1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tác động của du lịch đến hệ xã hội – nhân văn tại một địa phương ở nước ta hiện nay?

15 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 95,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của du lịch đến hệ xã hội – nhân văn tại một địa phương ở nước ta hiện nay? Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao. Mức sống của người dân ngày càng cao, nhu cầu sống không chỉ dừng lại ở ăn no, mặc ấm mà trở thành ăn ngon, mặc đẹp, sống sang. Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có thêm hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động thực vật và nền văn hóa của những nơi khác. Vì vậy, du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến, đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Du lịch là một trong những trụ cột chính của thương mại quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới và là động lực tăng nguồn thu nhập quan trọng đối với nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nó tạo ra hàng tỷ đô la doanh thu và hàng triệu việc làm trên toàn thế giới. Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… của đất nước. Trước khi dịch bệnh Covid19 diễn ra, năm 2018 tổng thu từ khách du lịch ở Việt Nam đạt hơn 620.000 tỷ đồng (tăng 21.4% so với năm 2017), đóng góp trực tiếp ước đạt 8.5% vào GDP. Năm 2019, ngành du lịch đóng góp vào nền kinh tế ước đạt 726.000 tỷ đồng (khoảng 31 tỷ USD), tăng hơn 17% so với năm 2018. Có thể thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của ngành du lịch không thể phủ nhận được. Bên cạnh đó du lịch còn mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, tác động của quá trình hội nhập hóa, toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ đến du lịch đã ảnh hưởng rất lớn hệ xã hội nhân văn. Hoạt động khai thác tài nguyên xã hội nhân văn còn nhiều khó khăn, hạn chế, đòi hỏi sự quy hoạch cụ thể và phát triển bền vững vừa phục hồi và nâng cao chất lượng điểm đến đảm bảo sự an toàn, thỏa mãn được nhu cầu du lịch cho du khách. Huế là một trong số ít những địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc, có giá trị cao. Đây là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế lớn của nước ta trong hơn 3 thế kỷ. Huế không chỉ có các công trình kiến trúc cổ kính, nhã nhạc cung đình hay những thú mang dấu vết thời vua chúa. Nơi đây còn được thiên nhiên cũng rất ưu ái khi đã ban tặng cho cố đô nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, cùng với đó là những tinh hoa văn hóa do con người tạo nên. Chính vì vậy nhóm 1 chúng em chọn đề tài: Tác động của du lịch đến hệ xã hội nhân văn tại một địa phương ở nước ta hiện nay. Liên hệ thành phố Huế mong muốn vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tìm hiểu sâu hơn về thực trạng hoạt động khai thác tài nguyên xã hội nhân văn tại Huế. Bên cạnh đó đánh giá ưu điểm và hạn chế còn tồn đọng trong quá trình khai thác, từ đó đề xuất một số giải pháp kiến nghị góp phần bảo bảo vệ và xây dựng du lịch Huế ngày đàng phát triển toàn diện hơn. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI – NHÂN VĂN 1.1. Cơ sở lí luận về du lịch bền vững 1.1.1. Khái niệm du lịch bền vững Theo World Conservation Union (1996): Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác dụng thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương Theo điều 4 luật du lịch Việt Nam (2017): Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. 1.1.2. Mô hình phát triển du lịch bền vững Trụ cột kinh tế: Du lịch bền vững cần bảo đảm lợi ích về kinh tế thiết thực và lâu dài. Đảm bảo phân bổ lợi ích kinh tế một cách đồng đều bao gồm cả các dịch vụ xã hội đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo Trụ cột xã hội và văn hoá: Cần tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hoá của các cộng đồng địa phương. Bảo tồn di sản văn hoá và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hoá Trụ cột môi trường: Du lịch bền vững cần sử dụng một cách tối ưu nhất tài nguyên môi trường, yếu tố quan trọng nhất để phát triển du lịch, duy trì các quá trình sinh thái cần thiết và giúp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên. 1.2. Tác động của du lịch lên hệ xã hội – nhân văn 1.2.1. Tác động tích cực Góp phần bảo tồn di tích, di sản lịch sử văn hóa: Du lịch tạo ra các khả năng hỗ trợ việc bảo tồn các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị tàn lụi, đặc biệt là các di tích những đất nước nghèo không có đủ tiềm lực kinh tế để trùng tu và bảo vệ. Du lịch góp phần đắc lực bảo