Tổ chức quốc tế, siêu quốc gia, liên kết giữa các chính phủ hoặc thuộc chính phủ có các dịch vụ và hoạt động chính trong lĩnh vực thanh toán, chứng khoán, ngân hàng, tàichính, bảo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-🙞🙞🙞🙞🙞 -BÀI THẢO LUẬN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU
Đề tài: Thực trạng sử dụng các chứng từ điện tử trong thanh toán
quốc tế trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới và
tại Việt Nam.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2
Lớp HP: 2156BKSC2411
GVHD: ThS Phạm Thu Trang
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
11 Nguyễn Phong Dũng Thuyết trình
12 Nguyễn Thị Ánh Dương Word 1.4
13 Mai Thị Mỹ Duyên Tổng hợp word+ Lời mở
đầu+ Lời kết
14 Vũ Thị Duyên Word 2.2
15 Nguyễn Thị Mai Giang Nhóm trưởng + Word 1.1
17 Giang Thanh Hải Powerpoint
18 Nguyễn Thị Thu Hải Nhược điểm
19 Nguyễn Thị Hồng Hạnh Word 1.3
20 Chu Thị Thu Hiền Ưu điểm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CÁC LOẠI CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ THỰC TRẠNG 3
1.1 Công nghê ̣ SWIFT 3
1.1.1 Khái quát về SWIFT 3
1.1.2 Thực trạng sử dụng SWIFT trên thế giới và Viê ̣t Nam 5
1.2 Phương thức thanh toán BPO 6
1.2.1 Khái quát về BPO 6
1.2.2 Thực trạng sử dụng BPO trên thế giới và Viê ̣t Nam 8
1.3 Công nghê ̣ Blockchain 10
1.3.1 Khái quát về Blockchain 10
1.3.2 Thực trạng sử dụng Blockchain trên thế giới và Viê ̣t Nam 11
1.4 Chứng từ điển tử eUCP 13
1.4.1 Khái quát về chứng từ điện tử eUCP 13
1.4.2 Thực trạng sử dụng chứng từ điê ̣n tử eUCP 16
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ 18
2.1 Đánh giá SWIFLT 18
2.2 Đánh giá BPO 21
2.3 Đánh giá Blockchain 22
2.4 Đánh giá eCPU 24
KẾT LUẬN 25
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và cóbản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người vớicon người Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải mở rộng liênkết với các quốc gia khác, cả về kinh tế, chính trị và xã hội Trong một thế giới hiện đại,sự phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thànhthị trường khu vực và quốc tế Vì thế mà ngày nay, cùng với xu hướng hội nhập kinh tếthế giới, thương mại quốc tế ngày càng có điều kiện phát triển hàng hóa trao đổi giữa cácquốc gia ngày càng nhiều, chất lượng và dễ dàng Trong nền kinh tế mỗi nước hoạt độngkinh tế đối ngoại giữ vai trò cực kỳ quan trọng đây chính là cầu nối của từng quốc gia vớicác nước khác trên thế giới Việc hình thành “cái toàn cầu” trong quá trình toàn cầu hóakéo theo việc ra đời các định chế toàn cầu, như Liên hợp quốc và các tổ chức thuộc Liênhợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF) Các định chế này không phải là “nhất thành, bất biến”, cơ chế hoạt độngcủa chúng phải luôn cần đổi mới, cập nhật cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
“cái toàn cầu” Đây là sự thích nghi, bảo đảm sức sống, nâng cao tính hiệu quả của cácđịnh chế quốc tế, chứ không phải và càng không thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa.Bước phát triển mới của toàn cầu hóa gắn với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng côngnghiệp 4.0 tất yếu kéo theo những đổi mới, cải tổ, cải cách các định chế toàn cầu hiện cóvà có thể ra đời những định chế quản trị toàn cầu mới
