dụng những nguồn thông tin và kỹ thuật tốt nhất có được khi phân tích hậu quả và xác suất
Trong thực tế, có nhiều công cụ phân tích rủi ro với kỹ thuật phức tạp cao hơn
để đạt được độ chính xác cao hơn Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ phân tích được thực hiện tùy thuộc vào điều kiện và khả năng áp dụng của mỗi cấp, đơn vị và trình
độ của công chức thừa hành
Bước 4 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là việc xem xét một cách có hệ thống các rủi ro đã được xác định Đánh giá bằng việc so sánh, đối chiếu với tiêu chí quản lý rủi ro và những rủi
ro đã xử lý trước đó để xác định mức độ và yêu cầu cần thiết cho việc xử lý đối với rủi ro đó
Trang 25Những công việc chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn đánh giá rủi ro bao gồm việc so sánh mức độ rủi ro có được trong quá trình phân tích với tiêu chí rủi ro
và những rủi ro đã được xử lý trước đó Việc so sánh này phải được xem xét trên cùng một cơ sở Trong thực tế, rất khó khăn cho việc đánh giá rủi ro một cách chính xác; phần lớn là dựa vào kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn Do đó có ý kiến cho
rằng “đánh giá rủi ro là một nghệ thuật hơn là khoa học” Tuy vậy, cần thiết phải
xây dựng khung cho việc đánh giá Việc đánh giá rủi ro cần cố gắng thực hiện trên
cơ sở các bằng chứng độc lập không mang tính chất thành kiến, xem xét đến quan điểm của tất cả các bên bị ảnh hưởng bởi rủi ro, và tránh nhầm lẫn giữa đánh giá mục tiêu với đánh giá tính có thể chấp nhận của rủi ro
Kết quả đánh giá rủi ro sẽ được báo cáo đề xuất áp dụng và được cập nhật bổ sung trong hồ sơ quản lý rủi ro theo biểu mẫu quy định thống nhất; bao gồm: kết quả phân loại các rủi ro đã được xác định thành các mức độ cao, thấp, trung bình và danh sách rủi ro chấp nhận, rủi ro không chấp nhận, xếp loại ưu tiên xử lý đối với rủi ro không chấp nhận
Bước 5: Xử lý rủi ro
Xử lý rủi ro là việc cơ quan Hải quan áp dụng biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc làm giảm thiểu khả năng và hậu quả của rủi ro Xử lý rủi ro bao gồm việc lựa chọn biện pháp, chuẩn bị kế hoạch và thực hiện xử lý rủi ro
Cách tiếp cận của phương pháp quản lý rủi ro cho phép cơ quan Hải quan xem xét lựa chọn một trong các hình thức dưới đây để quyết định áp dụng biện pháp xử
lý rủi ro:
- Phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro: đây là biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất
trong quản lý rủi ro Căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro, điều kiện về nguồn lực, chi phí cho việc xử lý rủi ro, cơ quan Hải quan lựa chọn các trường hợp ưu tiên xử lý bằng biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro
Trang 26- Né tránh rủi ro: trên cơ sở thông tin hiện có, cơ quan Hải quan quyết định
không tham dự vào tình huống có rủi ro Thường áp dụng hình thức né tránh đối với những rủi ro mà nếu ta áp dụng biện pháp để ngăn chặn hiệu quả sẽ thấp, chi phí cho việc ngăn chặn này sẽ cao hơn hậu quả của rủi ro có thể xảy ra
- Giảm thiểu rủi ro: là việc ứng dụng các biện pháp, kỹ thuật để làm giảm tần
suất, hậu quả của rủi ro, hoặc cả hai Các biện pháp làm giảm khả năng xảy ra của rủi ro có thể bao gồm:
+ Doanh nghiệp cam kết tự nguyện tuân thủ
+ Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát
+ Cơ quan hải quan tăng cường cải thiện môi trường tuân thủ
- Chuyển giao rủi ro: được hiểu là việc chuyển rủi ro sang cho một thực thể
chấp nhận hậu quả và khả năng xảy ra của một rủi ro cụ thể Hình thức này thường được áp dụng đối với rủi ro có khả năng và mức độ xảy ra thấp, chi phí cho việc quản lý những rủi ro này sẽ cao hơn hậu quả có thể xảy ra