tồn các di sản kiến trúc, nghệ thuật, văn hoá, đồ thủ công, lễ hội, trang phục, lối sống truyền thống. Không những vậy, du lịch đã đóng góp kinh phí trực tiếp hay gián tiếp (thông qua ngân sách) cho việc phát triển các bảo tàng, nhà hát, các hoạt động truyền thống và văn hoá ẩm thực. Góp phần khôi phục niềm tự tin và tự hào dân tộc, bảo vệ tính đa dạng của văn hoá, tạo sự tôn trọng các đặc trưng văn hoá của dân tộc mình. Xác định lại vai trò nhằm tạo ra những cơ hội mới cho phụ nữ và thanh niên: du lịch phát triển cần một nguồn nhân lực không nhỏ, khi đó những người phụ nữ tại các bản không chỉ có làm việc nhà, nương rãy mà giờ đây họ còn chung tay phục vụ cho hoạt động du lịch, tiếp đón khách du lịch. Đầu tư mớimở rộng các dịch vụ công cộng và tiện nghi: Nhiều tiện ích được mở ra nhằm đảm bảo nhu cầu của khách du lịch khi tới điểm đến. Điều này giúp thu hút nhiều khách du lịch nhằm ổn định nền kinh tế, qua đó gia tăng sử dụng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa. Ổn định nền kinh tế, qua đó gia tăng sử dụng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên văn hoá: Du lịch tạo thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, nguồn thu ngoại tệ… Điều đó giúp cho việc nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, phát triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng quốc gia. Du lịch tạo ra chất xúc tác để phát triển mở rộng khu vực , gia tăng sử dụng trong quá trình xây dựng, dịch vụ, cung cấp thực phẩm, văn hoá nghệ thuật, nghề thủ công sản xuất đồ lưu niệm… Đồng thời đóng góp ngân sách không nhỏ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nâng cao chất lượng giáo dục: du lịch tác động lớn đến việc đưa kiến thức lịch sử cho giới trẻ từ những điểm tham quan du lịch, hay những điểm học ngoại khóa ngắn. Khuyến khích sử dụng ngôn ngữ bản địa: Khi du lịch phát triển, người dân địa phương thường có xu hướng học nói ngôn ngữ quốc tế để phục vụ khách du lịch dẫn đến tình trạng ngôn ngữ của dân tộc mình bị lãng quên. Nên hãy cố gắng sử dụng ngôn ngữ của địa phương để bảo tồn thứ tiếng vô cùng thiêng liêng của mỗi dân tộc. Đa dạng hóa sinh kế: Du lịch phát triển tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm cho người dân, có thể lựa chọn những công việc phù hợp, tạo ra thu nhập. Trao đổi giao lưu văn hoá, ngôn ngữ, sức khoẻ, vùng miền, hành vi đạo đức: Góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của cả hai phía cũng như hiểu biết và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác. Đồng thời giữa khách du lịch và người dân địa phương cũng sẽ học hỏi được nhau nhiều điều về ngôn ngữ, cách ứng xử và các hành vi đạo đức. Và khi có khách du lịch thì trang thiết bị về đầu tư cơ sở vật chất, trang bị về y tế được nâng cao giúp sức khoẻ của người dân địa phương được cải thiện đáng kể. Ngoài nghỉ ngơi thư giãn, du khách có cơ hội được gặp gỡ và hiểu hơn về những nền văn hoá khác: Khi đến bất cứ một địa điểm tham quan nào, mỗi du khách không chỉ là đến để nghỉ ngơi mà đó là đến để biết, đến để trải nghiệm và đến để hiểu nhiều hơn về những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Các địa phương khi phát triển các khu du lịch, họ sẽ tiếp cận được văn minh, sẽ hiểu biết và phát triển hơn bao giờ hết. Đồng thời những người phụ nữ sẽ trở nên độc lập hơn và vai trò của mỗi cá nhân sẽ được quan tâm và chú ý nhiều hơn. 1.2.2. Tác động tiêu cực Xã hội thay đổi mất sự cân bằng: sự mất cân bằng xảy ra khi các hoạt động du lịch chỉ tập trung vào một hoặc một vài vùng khu riêng biệt dẫn đến sự phát triển không đồng đều của cư dân trong các vùng chậm phát triển khác. Sự bùng phát giá đất đai, hàng hoá, dịch vụ trong khu du lịch có thể làm mất giá trị của đồng tiền, gây sức ép tài chính lên cư dân trong vùng. Cư dân bản địa ở nhiều trung tâm du lịch có thể biến thành thứ lao động rẻ mạt, tạm bợ theo mùa, gây mất sự cân bằng trong xã hội. Mất ngôn ngữ: điều này xảy ra tại 1 số địa phương khi người địa phương thường có xu hướng thay đổi ngôn ngữ của mình khiến cái đặc trưng vốn có dần bị mai một do sự gia nhập của các ngôn ngữ khác, cũng như chính sự chuộng ngôn ngữ khác của người dân. Vấn đề đạo đức: Nhiều cơ sở kinh doanh trái phép, các loại hình dịch vụ không lành mạnh mở ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền làm xấu hình ảnh du lịch đẹp của nước ta. Nhiều cá nhân trục lợi bất chính gây nên hình ảnh xấu về con người tại địa phương. Vấn đề sức khỏe: do du khách ở khắp mọi nơi đến khu du lịch nhiều khi cũng mang lại các nguồn cơn dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến vấn đề sức khỏe của người dân. Và môi trường dần bị ô nhiễm điều này ảnh hưởng vô cùng xấu tới sức khoẻ và đặc biệt là sức khoẻ của người dân địa phương. Công việc làm con người mất tính lương thiện: đó là một tình trạng xấu đang diễn ra hiện nay. Những vấn đề xảy ra như lừa đảo du khách, bán đồ vật giả,… Lợi dụng lòng tốt của khách mà kiếm tiền bất chính. Đánh mất truyền thống tôn giáo: nhiều văn hóa phái giáo khác gia nhập vào địa phương, người dân dần cuốn theo sự vụ lợi từ những giáo phái bất chính làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của địa phương. Chia cắt văn hoá và hệ quả là làm giảm giá trị văn hoá, làm phá hỏng các giá trị văn hoá: người dân có xu hướng chuộng văn hoá ngoại lai dẫn đến làm mai một truyền thống văn hoá của dân tộc. Đánh mất truyền thống tôn giáo: do sự du nhập của một số truyền thống tôn giáo nước ngoài xâm nhập cũng ảnh hưởng đến các truyền thống tôn giáo tại địa phương và ngày càng mất dần đi truyền thống vốn có của dân tộc mình. Gây vấn đề với cộng đồng bởi sự khác biệt giữa lợi ích và chi phí: tại cùng một địa phương nhưng các doanh nghiệp du lịch tạo ra lợi ích và chi phí cho du khách khác nhau dẫn đến hiện tượng chèo kéo khách, tranh giành khách hàng. Sự lan truyền của các đại dịch: thông qua đường du lịch giữa các nước cũng như sự tiếp xúc của nhiều cá thể với nhau đã khiến đại dịch trở nên bùng phát và khó kiểm soát. Đặc biệt khó khăn nhất hiện nay chính là dịch covid 19 lây lan trực tiếp qua đường hô hấp. Tạo ra không ít hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế cũng như khiến cho ngành du lịch gặp rất nhiều bất lợi. Nhiều biện pháp ngăn ngừa được đặt ra, nhưng việc lây lan lại là điều không thể ngăn chặn hoàn toàn. Sự quá tải của dịch vụ và vật chất: Khi khách du lịch quá đông dẫn đến sự quá tải của dịch vụ du lịch và vật chất dân cư địa phương sẽ bị tranh giành về tiện nghi giao thông, nhà hàng, chợ búa. Sự quá tải dẫn đến những nguy hại liên quan đến vấn đề môi trường và an sinh xã hội. Sự tăng lên về tỉ lệ bạo lực và tội phạm: tỉ lệ tội phạm tại các khu du lịch tăng lên nguyên nhân chính là chưa được sự giáo dục tốt dẫn đến những hành vi hám lợi trước mắt mà dẫn đến các hành động trộm cắp, cờ bạc, ma tuý,… Các hành động vi phạm của người dân địa phương : Do nhu cầu tăng cao của khách du lịch, họ có xu hướng mua các sản phẩm nghệ thuật và thủ công làm vật lưu niệm. Nên người dân địa phương có xu hướng làm giảm chất lượng của các sản phẩm, bỏ bớt các khâu hoặc các nguyên liệu dẫn đến sự suy giảm về chất lượng của sản phẩm. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI NHÂN VĂN TẠI HUẾ 2.1. Giới thiệu khái quát về Huế 2.1.1. Lý do chọn Huế Huế là một trong những vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và di sản văn hoá. Ðến nay, không còn một vùng nào có một số lượng lớn các di tích mà những di tích này vẫn giữ được hình dạng vốn có của nó như ở cố đô này. Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, toạ lạc ở phía Bắc sông Hương, mặt quay về hướng Nam. Kinh thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương tây. Di tích cung đình còn nguyên vẹn nhất ở Việt Nam, nếu bạn từng đến cố đô Hoa Lư (Nình Bình), Cổ Loa, Thăng Long (Hà Nội), những nơi từng là kinh đô của nước Việt Nam, giờ đã trở thành phế tích, sẽ thấy quần thể di tích cố đô Huế vẫn còn được bảo tồn một cách nguyên vẹn nhất. Với cung điện, thành trì, đàn miếu, lăng tẩm, chùa chiền và nhiều nhà vườn có tuổi đời vài trăm năm... cố đô Huế mang trong mình vẻ đẹp thanh bình, yên tĩnh. Du khách đến Huế sẽ được chiêm ngưỡng những kiệt tác nghệ thuật của cung điện vàng son, đền đài lăng miếu lộng lẫy, lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam thắng cảnh trầm mặc. Bên cạnh đó, Huế cũng không kém phần nhộn nhịp đông đúc, là nét hấp dẫn khi muốn tìm một chốn thanh tịnh nhưng không quá u buồn. Ở bờ phía Bắc của sông Hương là một di tích gồm những lâu đài được xây dựng theo kiểu phòng thủ tạo thành một đường vòng cung dài 11km. Công trình quí giá này gồm hơn 100 tác phẩm kiến trúc, đã thực sự phản ánh được cuộc sống của vua quan nhà Nguyễn. Giữa những quả đồi ở bờ Nam sông Hương là những lăng tẩm rất đẹp của các vua Nguyễn Chọn Huế là một trong những vẻ đẹp thiên nhiên, du lịch nơi đây thật hào hùng và mãnh liệt bền vững, bởi các di tích lịch sử văn hóa, bởi những phong cảnh hữu tình nơi đây đã mang lại cho du khách những cảm nhận đặc biệt mà khó tả, khó quên. 2.1.2. Đặc điểm hệ xã hội – nhân văn của Huế