Sau khi gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới như ASEAN năm 1995, AFTAnăm 1996, APEC năm 1998, WTO năm 2006, Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội đểkhẳng định mình trên trường quốc tế và đồng thời cũng có thêm không ít các thách thức,khó khăn Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trênphạm vi rộng lớn như hiện nay, các quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động giaothương nói riêng đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xãhội của đất nước Chính hoạt động giao thương đã trở thành tiền đề cho hoạt động xuấtnhập khẩu, một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế mở ngày nay Việc mở ra cácquan hệ ngoại thương ngày càng rộng rãi đòi hỏi kèm theo đó sự phát triển không ngừngcác quan hệ thanh toán để hoạt động thương mại giữa các bên được diễn ra một cách tối
ưu, công bằng và hiệu quả nhất Từ đó, hành lang pháp lý về điều kiện và cách thức traođổi cũng ngày càng được củng cố và phát triển Trong đó, vai trò của các chứng từ thươngmại quốc tế được nêu cao Tuy nhiên một số doanh nghiệp vẫn chưa hiểu rõ về cách sửdụng cũng như thực trạng sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay Việc ứng dụngcông nghệ vào các chứng từ điện tử vẫn còn nhiều hạn chế phức tạp do mới xuất hiện nênthiếu hụt cơ sở pháp lý và hạ tầng kỹ thuật Yếu tố tưởng chừng như tất yếu và đơn giảnnày trên thực tế có thể gây ra nhiều rủi ro và những tranh chấp không đáng có cho cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế
Để làm rõ thực trạng trên, nhóm thực hiện nghiên cứu về đề tài: “Phân tích vai tròvà cách sử dụng một số chứng từ thương mại quốc tế Thực trạng sử dụng các chứng từđiện tử trong thanh toán quốc tế trong điều kiện CMCN 4.0 trên thế giới, tại Việt Nam và
Trang 5những vấn đề đặt ra” Đề tài tập trung vào các vấn đề liên quan đến đồng tiền trong thanhtoán quốc tế cũng như xem xét một số trường hợp cụ thể để tìm ra những điểm bất cập, từ
đó, đánh giá đúng được thực trạng và những khó khăn cũng như lợi ích của viê ̣c sử dụngcác chứng từ điê ̣n tử trong thanh toán quốc tế
Trang 6CHƯƠNG I CÁC LOẠI CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ TRONG THANH TOÁN
QUỐC TẾ VÀ THỰC TRẠNG.
1.1 Công nghê ̣ SWIFT
1.1.1 Khái quát về SWIFT.
a, Khái niê ̣m:
SWIFT (The Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication) làtên gọi của một mạng lưới toàn cầu truyền và xử lý dữ liệu tài chính, hỗ trợ hoạt độngkinh doanh cho các tổ chức tài chính trên khắp thế giới trong các hoạt động về thanh toán,thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ cũng như thị trường chứng khoán và tín dụngthương mại Mạng lưới viễn thông của SWIFT cung cấp dịch vụ truyền dẫn dữ liệu tàichính an toàn, đáng tin cậy, hiệu quả chi phí cho những người sử dụng Được thành lậpvào năm 1973, với 239 ngân hàng trên 15 nước tham gia
b, Điều kiê ̣n áp dụng:
Để trở thành thành viên của SWIFT, các ngân hàng và tổ chức tài chính phải đápứng đầy đủ các điều kiện, bao gồm các văn bản theo yêu cầu của SWIFT và hệ thống kếtnối phổ biến nhất
Bước 1: Trở thành thành viên SWIFT gồm ba (03) nhóm tổ chức chính:
Nhóm 1: Các tổ chức tài chính có sự kiểm soát (SFI), bao gồm hai loại hình:
1 Tổ chức cam kết hoạt động và có các dịch vụ trong lĩnh vực thanh toán, chứngkhoán, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm hoặc đầu tư Các tổ chức này phải có hai tiêu chísau:
a) Được cấp phép (i) hoặc được ủy quyền (ii) hoặc được đăng ký bởi cơ quan quản
lý thị trường tài chính theo quy định BMR 199 (như NHNN, …) (Financial MarketRegulator);
b) Được kiểm soát bởi cơ quan quản lý thị trường tài chính;
2 Tổ chức quốc tế, siêu quốc gia, liên kết giữa các chính phủ hoặc thuộc chính phủ
có các dịch vụ và hoạt động chính trong lĩnh vực thanh toán, chứng khoán, ngân hàng, tàichính, bảo hiểm và đầu tư (bao gồm cả các ngân hàng trung ương)
