1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG hợp tất cả các bài THẢO LUẬN dân sự 1

135 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Hợp Các Bài Thảo Luận Dân Sự 1
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại tài liệu thảo luận
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 183,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG HỢP CÁC BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ 2: GIAO DỊCH DÂN SỰBUỔI THẢO LUẬN THỨ 3:TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢNBUỔI THẢO LUẬN THỨ 4:BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮUBUỔI THẢO LUẬN THỨ 5: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾBUỔI THẢO LUẬN THỨ 6: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚCBUỔI THẢO LUẬN THỨ 7: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬTBÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤTBÀI TẬP THÁNG THỨ 2BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ DÂN SỰ,

TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

TỔNG HỢP CÁC BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 3:TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN BUỔI THẢO LUẬN THỨ 4:BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 6: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 7: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT

BÀI TẬP THÁNG THỨ 2

Trang 2

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI:

GIAO DỊCH DÂN SỰ

Phần 1: Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch

1 So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

• Những điểm mới

Điều 122 BLDS 2005

Điểm a ghi “người tham gia giao dịch”.

Chỉ đề cập về năng lực hành vi của người tham gia

Trang 3

Sự tự nguyện của người tham gia được đề cập ở Điểm c sau điều kiện không vi phạm điều cấm.

• Suy nghĩ

• Việc thay đổi từ “người tham gia giao dịch” ở BLDS 2005 sang “chủ thể”

BLDS 2015 là hoàn toàn phù hợp, không làm thay đổi đi nội dung, mà ngắn

gọn, dễ hiểu hơn, vì trong giao dịch dân sự người tham gia chính là các chủ

thể

Việc thêm điều kiện các “năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được

xác nhận” rất đúng, bởi các giao dịch dân sự được xác lập không phải cái nào

cũng có nội dung và mục đích giống nhau, nên các giao dịch khác nhau thì cần

năng lực khác nhau

• Thay đổi vị trí của sự tự nguyện lên trước điều kiện không vi phạm điều cấm

thấy được sự quan trọng của sự tự nguyện trong các giao dịch dân sự

2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà

ở tại Việt Nam?

Trong phần nhận định của Tòa án đã nhận định:

“Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch

Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì

người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thõa mãn

các điều kiện sau: “ Người Việt Nam định cử ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt

Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu

cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước,

người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường

vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở

nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép

từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà

H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt

Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất

thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm

của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ

luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục

lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”

3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị

Tòa án tuyên bố vô hiệu?

Vô hiệu giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004 và

giấy cam kết ngày 16/3/2011

Trang 4

4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)

về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

Thứ nhất, giấy cho nền thổ cư 31/04/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 đượclập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ không tuân thủ theo quy định của pháp luật, cụ thể

là tại điều 127 Luật đất đai năm 2003 và Điều 117 của BLDS nên hợp đồng đó không cóhiệu lực Thứ hai, ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ.Luật đất đai 2003 có quy định: Người nước ngoài không có quyền sở hữu về nhà ở nênkhông được mua bán nhà ở tại VN, trừ trường hợp quy định tại điều 125 Luật Nhà ở 2014Cho nên giao dịch trên bị Tòa án tuyên bố vô hiệu

Phần 2: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức

1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm một chỗ và không còn khả năng nhận thức

Ngày 10/8/2010 Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa tuyên bố ông Hội mất năng lựchành vi dân sự

2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Tuy ông Hội bị tai biến nằm liệt, không thể nhận thức được từ năm 2007 nhưng đến ngày10/8/2010 ông Hội mới chính thức bị Tòa án nhân dân Tuy Hòa tuyên bố mất năng lựchành vi dân sự Trong khi đó giao dịch lại được thực hiện vào ngày 8/2/2010 trước thờiđiểm đó 6 tháng

3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Theo toà án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu Vì từ năm 2007,ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ, không nhân thức được, mất năng lực hành vi dân

sự Cơ sở pháp lý: Điều 130 BLDS 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu”.

4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.