Trang 1

KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH

- -BÀI THẢO LUẬN

DU LỊCH BỀN VỮNG

Tên đề tài : Tác động của du lịch đến hệ xã hội – nhân văn

tại một địa phương ở nước ta hiện nay?

Nhóm thực hiện: 01

Mã lớp học phần: 2170TSMG3021 Giảng viên:

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI – NHÂN VĂN 5

1.1 Cơ sở lí luận về du lịch bền vững 5

1.1.1 Khái niệm du lịch bền vững 5

1.1.2 Mô hình phát triển du lịch bền vững 5

1.2 Tác động của du lịch lên hệ xã hội – nhân văn 5

1.2.1 Tác động tích cực 5

1.2.2 Tác động tiêu cực: 6

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI - NHÂN VĂN TẠI HUẾ 9

2.1 Giới thiệu khái quát về Huế 9

2.1.1 Lý do chọn Huế 9

2.1.2 Đặc điểm hệ xã hội – nhân văn của Huế 9

2.2 Tác động của du lịch đến hệ xã hội – nhân văn của Huế 11

2.2.1 Tác động tích cực 11

2.2.2 Tác động tiêu cực 12

2.3 Đánh giá chung về tác động của du lịch lên hệ xã hội – nhân văn của Huế 13

2.3.1 Thành công 13

2.3.2 Hạn chế 13

2.3.3.Nguyên nhân 14

LỜI KẾT LUẬN 15

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao Mức sống của người dân ngày càng cao, nhu cầu sống không chỉ dừng lại ở "ăn no, mặc ấm" mà trở thành "ăn ngon, mặc đẹp, sống sang" Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có thêm hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động - thực vật và nền văn hóa của những nơi khác Vì vậy, du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến, đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người

Du lịch là một trong những trụ cột chính của thương mại quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới và là động lực tăng nguồn thu nhập quan trọng đối với nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Nó tạo ra hàng tỷ đô la doanh thu và hàng triệu việc làm trên toàn thế giới Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh

tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… của đất nước Trước khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra, năm 2018 tổng thu từ khách du lịch ở Việt Nam đạt hơn 620.000 tỷ đồng (tăng 21.4%

so với năm 2017), đóng góp trực tiếp ước đạt 8.5% vào GDP Năm 2019, ngành du lịch đóng góp vào nền kinh tế ước đạt 726.000 tỷ đồng (khoảng 31 tỷ USD), tăng hơn 17% so với năm 2018 Có thể thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của ngành du lịch không thể phủ nhận được Bên cạnh đó du lịch còn mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, tác động của quá trình hội nhập hóa, toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ đến du lịch đã ảnh hưởng rất lớn hệ xã hội - nhân văn Hoạt động khai thác tài nguyên xã hội - nhân văn còn nhiều khó khăn, hạn chế, đòi hỏi sự quy hoạch cụ thể và phát triển bền vững vừa phục hồi và nâng cao chất lượng điểm đến đảm bảo sự an toàn, thỏa mãn được nhu cầu

du lịch cho du khách Huế là một trong số ít những địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc, có giá trị cao Đây là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế lớn của nước ta trong hơn 3 thế kỷ Huế không chỉ có các công trình kiến trúc

cổ kính, nhã nhạc cung đình hay những thú mang dấu vết thời vua chúa Nơi đây còn được thiên nhiên cũng rất ưu ái khi đã ban tặng cho cố đô nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, cùng với đó là những tinh hoa văn hóa do con người tạo nên

Chính vì vậy nhóm 1 chúng em chọn đề tài: "Tác động của du lịch đến hệ xã hội -nhân văn tại một địa phương ở nước ta hiện nay Liên hệ thành phố Huế" mong muốn vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tìm hiểu sâu hơn về thực trạng hoạt động khai thác tài nguyên xã hội - nhân văn tại Huế Bên cạnh đó đánh giá ưu điểm và hạn chế còn tồn đọng trong quá trình khai thác, từ đó đề xuất một số giải pháp kiến nghị góp phần bảo bảo vệ và xây dựng du lịch Huế ngày đàng phát triển toàn diện hơn