Nhóm 2: Các tổ chức hoạt động trong ngành tài chính không có sự kiểm soát của
cơ quan quản lý thị trường tài chính, bao gồm hai loại hình sau:
1 Tổ chức thực hiện các dịch vụ và hoạt động chính trong lĩnh vực thanh toán,chứng khoán, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm hoặc đầu tư cho Tổ chức tài chính có kiểmsoát của cơ quan quản lý tài chính (SFI) và/hoặc cho bên thứ ba không liên quan đến tổchức không có kiểm soát này;
2 Tổ chức hoạt động với mục đích chính là cung cấp dịch vụ cho Tổ chức tàichính có kiểm soát của cơ quan quản lý thị trường tài chính (SFI) và/hoặc bên thứ bakhông liên quan đến tổ chức không có sự kiểm soát Các dịch vụ của tổ chức này bao gồm
Trang 7(i) dịch vụ hỗ trợ giao dịch tài chính thông qua các phương tiện thông tin và xử lý thôngtin; (ii) dịch vụ yêu cầu gửi điện giao dịch dưới tên của tổ chức tài chính không kiểm soát(NSE);
Hai loại hình tổ chức trên sẽ (i) không bị kiểm soát bởi cơ quan quản lý thị trườngtài chính; (ii) là tổ chức thành lập hợp pháp, có tổ chức hợp lý, đầy đủ và quy củ ; (iii) cótình hình tài chính lành mạnh và hoạt động theo đúng các quy định và luật ban hành; và(iv) phải được kiểm toán định kỳ phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế và phải đượcmột công ty kiểm toán độc lập thực hiện
Nhóm 3: Doanh nghiệp và các tổ chức khác
Nhóm này bao gồm: Doanh nghiệp, Cơ quan quản lý thị trường tài chính, Tổ chứctham gia hệ thống thanh toán, Công ty cung cấp dữ liệu thị trường chứng khoán, Công tytham gia hệ thống giao dịch chứng khoán, …
Bước 2: Trước khi gia nhập và đặt hàng, các tổ chức phải:
Chuẩn bị bản sao công chứng giấy phép hoạt động, hoặc giấy chứng nhận hợp nhấtđược dịch sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp
Lên danh sách chữ ký người có quyền sử dụng SWIFT
Tham khảo ngày bắt đầu gia nhập và ngày bắt đầu đi vào hoạt động Ngày bắt đầugia nhập SWIFT không bao gồm thời gian mà Nhóm thành viên quốc gia (NationalMembership Group) của SWIFT kiểm tra và xác minh tính xác thực các tiêu chímà tổ chức nộp đơn gia nhập gửi đến cũng như thời gian gửi các thông tin này lênBan Quản lý Thành viên SWIFT (Một ngân hàng có khi phải mất thời gian dài đểđược gia nhập SWIFT)
Thời gian được tính khi Ban Quản lý thành viên SWIFT trình bày kết quả đã được xácminh và kiểm tra lên Ban Giám đốc SWIFT để Ban Giám đốc cho kết luận cuối cùng.Quy trình này có thể mất một vài tuần
c, Quy trình thực hiê ̣n:
SWIFT chỉ định cho mỗi tổ chức tài chính một mã duy nhất có tám ký tự hoặc 11 kýtự Mã được hoán đổi cho nhau được gọi là mã định danh ngân hàng (BIC), mã SWIFT,
ID SWIFT hoặc mã ISO 9362 Để hiểu cách mã được gán, hãy cùng tìm hiểu tại ngân hàng Ý UniCredit Banca, có trụ sở tại Milan Nó có mã SWCR 8 ký tự UNCRITMM
Một quy trình giao dịch chuyển tiền thông thường qua SWIFT sẽ được thực hiệntuần tự qua các đối tượng liên quan trong chuỗi giao dịch từ: Người chuyển tiền - Ngânhàng người chuyển - Ngân hàng trung gian - Ngân hàng người hưởng - Người hưởng.Trong đó, thông tin xử lý điện tại các ngân hàng là hoạt động riêng tư, các đối tượng trongchuỗi không thể biết được tình trạng bức điện chuyển tiền đang hay đã được xử lý ra saotừ lúc khởi tạo cho đến khi hoàn tất
Người chuyển hoặc người hưởng nếu muốn biết các thông tin như: Số phí các ngânhàng đã thu, số tiền người hưởng được báo có, thời gian báo có, tại sao người hưởng chưa
Trang 8nhận được tiền… đều phải đề nghị ngân hàng tiếp nhận dịch vụ thực hiện tra soát với cácngân hàng khác trong chuỗi để cung cấp thêm thông tin Điều này rất mất thời gian vàphát sinh thêm chi phí.