Trang 5

Trong thực tiễn xét xử, Quyết định số 102/2015/DS-GĐT ngày 10/4/2015 tương tự vớihoàn cảnh của ông Hội Tóm lược bản án như sau: Ngày 16/01/1993, ông Diện viết “Giấynhượng tài sản” để chuyển nhượng cho ông Sơn ba gian nhà tranh Ông Diện bị Tòa ántuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự vào ngày 15/12/2009 Bệnh viện tâm thần HàNội chứng nhận ông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt đã điều trị được 07 lần từ ngày4/3/1983 đến ngày 24/10/2003 Ông Diện xác lập giao dịch dân sự ở thời điểm chưa bịtuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, nhưng đã mắc bệnh tâm thần phân liệt Chính vìthế, Tòa Giám đốc thẩm đã theo hướng “có cơ chế xác định tại thời điểm lập giấy chuyểnnhượng tài sản ông Diện đã mất năng lực hành vi dân sự Lẽ ra, trong quá trình giải quyết

vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải làm rõ có hay không sự gian dốikhi hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tại thời điểm ký kết hợpđồng ông Diện đã bị tâm thần thì việc chuyển nhượng có hợp pháp không và có bị ápdụng về thời hiệu khởi kiện không?”

5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.

Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là thuyết phục

Tòa án công nhận quyền khởi kiện của chị Ánh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sửdụng đất giữa ông Hội, bà Hương và hai vợ chồng ông Hùng, bà Trinh, vì ông Hội đã bịtuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự từ ngày 07/5/2010, do đó chị Ánh là người được

cử làm người đại diện cho ông Hội và là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Hội,theo Điều 30 BLDS 2005

Phần diện tích đất 43,7m2 chưa được làm rõ

Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ ra được những thiếu sót của bản án sơ thẩm và phúc thẩm

Do đó, hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 35/2012/DSPT ngày 01/7/2012 của Tòa

án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số 98/2011/DSST ngày 22/12/2011của Tòa án nhân dân Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

ở gắn liền với quyền sử dụng đất” Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố TuyHòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có

bị vô hiệu không? Vì sao?

Theo Khoản 2, Điều 141 BLDS 2015, người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập,thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp có quyđịnh khác, cho nên, chị Ánh đồng ý xác lập giao dịch thì giao dịch đó vẫn có hiệu lực

Phần 3: Giao dịch xác lập do có lừa dối

Trang 6

1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015.

• Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịchdân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không tráiđạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợppháp luật có quy định

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy địnhtại Điều 122 của Bộ luật này

• Điều 127 BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằmlàm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giaodịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?

“Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân – họ hàngcủa anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bênthỏa thuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết địnhtháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà;còn thừa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định số135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoánnhượng” không có chữ ký của ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán cănnhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giaodịch “Thỏa thuận hoán nhượng” giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều

Trang 7

1 Tiền lệ (án lệ) là những lập luận phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực củaTòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao lựa chọn

và được Chánh án tòa án nhân dân tối cao công bố là một án lệ để các Tòa án nghiên cứu,

rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án.”

Tuy nhiên, bản án trên ta không hề thấy việc viện dẫn một tiền lệ nào trước đó có hướnggiải quyết tương tự để nghiên cứu, áp dụng mà chỉ căn cứ vào BLDS 2005 để giải quyết

Vì vậy, ta có thể nói hướng giải quyết trên là hướng giải quyết hoàn toàn mới, chưa từng

có tiền lệ tại Việt Nam

4 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

Theo điều 127 BLDS năm 2015, “ Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của mộtbên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất củađối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Vì vậy, hướng giải quyểt trên là phù hợp vì việc anh Vinh và những người không liênquan không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏathuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo

dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; cònthừa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định số135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối Ngoài ra bản “ Thỏa thuận chuyểnnhượng” không có chữ ký của ông Đô, do vậy giao dịch giữa anh Vinh và bà Thu vôhiệu

5 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?