Bước 6 : Theo dõi, kiểm tra và đo lường mức độ tuân thủ
- Theo dõi và kiểm tra:
Để duy trì hệ thống quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan phải theo dõi, đánh giá lại những rủi ro được xác định và xử lý trước đó; thu nhận phản hồi về những rủi ro mới; qua đó đánh giá hiệu quả của quá trình áp dụng quản lý rủi ro
Cơ quan Hải quan theo dõi và đánh giá rủi ro thông qua hệ thống thu thập thông tin phản hồi; việc đánh giá này cũng có thể thông qua việc đo lường tuân thủ hoặc hoạt động kiểm tra sau, cũng như kết quả phát hiện, xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng khác Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình theo dõi, đánh giá đó là việc tìm ra những sơ hở thiếu sót trong công tác quản lý của cơ quan Hải quan để điều chỉnh, sửa đổi phù hợp
Trang 27Việc theo dõi, đánh giá quá trình áp dụng quản lý rủi ro cũng có thể được thực hiện thông qua việc cập nhật, khai thác, sử dụng các nguồn thông tin tình báo của WCO, cơ sở dữ liệu quốc tế về thông tin doanh nghiệp hoặc thông qua việc kiểm tra ngẫu nhiên ở một mức độ nhất định nhằm tạo ra một công cụ hiệu quả trong việc xác định ra các loại rủi ro khác nhau và hỗ trợ cho việc theo dõi, đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro hoặc bất kỳ sự biến đổi nào trong các mô hình rủi ro
Kết quả theo dõi, kiểm tra cần được báo cáo và cập nhật kịp thời vào hồ sơ quản lý rủi ro Báo cáo cần đánh giá đầy đủ danh sách rủi ro đã được xử lý, hiệu quả
xử lý; những vấn đề cần được giải quyết tiếp; những rủi ro mới được phát hiện trong quá trình theo dõi, kiểm tra
- Đo lường tuân thủ:
Đo lường tuân thủ là khái niệm chỉ việc sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên theo phương pháp thống kê để xác định mức độ tuân thủ pháp luật về Hải quan Một khi được thiết kế thích hợp và có hệ thống, phương pháp đo lường tuân thủ sẽ cho một kết quả khách quan trên cơ sở thống kê Đây cũng là công cụ chẩn đoán để xác định các lĩnh vực không tuân thủ
Thực hiện quy trình quản lý rủi ro cho phép cơ quan Hải quan xác định được các lĩnh vực rủi ro cũng như các rủi ro cụ thể để tập trung nguồn lực kiểm soát Thực
tế, lĩnh vực rủi ro được đánh giá là cao - cần kiểm soát, thường ít hơn nhiều so với các lĩnh vực được đánh giá là rủi ro thấp - hạn chế kiểm soát Trong các lĩnh vực hạn chế kiểm soát không phải mọi rủi ro đều là thấp do có những rủi ro tiềm ẩn chưa được phát hiện Do vậy, cơ quan Hải quan áp dụng biện pháp đo lường tuân thủ trong quy trình quản lý rủi ro nhằm kiểm tra, định lượng lại những rủi ro thấp và phát hiện ra những rủi ro đang tiềm ẩn trong các lĩnh vực Hải quan
Đo lường tuân thủ là công cụ được phối hợp sử dụng với đánh giá rủi ro, lập hồ
sơ và các biện pháp xác định trọng điểm khác Khi áp dụng ở tầm chiến lược, đo
Trang 28lường tuân thủ và xác định trọng điểm có thể tạo ra sự cân bằng cần thiết để tập trung nguồn lực một cách có hiệu quả vào các lĩnh vực quan tâm của Hải quan Ngoài ra, kết quả đo lường tuân thủ ban đầu có thể tạo ra những thông tin quan trọng
để tăng cường phương pháp đánh giá rủi ro
Sử dụng kết quả đo lường tuân thủ là một phần trong chương trình kiểm tra hiệu quả của cơ quan Hải quan, bao gồm: xác định khoản thất thu ngân sách, ngăn chặn nạn gian lận thương mại lan tràn, đánh giá mức độ hoạt động của những nhà xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu, xác định những tiến bộ trong tuân thủ thương mại, đánh giá chính xác thương mại quốc tế Kết quả của những đánh giá này sẽ giúp cho việc định hướng nguồn lực một cách hiệu quả; áp dụng mức độ tra, kiểm soát phù hợp với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp
1.2.5 Những điều kiện cần thiết hỗ trợ quản lý rủi ro
Theo tài liệu của WCO và UNCTAD thì để áp dụng được và áp dụng có hiệu quả phương pháp quản lý rủi ro thì cần có những điều kiện cần thiết để hỗ trợ (8, trang 14) và (9, trang 16)
Môi trường pháp lý để thực hiện quản lý rủi ro
Kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc áp dụng quản lý rủi ro trong ngành Hải quan cho thấy: quản lý rủi ro cần được thực hiện trên cơ sở một hành lang pháp lý đầy đủ, ổn định, minh bạch, cơ chế thực thi và tuân thủ rõ ràng Điều này có nghĩa là việc cơ quan Hải quan áp dụng phương pháp quản lý rủi ro vào hoạt động của mình phải được định danh một cách cụ thể trong Luật Hải quan của mỗi quốc gia
Trang 29Nhận thức của công chức Hải quan
Giai đoạn đầu triển khai ứng dụng quản lý rủi ro thì vấn đề nhận thức của công chức Hải quan là cần thiết, do thay đổi cơ bản phương pháp quản lý, môi trường quản lý ảnh hưởng đến tâm lý của công chức Hải quan Tâm lý thường xuất hiện đó
là công chức Hải quan cảm thấy quyền lực của mình bị giảm đi và họ không hài lòng về điều đó Tâm lý lo sợ về trách nhiệm của mình nếu như để rủi ro xảy ra Chính vì thế, cần thiết phải giúp cho họ hiểu được phương pháp quản lý này, để từ
đó họ an tâm thi hành nhiệm vụ
Bộ máy tổ chức và cơ chế thực hiện quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là một quy trình thực hiện những hành động có tổ chức nhằm phát huy tốt hơn khả năng đạt được mục tiêu của ngành Hải quan Do vậy, quá trình
áp dụng quản lý rủi ro phải hình thành hệ thống bộ máy tổ chức và cơ chế hoạt động
để thực hiện quy trình quản lý rủi ro
Do sự khác nhau giữa các nước về tập quán thương mại, thủ tục pháp lý, lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, ưu tiên quốc gia, vị trí địa lý và mục tiêu quản lý nên không có một khung tổ chức thống nhất cho cơ quan Hải quan ở tất cả các nước
Sự khác nhau chủ yếu của tổ chức bộ máy của Hải quan các nước đó là cách thức tổ chức và cơ chế thực hiện nhiệm vụ Chức năng, nhiệm vụ có thể được tập trung tại cấp trung ương nhằm để phát huy các nguồn lực và đảm bảo sự hợp tác trong công tác quản lý rủi ro theo một kế hoạch và chương trình quản lý tổng thể Chức năng, nhiệm vụ có thể được tập trung phân cấp cho đơn vị cấp dưới nhằm đảm bảo việc xử
lý linh hoạt của công chức Hải quan
Một bộ máy tổ chức Hải quan được xem là thích hợp nhất phải cân đối về phân cấp nhiệm vụ giữa cấp trung ương – có trách nhiệm quản lý mức độ chiến lược về rủi ro với cấp địa phương – có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ cụ thể
Trang 30Mô hình chung về tổ chức, hoạt động quản lý rủi ro của các cơ quan Hải quan như sau:
Hải quan cấp trung ương:
Xây dựng và triển khai kế hoạch tổng thể về quản lý rủi ro; xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin; phân tích, đánh giá rủi ro ở cấp độ chiến lược, ban hành danh mục rủi ro; xây dựng chiến lược định hướng cho toàn ngành về quản lý rủi ro; điều phối việc xử lý rủi ro giữa các cấp, đơn vị Hải quan; giữa thông quan và sau thông quan một cách phù hợp
Làm đầu mối liên lạc về quản lý rủi ro; đầu mối hợp tác, trao đổi thông tin với các bộ, ngành và tổ chức quốc tế khác;
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy trình quản lý rủi ro tại các cấp, đơn vị Hải quan, trao đổi, hỗ trợ đơn vị quản lý rủi ro và đơn vị kiểm toán ở Hải quan các địa phương