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA

DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI – NHÂN VĂN 1.1 Cơ sở lí luận về du lịch bền vững

1.1.1 Khái niệm du lịch bền vững

Theo World Conservation Union (1996): Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác dụng thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương

Theo điều 4 luật du lịch Việt Nam (2017): Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai

1.1.2 Mô hình phát triển du lịch bền vững

Trụ cột kinh tế: Du lịch bền vững cần bảo đảm lợi ích về kinh tế thiết thực và lâu dài Đảm bảo phân bổ lợi ích kinh tế một cách đồng đều bao gồm cả các dịch vụ xã hội đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo

Trụ cột xã hội và văn hoá: Cần tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hoá của các cộng đồng địa phương Bảo tồn di sản văn hoá và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hoá

Trụ cột môi trường: Du lịch bền vững cần sử dụng một cách tối ưu nhất tài nguyên môi trường, yếu tố quan trọng nhất để phát triển du lịch, duy trì các quá trình sinh thái cần thiết và giúp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên

1.2 Tác động của du lịch lên hệ xã hội – nhân văn

1.2.1 Tác động tích cực

- Góp phần bảo tồn di tích, di sản lịch sử - văn hóa: Du lịch tạo ra các khả năng hỗ trợ việc bảo tồn các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị tàn lụi, đặc biệt là các di tích những đất nước nghèo không có đủ tiềm lực kinh tế để trùng tu và bảo vệ Du lịch góp phần đắc lực bảo tồn các di sản kiến trúc, nghệ thuật, văn hoá, đồ thủ công, lễ hội, trang phục, lối sống truyền thống Không những vậy, du lịch đã đóng góp kinh phí trực tiếp hay gián tiếp (thông qua ngân sách) cho việc phát triển các bảo tàng, nhà hát, các hoạt động truyền thống và văn hoá ẩm thực

- Góp phần khôi phục niềm tự tin và tự hào dân tộc, bảo vệ tính đa dạng của văn hoá, tạo sự tôn trọng các đặc trưng văn hoá của dân tộc mình

- Xác định lại vai trò nhằm tạo ra những cơ hội mới cho phụ nữ và thanh niên: du lịch phát triển cần một nguồn nhân lực không nhỏ, khi đó những người phụ nữ tại các bản

Trang 5

không chỉ có làm việc nhà, nương rãy mà giờ đây họ còn chung tay phục vụ cho hoạt động du lịch, tiếp đón khách du lịch

- Đầu tư mới/mở rộng các dịch vụ công cộng và tiện nghi: Nhiều tiện ích được mở ra nhằm đảm bảo nhu cầu của khách du lịch khi tới điểm đến Điều này giúp thu hút nhiều khách du lịch nhằm ổn định nền kinh tế, qua đó gia tăng sử dụng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa

- Ổn định nền kinh tế, qua đó gia tăng sử dụng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên văn hoá: Du lịch tạo thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, nguồn thu ngoại tệ… Điều đó giúp cho việc nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, phát triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng quốc gia Du lịch tạo ra chất xúc tác để phát triển mở rộng khu vực , gia tăng sử dụng trong quá trình xây dựng, dịch vụ, cung cấp thực phẩm, văn hoá nghệ thuật, nghề thủ công sản xuất đồ lưu niệm… Đồng thời đóng góp ngân sách không nhỏ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

- Nâng cao chất lượng giáo dục: du lịch tác động lớn đến việc đưa kiến thức lịch sử cho giới trẻ từ những điểm tham quan du lịch, hay những điểm học ngoại khóa ngắn

- Khuyến khích sử dụng ngôn ngữ bản địa: Khi du lịch phát triển, người dân địa phương thường có xu hướng học nói ngôn ngữ quốc tế để phục vụ khách du lịch dẫn đến tình trạng ngôn ngữ của dân tộc mình bị lãng quên Nên hãy cố gắng sử dụng ngôn ngữ của địa phương để bảo tồn thứ tiếng vô cùng thiêng liêng của mỗi dân tộc

- Đa dạng hóa sinh kế: Du lịch phát triển tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm cho người dân, có thể lựa chọn những công việc phù hợp, tạo ra thu nhập

- Trao đổi giao lưu văn hoá, ngôn ngữ, sức khoẻ, vùng miền, hành vi đạo đức: Góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của cả hai phía cũng như hiểu biết và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác Đồng thời giữa khách du lịch và người dân địa phương cũng sẽ học hỏi được nhau nhiều điều về ngôn ngữ, cách ứng xử và các hành vi đạo đức Và khi có khách du lịch thì trang thiết bị về đầu tư cơ sở vật chất, trang bị về y tế được nâng cao giúp sức khoẻ của người dân địa phương được cải thiện đáng kể