Theo Quyết định số 210, theo Tòa án, người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng

có tranh chấp vô hiệu là ông Võ Minh Tài (hợp đồng bị vô hiệu do lừa dối) và bà ChâuThị Nhất (Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình, và Điểm b, Khoản 1, Điều 122 và Điều

127 BLDS)

Theo Quyết định số 210, theo Tòa án, người không có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bốhợp đồng tranh chấp vô hiệu là bà Châu Thị Nhất (vì lý do lừa dối bởi theo quy định củaBLDS 1995 và 2005 bà Nhất không phải một bên tham gia giao dịch nên không có quyềnkhởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối)

Trang 8

6 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?

Trong quyết định số 210, theo tòa án thì thời hiệu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dốikhông còn Vì theo Khoản 1, Điều 142 BLDS 2005, quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầutuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là 1 năm.Khoản 1 điều 136 BLDS 2005 quy định thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyểnnhượng vô hiệu 2 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập (Thỏa thuận hoán nhượng làngày 19/5/2004 nhưng đến năm 2010 thì mới khởi kiện)

7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?

Nếu hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì tòa án buộcphải công nhận hợp đồng

Theo khoản 1 điều 132 bộ luật dân sự 2015, “ thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu quy định tại Điều 125, 126, 127,128 và bộ luật này là 2 năm, kể từ ngày:Người bị nhầm lẫn, lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do nhầm lẫn, do bịlừa dối

Thêm vào đó, theo Khoản 2, Điều 132 BLDS 2015, “Hết thời hiệu quy định ở Khoản 1Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch có hiệulực

8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?

Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS

2015 vào các tình tiết như trong quyết định số 210 Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 132BLDS 2015, quy định thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu là 2 năm kể từkhi người bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừadối Vào lúc giao dịch thì ông Tài biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký cho đến lúc khởi kiệnchưa quá 2 năm vẫn có thể kiện được

Phần 4: Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

1 Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Điều 131, BLDS 2015, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phátsinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịchđược xác lập

Trang 9

2 Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ

có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?

Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải thanhtoán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công tyOrange đã thực hiện

Khoản 2, Điều 131 BLDS 2015 quy định:

“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả chonhau những gì đã nhận

Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”

Như vậy, khi Hợp đồng dịch vụ được xác định là vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải hoàntrả lại cho Công ty Orange dịch vụ mà Công ty Phú Mỹ đã nhận mà dịch vụ cung cấpkhông thể hoàn trả được bằng hiện vật nên Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công tyOrange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện

3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?

Hội đồng thẩm phán đã giải quyết vụ việc về khối lượng công việc mà Công ty Orange

đã thực hiện như sau:

• Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của Orange Engineering Co.LTD

• Chấm dứt hợp đồng dịch vụ giữa Orange Engineering Co.LTD và Công ty cổ phần phát triển Phú Mỹ ngày 15/6/2007

• Buộc Công ty cổ phần phát triển Phú Mỹ thanh toán số tiền 3.720.448.347 đồng cho Orange Engineering Co.LTD

• Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Orange Engineering, nếu Công ty Phú

Mỹ không thanh toán số tiền nêu trên, thì ngoài phải thi hành án, Công ty Phú Mỹ còn phải chịu thêm tiền lãi suất theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định

• Về án phí:

• Công ty cổ phần phát triển Phú Mỹ phải nộp 106.408.966 đồng

• Orange Engineering Co.LTD phải nộp 18.348.611 đồng

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu.

Nếu Tòa đã xác định hợp đồng vô hiệu thì hướng giải quyết trên không hợp lý Do cácbên đương sự cần cung cấp tài liệu và chứng cứ khác để làm rõ vấn đề Trường hợp hợpđồng bị vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ chỉ nên thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị

Trang 10

tương ứng với khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tạihợp đồng.

5 Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công

ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?

• Khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu thì phải buộc công ty Phú Mỹ phảithanh toán cho công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc màcông ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất dochậm thanh toán theo quy định của pháp luật

• So với hợp đồng vô hiệu thì công ty Phú Mỹ phải thanh toán thêm tiền lãi suất

• Suy nghĩ về chủ đề trên: Theo bản án trên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúcthẩm chưa làm rõ các vấn đề và chưa thu thập đủ tài liệu về tính hợp pháp của hợpđồng mà đã ra quyết định là không đúng Từ vấn đề trên cho thấy, khi xét giảiquyết các vụ án, Tòa án phải yêu cầu đương sự cung cấp đầy đủ các tài liệu vàchứng để chứng minh cũng như sử dụng các biện pháp để làm rõ các vấn đề về vụ

7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên.

Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong quyết định trên là hoàntoàn đúng Vì xét thấy hợp đồng vô hiệu là do lỗi của vợ chồng anh Dư, chị Chúc khôngchịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức của hợp đồng chứ không phải do lỗicủa ông Sanh Do đó anh Dư, chị Chúc sẽ phải chịu bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ôngSanh tương đương phần giá trị hợp đồng đã thanh toán Tòa án cấp phúc thẩm xác địnhhợp đồng vô hiệu là có căn cứ nhưng xác định lỗi do hợp đồng vô hiệu cả hai bên để từ

đó buộc ông Sanh phải chịu 50% thiệt hại là không đúng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến

Trang 11

quyền lợi của ông Sanh Căn cứ vào Khoản 2, Điều 291, Khoản 3, Điều 297 và Điều 199của Bộ luật tố tụng dân sự.

8 Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại là 160.000.000 đồng Vì hợp đồng giữa hai bênđược xác định là vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, bên có lỗi là vợ chồnganh Dư do không thực hiện thủ tục về hình thức hợp đồng, ông Sanh không có lỗi nênđược bồi thường thiệt hại từ vợ chồng anh Dư Căn cứ theo biên bản định giá tài sản, giátrị diện tích đất chuyển nhượng là 1.000.000.000đ, giá chuyển nhượng hai bên thỏa thuận

là 195.000.000 đ, ông Sanh thanh toán được 160.000.000đ

Cơ sở pháp lý: Theo khoản 2, Điều 131 BLDS 2015 quy định:

“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho

nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”

9 Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận cấp cho anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là

hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao?

Quyết định của Tòa án là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu Theo Khoản 2, Điều 131của BLDS 2015, thì khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng banđầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Do đó, ông Văn và bà Tằm có quyền liên hệ với

cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

I KHÁI NIỆM TÀI SẢN

Tóm tắt Quyết định số 06/2017/QĐ-PT

Chủ thể:

• Nguyên đơn: Ông Phan Hải

• Bị đơn: Ông Phan Quốc Thái

Tranh chấp: Trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 12

Lý do: Ông Hai yêu cầu ông Thái trả lại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” Tòa

án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtkhông phải là tài sản, không thể xem là giấy tờ có giá nên không thuộc thẩm quyền giảiquyết vụ án, ông Hai kháng cáo

Tòa án: không chấp nhận kháng cáo Không được đòi

Tóm tắt bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Chủ thể: Nguyên đơn gồm Ông Võ Văn B (1954), vợ ông B là bà Bùi Thị H (1954),

và bị đơn là bà Nguyễn Thị Thủy T (1979)

Tranh chấp: Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất số AM 090902 thửa đất 1595 diệntích 489,1m2

Lý do: Bà T chiếm hữu giấy chứng nhận quyền sở hữu đất số hiệu AM 090902 thửađất 1595 diện tích 489,1m2 của ông B và bà H vì con trai của hai người vay tiền bà vàdùng giấy tờ đất này để cầm cố

Tòa án: Buộc bà T giao trả cho ông B và bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số

AM 090902 Lý do được đòi “lẽ công bằng”

Tóm tắt quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10/04/2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Chủ thể: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H, bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim L và nhữngngười có quyền lợi liên quan

Tranh chấp: Chia tài sản chung về việc mua hóa giá nhà

Lý do có tranh chấp: Bà L có đơn xin mua hóa giá căn nhà theo nghị định số 61/CPngày 05-07-1994 cuả chính phủ thì bà H và ông T1 khiếu nại không cho bà L mua nhàtheo chế độ của cụ T

Tòa án: Vì quyết định về việc chia tài sản chung về việc mua hóa giá nhà trong 2 bản

án sơ thẩm và phúc thẩm là chưa hợp lý, Tòa án quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm

số 186/2014/DS-ST ngày 06/3/2014 của tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh và bản án dân

sự phúc thẩm 125/2015/DS-PT ngày 21/8/2015 của tòa án nhân dân tối cao tại thành phố

Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơthẩm theo đúng quy định của pháp luật

Tóm tắt bản án số 22/2017/HC-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Chủ thể: ông Nguyễn Việt Cường (nguyên đơn) BĐ: Chi cục trưởng Chi cục thuếthành phố Bến Tre, Cục trưởng cục thuế tỉnh Bến Tre

Tranh chấp: Quyết định truy thu thuế đối với việc buôn bán tiền kỹ thuật số

Lý do: Ông Cường là người mua bán tiền kĩ thuật số (tiền ảo) Chi cục thuế cho rằngtiền ảo là một loại hàng hoá nên buộc ông Cường phải đóng thuế theo quy định của phápluật Ông Cường không chấp nhận quyết định của Chi cục thuế nên đưa đơn khởi kiện.Toà án: Tiền ảo chưa là hàng hóa hợp pháp, tiền ảo không là “phương tiện thanh toán”, luật cấm đem tiền ảo vào giao dịch

Trang 13

1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa

về giấy tờ có giá.

Pháp luật Việt Nam xem giấy tờ có giá là dạng đặc biệt của tài sản Bộ Luật Dân sự

2015 và các bộ luật trước đây chưa có quy định cụ thể.

Giấy tờ có giá là giấy chứng nhận một quyền tài sản, có giá trị trao đổi, thực hiện việcthanh toán trực tiếp hoặc có thể xuất trình để thực hiện quyền tài sản ghi nhận trên đó

Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 “Giấy tờ có giá là

bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sởhữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.”

Ví dụ về một số loại giấy tờ có giá: Cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu đòi nợ, séc, chứngchỉ tiền gửi, chứng chỉ quỹ

2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số

39 có cho câu trả lời không?

Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữunhà” không phải là giấy tờ có giá

Căn cứ theo Khoản 16 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013: "Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý đểNhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đấthợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sảnkhác gắn liền với đất"

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 105 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền,giấy tờ có giá và quyền tài sản” Tuy nhiên chưa quy định cụ thể giấy tờ có giá là gì haygiấy tờ có giá gồm những loại giấy tờ nào

Khoản 8, Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: “Giấy

tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giávới người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điềukiện khác”

Căn cứ theo văn bản hướng dẫn xét xử số 141/TANDTC-KHXX của Tòa án nhân dântối cao, giấy tờ có giá cũng giải thích các loại giấy như: Giấy chứng nhận quyền sở hữutài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấyđăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ôtô ) không phải là "giấy tờ có giá"

Quyết định số 06 và bản án số 39 đều không xem “giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là giấy tờ có giá mà là chứng thư pháp lý để Nhà nướcxác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp phápcủa người có quyền sử dụng đất

Các điều kiện đó là giấy tờ có giá

Do tổ chức nhất định phát hành

Có nghĩa vụ trả nợ

Trang 14

3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?

Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữunhà” không là tài sản Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời Căn cứ khoản

16, Điều 3 của Luật đất đai năm 2013: ‘Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sởhữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người

có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin vềquyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem làloại giấy tờ có giá

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn

từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài);

Căn cứ theo Điều 105 và Điều 115 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án đã khẳngđịnh: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền

sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy

tờ có giá”

Nhìn từ khái niệm tài sản thì hướng giải quyết trên là chưa hợp lý Theo khoản 1,Điều 105 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyềntài sản” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá nhưng lại cóthể xem vật Vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là

Vật là gì? một bộ phận của thế giới vật chất, con người có thể cảm nhận được bằnggiác quan (nhìn, sờ được); con người có thể chiếm hữu được; có giá trị sử dụng (xét trongmối quan hệ GDDS) (Nếu ở trong cái mqh mua bán ve chai thì tờ giấy này là vật, còntrong mqh cầm cố thì tờ giấy này không là vật)

5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

Điều 105 BLDS 2015 có quy định:

1 Tài sản là vật tiền giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và tài sản có thể là tàisản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Vì vậy giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà khôngphải tài sản mà chỉ là một loại giấy tờ dùng để giao dịch

Giấy chứng nhận là tài sản Vì: theo điều 105 BLDS 2015

Tiền: Phải do NH nhà nước ban hành

Tài sản là vật Vậy ta nên xem nó là vật để có thể đòi lại được

Trang 15

Không phải giấy tờ có giá

Không là quyền tài sản vì ta mất tờ giấy chứng nhận thì không mất quyền

6 Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”.