Tăng cường hiểu biết về quản lý rủi ro, phát triển kỹ năng quản lý, kỹ năng thừa hành của nhân viên thông qua các giáo dục và đào tạo
Hải quan cấp địa phương: chức năng chính của đơn vị Hải quan địa phương là
đảm bảo quản lý rủi ro được hiệu quả bằng cách thực hiện các đánh giá rủi ro ở mức
độ địa phương, tạo ra các thông tin hoạt động để cung cấp cho công chức làm thủ tục Hải quan và cung cấp cho đội kiểm tra đội kiểm toán và đội điều tra, phối hợp với lực lượng quản lý rủi ro trung ương
Các đội công tác cấp địa phương, cửa khẩu: chuyên phân tích các tờ khai hàng
hoá và các chứng từ thương mại như hoá đơn, chứng từ vận tải nhằm lựa chọn các lô hàng có độ rủi ro cao để tiến hành kiểm tra thực tế
Trang 31Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro
Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro là một hệ thống ứng dụng chủ yếu trong áp dụng quản lý rủi ro Hệ thống được xây dựng và vận hành dựa trên các cơ
sở chủ yếu sau:
- Tiêu chí quản lý rủi ro
- Thuật toán phục vụ việc phân tích, tính toán mức độ rủi ro, lựa chọn ngẫu nhiên các trường hợp để kiểm tra
- Đăng ký hồ sơ quản lý rủi ro
- Tích hợp thông tin dữ liệu từ các hệ thống trong và ngoài ngành
- Thông tin cập nhật hệ thống
Hệ thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro thường được cấu trúc theo các mô đun để phục vụ việc phân tích, đánh giá theo từng chức năng cụ thể, như:
- Mô đun phân tích, đánh giá doanh nghiệp
- Mô đun tính điểm rủi ro chung đối với từng lô hàng
- Mô đun đăng ký lựa chọn hồ sơ quản lý rủi ro
- Mô đun tính toán và lựa chọn ngẫu nhiên
- Hệ thống này cũng có thể bao gồm các chức năng khác để phục vụ cho các hoạt động phân tích, đánh giá rủi ro, tích hợp, thống kê dữ liệu, theo dõi quá trình áp dụng quản lý rủi ro
Phần mềm hỗ trợ phân tích, đánh giá, theo dõi, quản lý rủi ro
Bên cạnh hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan các nước luôn quan tâm đến việc xây dựng và dựa vào áp dụng các phần mềm phục vụ việc phân tích, theo dõi, đánh giá rủi ro đối với các đối tượng cụ thể
Trang 32Phần mềm hỗ trợ phân tích, đánh giá, theo dõi quản lý rủi ro tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý của từng nước để xây dựng cho phù hợp
Một số nước đã xây dựng và đưa vào vận hành các phần mềm quản lý rủi ro gồm:
Trung Quốc, Hải quan Trung Quốc đã xây dựng và áp dụng hệ thống hỗ trợ quyết định phân luồng dựa trên việc xác định, đánh giá rủi ro ban đầu của các giao dịch và đã thiết kế hệ thống quản lý hồ sơ quản lý rủi ro; đồng thời sử dụng mạng quản lý thông tin quản lý rủi ro rủi ro để thu thập, xử lý và đưa ra các cảnh báo sớm Nhật Bản, Hải quan Nhật Bản xây dựng và ứng dụng hai hệ thống thông quan chính đó là hệ thống thông quan hàng hoá đường biển và hệ thống thông quan hàng hoá đường không, kết nối không chỉ với Hải quan, mà cả với lĩnh vực tư nhân, như đại lý Hải quan, ngân hàng, công ty hàng không, hãng tàu, công ty kinh doanh kho Hải quan Hệ thống thông quan được kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu tình báo Hải quan để phân tích đánh giá rủi ro, và phân luồng kiểm tra đối với từng lô hàng cụ thể
Hàn Quốc, Hải quan Hàn Quốc sử dụng hai hệ thống thông quan chính là: hệ thống thông quan tự động hàng hoá xuất nhập khẩu được vận hành theo mô hình xử
lý tập trung đặt tại trung ương hoạt động 24/24 giờ Hệ thống thông tin trước về hành khách xuất nhập cảnh
Xây dựng các quy trình về thủ tục Hải quan