- Ngoài nghỉ ngơi thư giãn, du khách có cơ hội được gặp gỡ và hiểu hơn về những nền văn hoá khác: Khi đến bất cứ một địa điểm tham quan nào, mỗi du khách không chỉ là đến để nghỉ ngơi mà đó là đến để biết, đến để trải nghiệm và đến để hiểu nhiều hơn về những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc

- Các địa phương khi phát triển các khu du lịch, họ sẽ tiếp cận được văn minh, sẽ hiểu biết và phát triển hơn bao giờ hết Đồng thời những người phụ nữ sẽ trở nên độc lập hơn và vai trò của mỗi cá nhân sẽ được quan tâm và chú ý nhiều hơn

1.2.2 Tác động tiêu cực

- Xã hội thay đổi mất sự cân bằng: sự mất cân bằng xảy ra khi các hoạt động du lịch chỉ tập trung vào một hoặc một vài vùng khu riêng biệt dẫn đến sự phát triển không đồng đều của cư dân trong các vùng chậm phát triển khác Sự bùng phát giá đất đai,

Trang 6

hàng hoá, dịch vụ trong khu du lịch có thể làm mất giá trị của đồng tiền, gây sức ép tài chính lên cư dân trong vùng Cư dân bản địa ở nhiều trung tâm du lịch có thể biến thành thứ lao động rẻ mạt, tạm bợ theo mùa, gây mất sự cân bằng trong xã hội

- Mất ngôn ngữ: điều này xảy ra tại 1 số địa phương khi người địa phương thường có

xu hướng thay đổi ngôn ngữ của mình khiến cái đặc trưng vốn có dần bị mai một do sự gia nhập của các ngôn ngữ khác, cũng như chính sự chuộng ngôn ngữ khác của người dân

- Vấn đề đạo đức: Nhiều cơ sở kinh doanh trái phép, các loại hình dịch vụ không lành mạnh mở ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền làm xấu hình ảnh du lịch đẹp của nước ta Nhiều cá nhân trục lợi bất chính gây nên hình ảnh xấu về con người tại địa phương

- Vấn đề sức khỏe: do du khách ở khắp mọi nơi đến khu du lịch nhiều khi cũng mang lại các nguồn cơn dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến vấn đề sức khỏe của người dân Và môi trường dần bị ô nhiễm điều này ảnh hưởng vô cùng xấu tới sức khoẻ và đặc biệt là sức khoẻ của người dân địa phương

- Công việc làm con người mất tính lương thiện: đó là một tình trạng xấu đang diễn ra hiện nay Những vấn đề xảy ra như lừa đảo du khách, bán đồ vật giả,… Lợi dụng lòng tốt của khách mà kiếm tiền bất chính

- Đánh mất truyền thống tôn giáo: nhiều văn hóa phái giáo khác gia nhập vào địa phương, người dân dần cuốn theo sự vụ lợi từ những giáo phái bất chính làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của địa phương

- Chia cắt văn hoá và hệ quả là làm giảm giá trị văn hoá, làm phá hỏng các giá trị văn hoá: người dân có xu hướng chuộng văn hoá ngoại lai dẫn đến làm mai một truyền thống văn hoá của dân tộc

- Đánh mất truyền thống tôn giáo: do sự du nhập của một số truyền thống tôn giáo nước ngoài xâm nhập cũng ảnh hưởng đến các truyền thống tôn giáo tại địa phương và ngày càng mất dần đi truyền thống vốn có của dân tộc mình

- Gây vấn đề với cộng đồng bởi sự khác biệt giữa lợi ích và chi phí: tại cùng một địa phương nhưng các doanh nghiệp du lịch tạo ra lợi ích và chi phí cho du khách khác nhau dẫn đến hiện tượng chèo kéo khách, tranh giành khách hàng

- Sự lan truyền của các đại dịch: thông qua đường du lịch giữa các nước cũng như sự tiếp xúc của nhiều cá thể với nhau đã khiến đại dịch trở nên bùng phát và khó kiểm soát Đặc biệt khó khăn nhất hiện nay chính là dịch covid- 19 lây lan trực tiếp qua đường hô hấp Tạo ra không ít hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế cũng như khiến cho ngành du lịch gặp rất nhiều bất lợi Nhiều biện pháp ngăn ngừa được đặt ra, nhưng việc lây lan lại là điều không thể ngăn chặn hoàn toàn

- Sự quá tải của dịch vụ và vật chất: Khi khách du lịch quá đông dẫn đến sự quá tải của dịch vụ du lịch và vật chất dân cư địa phương sẽ bị tranh giành về tiện nghi giao thông,

Trang 7

nhà hàng, chợ búa Sự quá tải dẫn đến những nguy hại liên quan đến vấn đề môi trường và an sinh xã hội