Hướng giải quyết của tòa án trong bản án số 39 liên quan đến giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà là rất hợp lý Tòa án đã giải quyết đúngtheo quyền hạn của tòa án và của luật pháp Khi mà không đủ điều kiện để chứng minhviệc ông B và bà H nợ tiền của bà T thì tòa án đã đứa ra quyết định giải quyết theo đúngquy định của pháp luật là yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trảtiền án phí dân sự sơ thẩm

7 Bitcoin là gì? Không phải là tiền ảo (tiền ảo là tiền ATM mà mình rút ra)

Bitcoin là một loại tiền kỹ thuật số, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạngphần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bịkết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào Nó cónhững đặc tính nổi bật như ẩn danh, giao dịch không cần lệ phí, có độ bảo mật cao

8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?

Theo Tòa án, Bitcoin không là tài sản theo pháp luật của Việt Nam Căn cứ theo Điều

105 BLDS 2015 quy định về tài sản:

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tàisản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công nhận tiên ảo là tiền tệ,phương tiện thanh toán hợp pháp Đồng thời, Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày17/10/2014, Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi pháthành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin, các loạitiền ảo tương tự Từ vào đó đến nay, vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điềuchỉnh về việc mua bán tiền ảo trên Internet

Bitcoin có là tài sản không?

Tiền: Không là tiền

Vật: không phải là vật

Quyền tài sản: cơ bản nó vẫn là quyền tài sản, nhưng không được đem đi giao dịch.Không phải GD nào về Bitcoin cũng cấm chỉ cấm khi nó trở thành phương tiện thanhtoán

9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có nêu hệ thống pháp luật mà anh/ chị biết.

Bitcoin ra đời vào năm 2009 và được dự đoán là một loại tiền tệ tiềm năng có khảnăng thay thế tiền pháp định Phần đông các quốc gia đã ủng hộ chấp nhận và lưu hànhBitcoin Trong khi đó, có một số nước khác không ủng hộ nhưng cũng không cấm và một

số ít cho rằng giao dịch Bitcoin là phạm pháp

Các quốc gia chấp nhận Bitcoin

1 Nhật Bản

Trang 16

Nhật Bản là nước đầu tiên hoàn toàn chấp nhận Bitcoin Từ ngày 1/4/2017, Bitcoinđược coi là tài sản và là một phương thức thanh toán hợp pháp, được quản lý bởi Cơ quanDịch vụ Tài Chính Nhật Bản (JFSA) Một số tổ chức lớn tại đây đã công nhận Bitcoinnhư một loại tiền tệ.

2 Liên minh Châu Âu

Vào tháng 10/2015, Toà án Tư pháp của Liên minh Châu Âu đã ra phán quyết nhưsau: “Việc trao đổi các loại tiền tệ truyền thống cho các đơn vị tiền tệ ảo như Bitcoinđược miễn thuế GTGT” Theo các thẩm phán, không tính thuế vì Bitcoin nên được coinhư một phương tiện thanh toán

3 Hoa Kỳ

Dù không được chính thức hợp pháp tại Hoa Kỳ, song CFTC đã phân loại tiền mãhóa như một loại hàng hóa Trong khi đó, Bộ Tài Chính Hoa Kỳ lại xem đây là mộtdoanh nghiệp dịch vụ tiền tệ (MSB) Chính phủ Hoa Kỳ đã cởi mở và tích cực hơn vềBitcoin so với nhiều quốc gia khác Dù không một nhà quản lý tài chính nào coi Bitcoinnhư một loại tiền tệ, đồng tiền mã hóa này vẫn được báo cáo trong các bản khai thuế.Mạng lưới Khống chế Tội phạm Tài chính của Mỹ (Financial Crimes EnforcementNetwork) đã và đang nghiên cứu về Bitcoin Hơn nữa, Bitcoin cũng đã có mặt trên thịtrường tài chính phái sinh của Hoa Kỳ