Để áp dụng hiệu quả phương pháp quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan cần phải xây dựng các quy trình thủ tục Hải quan, các quy trình này phải được công khai, minh bạch, rõ ràng để trên cơ sở đó những đối tượng tham gia hoạt động Hải quan
có điều kiện để tự giác, tuân thủ Đối với cơ quan Hải quan đây cũng là bộ khung để làm cơ sở giám sát việc tuân thủ của đối tượng quản lý và cả trong nội bộ ngành Hải quan
Trang 33Tóm tắt chương 1
Chương 1 cho thấy tổng quan cơ sở lý thuyết về rủi ro, phương pháp quản lý rủi ro nói chung và nói riêng trong lĩnh vực Hải quan Chương 1 cũng cho chúng ta thấy được sự cần thiết áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan; Giới thiệu quy trình quản lý rủi ro của WCO đồng thời cũng đưa ra các điều kiện cần thiết hỗ trợ quản lý rủi ro có hiệu quả trong lĩnh vực Hải quan Phần lý thuyết trên chính là
cơ sở để thực hiện việc nghiên cứu trong chương 2
Trang 34CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT
ĐỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH; MÔ HÌNH TỔ CHỨC;
NHIỆM VỤ CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành
Ngày 10 tháng 9 năm 1945 theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thay mặt Chính phủ ký thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu” Với mục đích thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam độc lập, đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá XNK và duy trì nguồn thu ngân sách từ hoạt động này
Ngày 29 tháng 5 năm 1946: Sở Thuế quan và thuế gián thu được đổi thành Nha Thuế quan và Thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính
Ngày 4 tháng 7 năm 1951: Nha Thuế quan và Thuế gian thu được đổi thành Cơ quan Thuế XNK
Ngày 14 tháng 12 năm 1954: Thành lập Sở Hải quan thay thế cơ quan thuế XNK thuộc Bộ Công thương
Ngày 17 tháng 2 năm 1962: Đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan Lúc này Cục Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương
Ngày 25 tháng 4 năm 1984: Thành lập Tổng cục Hải quan trực thuộc Chính phủ
Trang 35Ngày 4 tháng 9 năm 2002: theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tổng Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngành Hải quan
Theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg ngày 04/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính và có cơ cấu tổ chức như sau:
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Hải quan Việt Nam
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Như vậy, Hoạt động nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam tập trung ở 3 cấp đó là: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố (trực thuộc trung ương) và Chi cục Hải quan và đơn vị tương đương trực thuộc cục Hải quan tỉnh, thành phố
Lãnh đạo Tổng cục đứng đầu là Tổng cục Trưởng
Các đơn vị tham mưu giúp việc cho Lãnh đạo Tổng Cục
Các đơn vị
sự nghiệp trực thuộc Tổng Cục
Các Cục Hải quan tỉnh, TP(trực thuộc TW) Trực thuộc Tổng Cục
Các Chi cục Hải quan, đơn vị tương đương trực thuộc Cục Hải quan tỉnh,
TP
Trang 362.1.3 Nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam
Nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam được quy định tại Điều 11 của Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 như sau:
“Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa,
phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.”
Sau đó Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Hải quan số 45/2005/QH
11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 có bổ sung thêm nhiệm vụ của ngành Hải quan đó là:
“thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.”