- Sự tăng lên về tỉ lệ bạo lực và tội phạm: tỉ lệ tội phạm tại các khu du lịch tăng lên nguyên nhân chính là chưa được sự giáo dục tốt dẫn đến những hành vi hám lợi trước mắt mà dẫn đến các hành động trộm cắp, cờ bạc, ma tuý,…

- Các hành động vi phạm của người dân địa phương : Do nhu cầu tăng cao của khách

du lịch, họ có xu hướng mua các sản phẩm nghệ thuật và thủ công làm vật lưu niệm Nên người dân địa phương có xu hướng làm giảm chất lượng của các sản phẩm, bỏ bớt các khâu hoặc các nguyên liệu dẫn đến sự suy giảm về chất lượng của sản phẩm

Trang 8

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN HỆ XÃ HỘI - NHÂN VĂN TẠI

HUẾ 2.1 Giới thiệu khái quát về Huế

2.1.1 Lý do chọn Huế

Huế là một trong những vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và di sản văn hoá Ðến nay, không còn một vùng nào có một số lượng lớn các di tích mà những di tích này vẫn giữ được hình dạng vốn có của nó như ở cố đô này

Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, toạ lạc ở phía Bắc sông Hương, mặt quay về hướng Nam Kinh thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương tây

Di tích cung đình còn nguyên vẹn nhất ở Việt Nam, nếu bạn từng đến cố đô Hoa Lư (Nình Bình), Cổ Loa, Thăng Long (Hà Nội), những nơi từng là kinh đô của nước Việt Nam, giờ đã trở thành phế tích, sẽ thấy quần thể di tích cố đô Huế vẫn còn được bảo tồn một cách nguyên vẹn nhất Với cung điện, thành trì, đàn miếu, lăng tẩm, chùa chiền và nhiều nhà vườn có tuổi đời vài trăm năm cố đô Huế mang trong mình vẻ đẹp thanh bình, yên tĩnh Du khách đến Huế sẽ được chiêm ngưỡng những kiệt tác nghệ thuật của cung điện vàng son, đền đài lăng miếu lộng lẫy, lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam thắng cảnh trầm mặc Bên cạnh đó, Huế cũng không kém phần nhộn nhịp đông đúc, là nét hấp dẫn khi muốn tìm một chốn thanh tịnh nhưng không quá u buồn

Ở bờ phía Bắc của sông Hương là một di tích gồm những lâu đài được xây dựng theo kiểu phòng thủ tạo thành một đường vòng cung dài 11km Công trình quí giá này gồm hơn 100 tác phẩm kiến trúc, đã thực sự phản ánh được cuộc sống của vua quan nhà Nguyễn Giữa những quả đồi ở bờ Nam sông Hương là những lăng tẩm rất đẹp của các vua Nguyễn

Chọn Huế là một trong những vẻ đẹp thiên nhiên, du lịch nơi đây thật hào hùng và mãnh liệt bền vững, bởi các di tích lịch sử văn hóa, bởi những phong cảnh hữu tình nơi đây đã mang lại cho du khách những cảm nhận đặc biệt mà khó tả, khó quên

2.1.2 Đặc điểm hệ xã hội – nhân văn của Huế

a Về khái niệm: Tài nguyên du lịch nhân văn - xã hội nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục

vụ cho nhu cầu du lịch

Huế là vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử, văn hoá đặc sắc và tính du lịch xã hội nhân văn, có nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và hàng trăm lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, văn hoá Huế, Thừa Thiên Huế thực sự là nơi hội tụ các tiềm năng,

Trang 9

thế mạnh để trở thành thành phố Festival, trung tâm văn hóa đặc sắc của cả nước và của châu Á trong tương lai không xa

b Đặc điểm:

- Các di tích lịch sử - văn hóa:

Tính đến năm 2013, Thừa Thiên Huế có 140 Di tích lịch sử Văn hóa được xếp hạng các cấp, nổi bật là Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới Thành phố Huế có mật độ di tích dày đặc và giá trị nhất

+ Di tích khảo cổ: nhiều di tích khảo cổ có giá trị khoa học thuộc nền văn hóa Chămpa và Quần thể di tích Cố đô Huế vẫn còn tồn tại ở Huế : Đàn Xã Tắc, các nền móng đền, tháp Chăm Pa,

+ Di tích lịch sử: Tính đến năm 2013 có 89 di tích lịch sử được xếp hạng, trong đó có

42 di tích xếp hạng cấp quốc gia

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật (DTKTNT) ở Huế có giá trị đặc sắc, bao gồm cung điện, thành quách, lăng tẩm, làng cổ, đình, chùa, miếu, được xếp hạng cao, trong đó

có 17 di tích kiến trúc nghệ thuật được công nhận di sản văn hóa thế giới

- Danh lam thắng cảnh: Huế có nhiều cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, hài hòa với các công trình văn hóa tạo nên những danh thắng nổi tiếng