Quy trình sẽ được tiến hành như sau:
Khách hàng gửi cho đơn vị thanh toán của mình một ủy nhiệm chi cho người nhận
ở một đơn vị thanh toán khác
Đơn vị thanh toán của bạn khấu trừ số tiền đó từ tài khoản của khách hàng
Đơn vị thanh toán của khách hàng sẽ gửi một ủy nhiệm chi tương ứng cho ngườinhận bằng cách sử dụng tài khoản thương mại của họ với tổ chức còn lại
Đơn vị thanh toán của người nhận sẽ gửi tiền vào tài khoản sau khi đã khấu trừ cáckhoản phí cần thiết
Đối với các đơn bị chưa thiết lập sẵn mối quan hệ, mỗi khi cần chuyển SWIFT, ta
sẽ cần có ít nhất một tổ chức trung gian để kết nối hai tổ chức này với nhau
1.1.2 Thực trạng sử dụng SWIFT trên thế giới và Viê ̣t Nam
a Đối với thế giới
Hiê ̣n nay SWIFT đã liên kết hơn 11.000 tổ chức tài chính tại hơn 20,0 quốc gia vàvùng lãnh thổ, những người đang trao đổi trung bình hơn 32 triệu tin nhắn mỗi ngày (sovới mức trung bình 2,4 triệu tin nhắn hàng ngày vào năm 1995) Sử dụng cáp thông tinliên lạc dưới biển để truyền dữ liệu, mạng nhắn tin an toàn SWIFT được vận hành từ batrung tâm dữ liệu, một ở Mỹ, một ở Hà Lan và một ở Thụy Sĩ, chia sẻ thông tin theo thờigian thực Tính đến năm 2018, khoảng một nửa trong số tất cả các khoản thanh toánxuyên biên giới có giá trị cao trên toàn thế giới đã sử dụng mạng SWIFT Thành viên củaSWIFT là các ngân hàng và một số định chế tài chính Một bài toán nhỏ để có thể tínhđược doanh thu 1 ngày của SWIFT trung bình ít nhất là 200 triệu USD (60.000 định chếtài chính tham gia x trung bình 10.000 USD/tháng); giá một bức điện SWIFT trung bìnhlà 0.25USD/điện; giá này tùy thuộc vào lượng điện giao dịch 1 ngày và hệ thống phiênbản ứng dụng SWIFT đang sử dụng
Số lượng thành viên ở khắp các quốc gia tham gia vào hệ thống này và số lượngcác bức điện giao dịch ngày càng gia tăng Trải qua quá trình hơn 40 năm hình thành vàphát triển, SWIFT là công nghệ được sử dụng chủ yếu trong hoạt động TTQT tại các ngânhàng trên thế giới Trong quá trình hoạt động, SWIFT không ngừng cải tiến và đưa ra cácgiải pháp công nghệ số để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Tháng 9 năm 2014, SWIFTgiới thiệu mẫu điện MT 798 - một loại điện xác thực dùng để trao đổi dữ liệu thương mạiliên quan đến các giao dịch L/C và bảo lãnh giữa các doanh nghiệp phi ngân hàng và cácngân hàng thành viên của tổ chức SWIFT (SWIFT, 2016) Thông thường, các giao dịchL/C và bảo lãnh ngân hàng phải được xử lý bằng các giao diện ngân hàng khác nhau vàkhách hàng không nắm bắt được thông tin liên quan đến giao dịch mà họ đang thực hiệntại ngân hàng Hơn nữa, việc khởi tạo và xử lý chứng từ liên quan đến các giao dịch nàylà một thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghiệp thiếu các quy
Trang 9trình tự động và tiêu chuẩn hóa (Michael Fenyk, 2015) Với MT 798, các giao dịch L/Cvà bảo lãnh ngân hàng có thể được xử lý tích hợp thông qua một kênh liên lạc duy nhất.Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể kết nối với hệ thống SWIFT để theo dõi toàn diện tất cảcác hoạt động và thông tin liên quan đến giao dịch L/C và bảo lãnh ngân hàng, đồng thờitrao đổi với các ngân hàng liên quan Ngoài ra, MT 798 còn cho phép các doanh nghiệpthực hiện các giao dịch tài trợ thương mại bằng các phương tiện trực tuyến như nhập đơn
đề nghị phát hành/tu chỉnh L/C, nhận thông báo L/C xuất khẩu, nhập đơn đề nghị pháthành bảo lãnh
b Đối với Viê ̣t Nam
Viê ̣t Nam tính đến 1/10/2021 có 44 ngân hàng có mã SWIFT CODE Tại Việt Nam, đa sốcác ngân hàng thường sử dụng Swift Code loại 8 ký tự là phổ biến nhất Bởi vì loại 11 kýtự có thêm mã chi nhánh, mà tại Việt Nam một ngân hàng thì có rất rất nhiều chi nhánh.Ở Việt Nam, một số ngân hàng vẫn sử dụng phương tiện này trong những trường hợp đặcbiệt như: không sử dụng Telex hoặc chưa được phép tham gia hệ thống SWIFT Telex làphương tiện công cộng nên bản thân nó không an toàn; chưa có một chuẩn chung cho cácgiao dịch TTQT
Tuy nhiên, trong quá trình mở rộng và sử dụng không thể tránh hết mọi rủi ro.Trong quá khứ đã xảy ra các sự việc bê bối về những vụ xâm nhập ngoạn mục lấy đi hàngchục, hàng trăm triệu USD từ các ngân hàng trên thế giới Tin tặc đã thâm nhập vào hệthống ngân hàng, sử dụng mã độc để đăng nhập vào hệ thống SWIFT nhằm lấy đi số tiềnkhủng đó Ngay sau đó, Swift đã khẳng định mạng lưới và dịch vụ điện tín không bị xâmnhập, vấn đề bảo mật nằm ở các ngân hàng chứ không phải ở SWIFT Tuy nhiên có thểthấy được sự kết nối giữa ngân hàng và Swift vẫn còn nhiều bất cập và Swift cần hànhđộng nhiều hơn nữa để đối phó với mối đe dọa đang gia tăng đến từ các “bóng đen trênbàn phím”