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM
2.2.1 Phương pháp quản lý truyền thống của Hải quan Việt Nam
Có thể nói Hải quan Việt Nam trải qua một thời kỳ rất dài từ khi thành lập đến đầu năm 2002 (Luật Hải quan có hiệu lực) chỉ áp dụng duy nhất một mục tiêu quản lý đó là quản lý kiểm soát cao tạo thuận lợi thấp còn gọi là cách quản lý quan liêu như đã trình bày ở chương 1 Hải quan Việt Nam kiểm tra, kiểm soát đối với tất
cả các đối tượng được giao nhiệm vụ quản lý Có nghĩa là, bất kỳ lô hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh điều chịu sự kiểm tra kiểm soát của cơ quan Hải quan Cách quản lý truyền thống của Hải quan Việt Nam kéo dài hơn so với nhiều nước trên thế giới Điều này đã trở nên bất cập trong giai
Trang 37đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là từ sau năm 2000, ngành Hải quan đã tự nhận thấy sự mâu thuẫn ngay trong chính phương pháp quản lý của mình:
- Nguồn nhân lực có giới hạn trong khi đối tượng quản lý gia tăng một cách đột biến
- Tình trạng ách tắc hàng hoá tại các cửa khẩu
- Tình trạng cán bộ công chức kiểm soát qua loa hoặc buông lỏng công việc, hoặc có hành vi tiêu cực
- Các nhà đầu tư nước ngoài phản ứng mạnh mẽ về phương pháp quản lý của Hải quan Việt Nam
Đến đầu năm 2002, khi Luật Hải quan có hiệu lực, việc quản lý của Hải quan Việt Nam có thoáng hơn trong đó có quy định:
Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, đối với chủ hàng hoá xuất khẩu có quá trình 01 (một) năm xuất khẩu kể từ ngày làm thủ tục hải quan không bị xử lý vi phạm hành chính về Hải quan hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính về Hải quan với mức phạt trong thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Hải quan
Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, chủ hàng hoá nhập khẩu có quá trình 02 (hai) năm nhập khẩu kể từ ngày làm thủ tục Hải quan không bị xử lý vi phạm hành chính về Hải quan hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính về Hải quan với mức phạt trong thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Hải quan
Rõ ràng, quy định trong Luật Hải quan như trên đã giải quyết được phần nào
áp lực công việc đối với công chức Hải quan Tuy nhiên, xét về khía cạnh quản lý, còn chứa đựng nhiều hạn chế do tiêu chí ưu tiên chỉ xét trên tiêu chí tĩnh, chưa xét đến các tiêu chí động Việc phân loại ưu tiên chưa được toàn diện, chỉ xét đến doanh nghiệp mà chưa xét đến các tiêu chí khác như: lô hàng hoá cụ thể, xuất xứ, hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện…
Trang 38Đến đầu năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005 về cơ bản cũng không thay đổi nhiều so với Luật năm 2001, trong đó thời gian để xét chủ hàng chấp hành tốt pháp luật Hải quan cho
cả hàng nhập khẩu và hàng xuất khẩu là 365 ngày, các điều kiện khác về cơ bản không thay đổi
Rõ ràng thủ tục Hải quan từ khi có Luật Hải quan đã có phần thông thoáng hơn, chủ yếu là nhằm đạt được mục tiêu tạo thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu quản lý của ngành
2.2.2 Sự cần thiết áp dụng phương pháp quản lý rủi ro vào hoạt động của Hải quan Việt Nam
Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích xuất khẩu của Đảng và Nhà nước đã làm cho các hoạt động đầu tư, thương mại gia tăng, kéo theo lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, hành khách, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, lượng doanh nghiệp…tăng lên đáng kể
Số liệu thống kê trong bảng 2.1 sẽ minh chứng cho sự gia tăng đó:
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu 2001-2005
Tiêu chí thống kê Đơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005
1 Tổng giá trị XNK Triệu USD 31.247,1 36.451,7 45.405,1 58.453,8 69.208,2
- Xuất khẩu Triệu USD 15.029,2 16.706,1 20.149,3 26.485,0 32.447,1
- Nhập khẩu Triệu USD 16.217,9 19.745,6 25.255,8 31.968,8 36.761,1