- Các lễ hội: Huế có 93 lễ hội tiêu biểu được tổ chức theo định kỳ Ngoài các lễ hội dân gian truyền thống, TTH còn có các lễ hội cung đình tạo sức thu hút đặc biệt đối với du khách Bên cạnh đó, TTH còn tổ chức nhiều lễ hội hiện đại, hấp dẫn như: Festival Huế, Festival nghề truyền thống,

- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:

+ Nhạc Huế phong phú về thể loại, hấp dẫn về nội dung Nhã Nhạc Cung đình Huế

đã được UNESCO công nhận là DSVH phi vật thể của nhân loại Ca Huế đã được công nhận là DSVH phi vật thể quốc gia

+ Ẩm thực Huế dù phong cách sang trọng, cung đình hay giản dị, dân dã cũng đều có màu sắc, hương vị rất hấp dẫn Vì vậy, ẩm thực Huế là nguồn TNDL hấp dẫn, là một phần trong chương trình du lịch đến Huế

+ Phong cách Huế: nếp sống người Huế gắn bó với khung cảnh thiên nhiên hài hòa, hữu tình; tạo nên tâm hồn đa cảm, nét tính cách nhuần nhị và sâu lắng Sự dịu dàng, e

ấp, kín đáo, rụt rè của người con gái Huế đã góp phần làm tăng thêm vẻ thơ mộng của Huế

+ Các đối tượng du lịch khác: Phía Tây tỉnh Thừa thiên Huế là địa bàn cư trú của các dân tộc Tà Ôi, Cơ Tu, Vân Kiều, Các cộng đồng này có những sắc thái dân tộc độc đáo trong sản xuất, sinh hoạt và phong tục tập quán Những giá trị này tạo nên sức hấp dẫn lớn cho du khách, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch địa phương

Trang 10

- Làng nghề truyền thống: Ở Huế, nhiều làng nghề và nghề thủ công truyền thống lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại như đúc đồng, tranh làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên, Các LN này là nguồn TNDL quý giá có khả năng phát triển các sản phẩm như du lịch

LN, các loại hàng hóa lưu niệm,…

- Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác:

Các bảo tàng, công trình văn hóa đặc sắc, các sự kiện kinh tế, văn hóa,thể thao, là nguồn tài nguyên có giá trị đối với hoạt động du lịch của tỉnh

Dựa vào ý kiến chuyên gia, tiêu chí độ hấp dẫn có vai trò tiên quyết đến khả năng và định hướng khai thác tài nguyên du lịch xã hội nhân văn Vì vậy, độ hấp dẫn của tất cả các tài nguyên được đánh giá trước để sơ loại những tài nguyên có độ hấp dẫn dưới trung bình Qua đánh giá độ hấp dẫn của 172 các tài nguyên , đề tài chọn 76 điểm tài nguyên du lịch xã hội nhân văn đưa vào đánh giá phân hạng khả năng khai thác gồm

44 di tích lịch sử văn hóa,4 lễ hội, 3 đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, 15 đối tượng văn hóa khác Kết quả phân hạng của 76 điểm tài nguyên du lịch xã hội nhân văn ở tỉnh TTH bao gồm 4 cấp Điểm đánh giá cao nhất là 5,0 (Chùa Thiên Mụ và Điện Long An) và điểm thấp nhất là 1,8 (Địa điểm chiến thắng đồn Khe Tre)

2.2 Tác động của du lịch đến hệ xã hội – nhân văn của Huế

2.2.1 Tác động tích cực

a Kinh tế

Năm 2019 đạt 4,817 triệu lượt tăng 11,18% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 2,186 triệu lượt, tăng 12,06% so với cùng kỳ; khách lưu trú đạt 2,247 triệu lượt, tăng 7,30%, doanh thu từ cơ sở lưu trú năm 2019 đạt 4.945 tỷ đồng, tăng 10,54% so với năm 2018; tổng thu từ du lịch đạt 11.300 tỷ đồng Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh được nhà nước chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, không ngừng phát triển

và đóng góp rất lớn vào nền kinh tế đất nước

Việc tổ chức thành công các kỳ Festival ở Huế đã thu hút hàng triệu du khách lượt khách đến tham dự thu hút nhiều nhà tài trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Ngành du lịch phát triển mang lại thị trường tiêu thụ văn hóa rộng lớn, thúc đẩy tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân.Ngoài ra còn tạo cơ hội việc làm lớn cho những người người lao động, người dân địa phương

b Văn hóa – xã hội

Khi di sản chính thức được khai thác du lịch, hàng trăm công trình di tích lớn nhỏ đã được trùng tu, tôn tạo, tiêu biểu như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, Duyệt Thị Đường, Phu Văn Lâu, Nghinh Lương Đình và nhiều công trình tại các lăng tẩm của các vua, như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,

Ngày đăng: 08/12/2021, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w