1.2 Phương thức thanh toán BPO
1.2.1 Khái quát về BPO.
a, Khái niệm BPO
BPO (Bank Payment Obligation) hay “Nghĩa vụ thanh toán ngân hàng” là một camkết độc lập và không hủy ngang của một ngân hàng (gọi là Ngân hàng có nghĩa vụ BPO -Obligor Bank) sẽ thanh toán ngay hoặc cam kết thanh toán có kỳ hạn và thực hiện thanhtoán khi đáo hạn một số tiền đã được xác định cho một ngân hàng khác (gọi là Ngân hàngtiếp nhận BPO - Recipient Bank) sau khi so khớp điện tử thành công các dữ liệu theo cácquy tắc thống nhất toàn cầu về BPO của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC)
b, Điều kiện áp dụng BPO tại các NHTM tại Việt Nam
Điều kiện về vốn:
Các ngân hàng muốn sử dụng BPO trước hết phải đăng kí sử dụng ứng dụng sokhớp giao dịch TMA (Transaction Matching Application) với SWIFT Như vậy, điều kiệnđặt ra cho các ngân hàng khi muốn áp dụng BPO là phải có 1 khoản vốn đầu tư lớn choviệc đăng ký tham gia SWIFT TSU Hiện tại SWIFT đang hỗ trợ các ngân hàng đăng kí
Trang 10online qua trang web www.swift.com, phí đăng kí tuỳ theo ngân hàng, một khi đã đăng kíTMA, SWIFT sẽ hỗ trợ ngân hàng triển khai áp dụng phương thức BPO trong hoạt động.Các ngân hàng đăng kí thành công sẽ được cấp mã khách hàng (tương tự mã BIC củaSWIFT Code)
Điều kiện về công nghệ thông tin
Dữ liệu được sử dụng trong TMA là các dữ liệu điện tử được chuẩn hoá theo tiêuchuẩn ISO 20022 do SWIFT cung cấp Như vậy, để áp dụng thành công phương thứcthanh toán BPO, các ngân hàngcung ứng dịch vụ BPO cần đầu tư hạ tầng/hệ thống côngnghệ có tương thích với điện ISO20022 cũng như hệ thống TMA, phát triển các chươngtrình, phần mềm, hệ thống nhằm chuyển đổi dữ liệu từ cac định dạng thông thường(Word, Excel, PDF) sang dữ liệu theo tiêu chuẩn 1 cách nhanh chóng
Điều kiện về pháp lý
Cần quy định cho phép các tổ chức liên quan chấp nhận hình thức chứng từđiện tử, ví dụ, hải quan chấp nhận cho nhà nhập khẩu thông quan bằng chứng từ điệntử
Điều kiện về nhân lực
Việc kiểm tra đối chiếu chứng từ trong phương thức thanh toán BPO sẽ được thựchiện bởi máy móc điện tử thay vì thủ công bằng sức người như các phương thức thanhtoán khác, gia tăng tốc độ chính xác cho giao dịch cũng như tiết kiệm sức lao động conngười Do BPO được vận hành dựa trên Hệ ứng dụng TMA trong hệ thống TSU, ứngdụng so khớp lệnh của SWIFT, nên ngân hàng muốn đưa BPO vào áp dụng thì người sửdụng phải có kiến thức sâu về BPO cũng như hiểu rõ cách thức vận hành hệ thống TMA
Trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ quen vớicác phương thức truyền thống là L/C, chuyển tiền, nhờ thu, ghi sổ,… Để chuyển sang 1phương thức thanh toán hoàn toàn mới cần phải mất rất nhiều thời gian để các doanhnghiệp nhận ra tính ưu việt của sản phẩm và thay đổi thói quen thanh toán của mình Đâythực sự là 1 thách thức cho các NHTM VIệt Nam khi đưa sản phẩm BPO vào triển khai
áp dụng
Vì vậy, đối với các chuyên viên ngân hàng, những người chịu trách nhiệm thựchiện các công việc liên quan đến xúc tiến, phát triển các sản phẩm thanh toán và tài trợthương mại quốc tế, từ khâu tiếp xúc khách hàng, tư vấn khách hàng sử dụng dịch vụ vàthực hiện các quy trình tác nghiệp sau đó, yêu cầu là phải hiểu biết về nghiệp vụ mà mìnhphụ trách Do đó các NHTM VN cần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, nắm rõ sảnphẩm cũng như cách thức giao dịch, rủi ro đi kèm để có thể tư vấn khách hàng cũng nhưvận hành sản phẩm mới
Điều kiện khách hàng
Ngân hàng phát hành BPO thay cho người mua cam kết thanh toán cho ngân hàngtiếp nhận BPO, ngân hàng của người bán sau so khi khớp lệnh thành công các bộ dữ liệuthương mại số với dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập Do đó, các NHTM VN cần thẩm
Trang 11định thông tin khách hàng chính xác nhằm đánh giá uy tín, tình hình tài chính và khả năngthanh toán của doanh nghiệp để xem xét việc phát hành BPO theo yêu cầu của kháchhàng nhằm hạn chế rủi ro cho mình Vì URBPO 1.0 không điều chỉnh trách nhiệm vànghĩa vụ giữa khách hàng và ngân hàng nên rủi ro xảy ra cho ngân hàng phát hành BPO làrất lớn nếu ngân hàng không có những văn bản, hợp đồng ràng buộc giữa ngân hàng vớidoanh nghiệp mà mình phục vụ.
c, Quy trình thực hiện
Bước 1: Người mua và Người bán thỏa thuận sử dụng phương thức thanh toán BPO dựa
trên điều khoản thanh toán của hợp đồng Người mua gửi chào hàng cho người bán
Bước 2: Người mua cung cấp dữ liệu tối thiểu về hợp đồng, điều khoản về nghĩa vụ thanh
toán cho Ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán (hay còn gọi là Ngân hàng phát hành BPO)
Bước 3: Ngân hàng phát hành BPO phát hành BPO cho người thụ hưởng là Ngân hàng
nhận BPO nêu rõ điều kiện thanh toán Ngân hàng thụ hưởng BPO thông báo cho Ngườibán về BPO Người mua xác nhận dữ liệu từ PO và gửi chấp nhận của mình đến ngânhàng nhận BPO Nếu cả hai dữ liệu trùng khớp nhau BPO đã được thiết lập Mỗi bên sẽnhận được một bản báo cáo về dữ liệu trùng khớp
Bước 4: Người bán gửi hành cho người mua.
Bước 5: Người bán gửi các dữ liệu về vận tải, hóa đơn cho Ngân hàng nhận BPO để tiến
hành khớp dữ liệu
Bước 6: Người mua nhận được báo cáo về việc so sánh, trùng khớp dữ liệu và người mua
có quyền chấp nhận lỗi không trùng khớp nào nếu có
Bước 7: Ngân hàng nhận BPO thông báo cho người bán về việc trùng khớp dữ liệu
Bước 8: Người bán sẽ gửi các chứng từ thương mại cho người mua và người mua sẽ nhận
hàng từ hải quan cùng các chứng từ này
Bước 9: Đến ngày đáo hạn ngân hàng phát hành BPO sẽ thanh toán cho Ngân hàng thụ
hưởng BPO và sau đó Ngân hàng thụ hưởng BPO sẽ chuyển cho người bán theo thỏathuận
Các bức điện gửi được gửi đi hay nhận được phải sử dụng các bức điện tiêu chuẩnISO 20022 đã đăng ký với Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế Các bức điện sẽ được tự động xử
lý thông qua ứng dụng so khớp giao dịch TMA (Transaction Matching Application) của
tổ chức SWIFT
1.2.2 Thực trạng sử dụng BPO trên thế giới và Viê ̣t Nam
a Đối với thế giới
Theo báo cáo của SWIFT, trên thế giới tính đến năm 2020 đã có 27 tập đoàn tàichính trên thế giới đã triển khai sử dụng phương thức thanh toán BPO Các công ty sửdụng phương thức thanh toán BPO phần lớn là các tập đoàn đa quốc gia, có nhiều công tycon, chi nhánh, trụ sở ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đó là các tập đoàn thương mại
Trang 12có quy mô lớn và lịch sử lâu đời, có uy tín tín dụng tốt để cho ngân hàng phát hành BPOtránh rủi ro tín dụng hoặc rủi ro vỡ nợ.
Trước khi URBPO được ICC thông qua, năm 2012 Standard Chartered Bank làngân hàng đầu tiên thực hiện thành công giao dịch BPO Giao dịch được thực hiện giữaOCTAL của BP, một trong những nhà sản xuất hạt nhựa PET lớn nhất thế giới, và mộtcông ty hàng đầu thế giới trong ngành công nghiệp bao bì Standard Chartered Bank chorằng sử dụng BPO, khách hàng của ngân hàng có thể được bảo đảm thanh toán và hạn chếrủi ro nhưng thông qua một quy trình hoàn toàn tự động, không sử dụng giấy tờ và nhanhhơn rất nhiều – bằng cách đó nó là chiếc cầu nối giữa phương thức thư tín dụng vàphương thức ghi sổ Đây là công cụ thanh toán thương mại ít phức tạp và tiết kiệm chiphí David Vermylen, giám đốc phụ trách tín dụng toàn cầu của BP cho rằng chương trìnhBPO cho họ một số những lợi ích hiệu quả về chi phí cũng như thời gian xử lý chứng từ
so với thư tín dụng truyền thống
b Đối với Viê ̣t Nam
Còn Viê ̣t Nam, việc ứng dụng công nghệ mới như so khớp dữ liệu trong phươngthức BPO trong hoạt động TTQT tại các ngân hàng Việt Nam còn khiêm tốn Thực tế,cho đến nay, gần 10 năm kể từ khi phương thức thanh toán BPO ra đời với tính năng traođổi cơ sở dữ liệu điện tử, vẫn chưa có một NHTM Việt Nam nào triển khai BPO Có thểnói, BPO là phương thức thanh toán với nhiều lợi ích cho tất cả các bên tham gia và đãđược chứng minh bằng các giao dịch thực tế Tuy nhiên, để triển khai thành công rộng rãiBPO tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, mỗi ngân hàng cần có chiến lược riêngcho ngân hàng của mình nhằm phối hợp hiệu quả tổng hòa các nguồn lực nội tại của ngânhàng Đã đến lúc toàn bộ cộng đồng ngân hàng cần chuẩn bị sẵn sàng cho sự đổi mới này
Nguyên nhân:
Qua trao đổi thông tin với các ngân hàng, sở dĩ công nghệ so khớp dữ liệu điện tử
trong phương thức BPO chưa được sử dụng rộng rãi tại các NHTM Việt Nam xuất phát từnhiều nguyên nhân
Ở góc độ vĩ mô, cơ sở pháp lý và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại Việt Nam
chưa tạo ra các điều kiện cần thiết để các ngân hàng mạnh dạn áp dụng các công nghệmới này vào hoạt động TTQT
Ở góc độ vi mô, các ngân hàng còn ngần ngại về vấn đề chi phí khi gia nhập vào
TSU và chưa thực sự tin tưởng vào tiềm năng phát triển mô hình công nghệ số này tronglĩnh vực TTQT Hơn nữa, một số ngân hàng e ngại rằng BPO sẽ làm cho nhu cầu sử dụngsản phẩm thư tín dụng bị giảm đi trong khi sản phẩm này mang lại nguồn thu phí hấp dẫncho ngân hàng
Về phía khách hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng không “mặn mà” với
những phương thức giao dịch sử dụng công nghệ mới bởi tâm lý thói quen với giao dịchtheo kiểu truyền thống và không đủ điều kiện tài chính để đổi mới công nghệ Mặt khác,khi tham gia vào giao dịch TTQT theo BPO, các doanh nghiệp phải tự thực hiện các khâukhai báo dữ liệu và cung cấp chứng từ điện tử lên hệ thống, trong khi thực tế, một bộ phận
Trang 13doanh nghiệp Việt Nam thường có thói quen nhờ ngân hàng thực hiện các khâu kê khaibiểu mẫu, lập chứng từ…
Về phía các công ty vận tải, bảo hiểm, hải quan, các cơ quan cấp phát các giấy chứng nhận về hàng hóa, các công nghệ này vẫn còn khá mới và họ cũng chưa sẵn sàng
đổi mới công nghệ để thích ứng tham gia vào hệ thống Rủi ro tiềm ẩn từ việc ứng dụngcông nghệ số cũng như mối lo ngại về an ninh mạng có thể khiến các bên liên quan ngầnngại ứng dụng các công nghệ mới này khi tham gia giao dịch TTQT
1.3 Công nghê ̣ Blockchain
1.3.1 Khái quát về Blockchain.
a, Khái niệm
Blockchain (Chuỗi khối) là một cấu trúc chuỗi dữ liệu, giúp nó hoạt động như mộtcuốn sổ cái giao dịch và chia sẻ nó trong mạng lưới phân phối giữa các máy tính.Blockchain sử dụng mã hóa để cho phép mỗi người tham gia trong hệ thống thao tác tại
sổ cái một cách an toàn mà không cần một đơn vị trung tâm (FinTech Network, 2016)
Về bản chất, blockchain là một loại sổ cái phân tán (distributed ledger), bao gồmcác thông tin được ghi lại bằng kỹ thuật số và được đưa vào trong các gói gọi là khối Mỗikhối thông tin đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới khối trước đósử dụng một chữ ký mật mã Điều này cho phép các chuỗi khối được sử dụng như là mộtcuốn sổ cái, trong đó thông tin được truy cập và chia sẻ bởi bất cứ ai có quyền truy cậptrong khối chuỗi đó Một khi khối thông tin đã được ghi nhận tại Blockchain thì rất khó
có thể thay đổi hoặc xóa bỏ (FinTech Network, 2016) Trong trường hợp có bất kỳ sựthay đổi nào thì hệ thống cũng sẽ ghi nhận lại những thay đổi này Khi ai đó muốn thêmthông tin, một số thành viên trong mạng lưới blockchain đó (thường được gọi là thợ mỏ –miner) sẽ chạy các thuật toán phức tạp để đánh giá và xác minh các giao dịch được đềxuất
b,Điều kiện áp dụng
Ứng dụng công nghệ Blockchain yêu cầu cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cao cầnthiết để vận hành một cách linh hoạt mạng toàn cầu cũng như đẩy nhanh tốc độ giao dịch
c,Quy trình thực hiện.
Cách thức các giao dịch được thực hiện trên mô hình Blockchain:
Hình 3: Cách thức giao dịch trên mạng lưới Blockchain
Trang 14Nguồn: Coinmana, 2019
(1) Khi giao dịch xảy ra giữa hai điểm nút trong mạng lưới, các giao dịch sẽ được
mã hóa thành chuỗi băm và lưu trữ tạm để chờ xử lý và ghi nhận trong hệ thống dữ liệu.Các dữ liệu này có thể bao gồm thông tin về ngày tháng, thông tin về người gửi, ngườinhận, số lượng, loại,…
(2) Các dữ liệu giao dịch đã được mã hóa bằng các chữ ký điện tử của người gửi vàngười nhận để đảm bảo tính toàn vẹn và tính xác thực
(3) Sau đó được phát lên toàn bộ hệ thống mạng lưới gồm các điểm nút cơ sở dữliệu nhằm xử lý và chứng thực
(4) Tất cả các điểm nút sẽ cùng nhau tiến hành xử lý và chứng thực các giao dịchcủa tất cả các điểm nút trong mạng lưới
(5) Sau khi tất cả các giao dịch đã được chứng thực, các giao dịch sẽ được thêmvào trong cơ sở dữ liệu của tất cả các điểm nút
(6) Giao dịch đã được hoàn tất Tất cả các giao dịch được kết nối ngược lại với các
dữ liệu giao dịch cũ theo cách thức không thể đảo ngược đồng thời có thể dễ dàng xem lạicác giao dịch trong quá khứ của toàn bộ cơ sở dữ liệu Blockchain
1.3.2 Thực trạng sử dụng Blockchain trên thế giới và Viê ̣t Nam
a, Đối với thế giới
Cơ quan xử lý tín dụng trực tuyến Bureau trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Ba Lan
đã ghi lại lịch sử tín dụng của khoảng 150 triệu người châu Âu bằng việc tạo ra giải phápblockchain để xử lý dữ liệu của khách hàng Tập đoàn ngân hàng lớn nhất Tây Ban Nha -Banco Santander tiên phong trong ứng dụng công nghệ blockchain vào hoạt động đã xâydựng một hệ thống thanh toán OnePay FX trên nền tảng blockchain
Mục tiêu chính của hệ thống này là tối ưu hóa việc thanh toán giữa châu Âu vàNam Mỹ bằng việc sử dụng sổ cái phân tán Ngân hàng JPMorgan đã tin tưởng, tương laicủa blockchain đến nỗi mà họ đã thành lập riêng một doanh nghiệp để nghiên cứu và ứngdụng công nghệ này Hiện tại, ngân hàng này đang thử nghiệm các ứng dụng cho các hoạtđộng tài chính
Theo một nguồn tin trong ngành Ngân hàng Trung Quốc - trang CEBNet cho biết,
12 trong số 26 ngân hàng Trung Quốc tiết lộ trong hồ sơ hàng năm của họ đã sử dụng cácứng dụng blockchain trong năm 2017 cho các mục đích sử dụng khác nhau
Ngày 15/05/2018, HSBC thông báo cùng ING Bank vừa thực hiện thành công giaodịch tài trợ thương mại đầu tiên thông qua Tín dụng thư được thực hiện hoàn toàn trênnền tảng công nghệ blockchain cho Cargill, một tập đoàn quốc tế về nông nghiệp và thựcphẩm đã giảm thời gian thanh toán L/C từ 5 - 10 ngày xuống còn 24 giờ
Theo Reuters (ngày 28/9/2018), Ngân hàng Hoàng gia Canada (RBC) đang thửnghiệm dùng blockchain cho các khoản thanh toán giữa các chi nhánh ở Mỹ và Canada.Công nghệ blockchain hiện được cho chạy song song với hệ thống chính của RBC, cho