Ngoài ra, theo thông báo mới nhất từ cơ quan lập pháp, sau Florida, tiểu bangWyoming của Hoa Kỳ đã thông qua dự luật chính thức công nhận tiền mã hóa là tiền tệ.Năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại bitcoin như là một loại tiền ảo phi tậptrung có thể chuyển đổi.Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, CFTC, đã phân loạibitcoin là một loại hàng hóa vào tháng 9 năm 2015 Theo IRS, bitcoin bị đánh thuế nhưmột tài sản

Bitcoin đã được đề cập trong một ý kiến của Tòa án tối cao Hoa Kỳ (trên WisconsinCentral Ltd v Hoa Kỳ) về việc thay đổi định nghĩa về tiền vào ngày 21 tháng 6 năm2018

4 Canada

Theo Coindance, có thể thấy Bitcoin gần như hợp pháp ở khu vực Bắc Mỹ và Nam

Mỹ Trong đó, trừ Bolivia ở Nam Mỹ cấm hoàn toàn Bitcoin Và một vài khu vực ở Châu

Mỹ giữ thái độ trung lập Hiện người dân xứ Canada có thể dùng Bitcoin để thanh toánnhiều nhu yếu phẩm hằng ngày

10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam.

Quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở ViệtNam là hợp lý Căn cứ theo khoản 1, Điều 105: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá vàquyền tài sản” Vì thế, Bitcoin không thuộc vào các loại tài sản nêu trong Luật Pháp luậtViệt Nam chưa công nhận về tiền ảo và các giao dịch liên quan đến tiền ảo

11 Quyền tài sản là gì?

Trang 17

Điều 115 BLDS 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, baogồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và cácquyền tài sản khác.”

12 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?

Điều 115 BLDS 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá tính bằng tiền, gồm cóquyền tài sản đối với đối tượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tàisản khác Quyền tài sản gồm có: Quyền sử dụng tài sản thuê, quyền thực hiện hợp đồng,quyền đòi nợ, quyền trị giá bằng tiền, quyền sở hữu trí tuệ.”

Nó cũng là quyền tài sản tại theo điều 105 BLDS 2015

Quyền khác đối vs TS quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền bđs liền kề

Quyền TS khác là quyền thuê mua,

Quyền tài sản ở BLDS 2015 đã ko đề cập đến “có thể chuyển giao” vậy quyền tài sản gắnliền với nhân thân thì ko đc chuyển giao VD: quyền thừa kế là người thừa kế chỉ địnhngười nào là người đó mới đc hưởng ko chuyển giao cho người khác và nếu ko nhận thì

14 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)?

Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong trường hợp này là thỏa đáng Bởi

lẽ vụ án vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, chẳng hạn như chưa thẩm định giádiện tích đất tranh chấp; chưa tính toán sau khi trừ đi những chi phí bà L đã bỏ ra muanhà và công sức của bà L, phần còn lại chia cho nguyên đơn và bị đơn, có tính đến giá thịtrường để đảm bảo quyền lợi của các bên theo quy định của pháp luật; khi xác định tỷ lệphần giá trị để chia thì chưa trừ đi chi phí mua nhà và công sức của bà L; chưa làm rõ bà

L mua nhà được giảm theo chế độ nào, việc giảm trừ tiền mua nhà theo năm công tác và

tỷ lệ xét giảm cụ thể là như thế nào; chưa làm rõ bà L mua nhà theo chế độ ưu tiên của

cụ T hay chế độ con liệt sỹ của chính mình, Chính vì thế, Tòa án nhân dân tối cao hủybản án dân sự sơ thẩm số 186/2014/DS-ST của TAND TP Hồ Chí Minh và bản án dân sựphúc thẩm số 125/2015/DS-PT của TAND cấp cao TP Hồ Chí Minh là điều đúng đắn

II CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU

Trang 18

Tóm tắt quyết định số 111/2013/DS-GĐT của Tòa án nhân dân tối cao

Chủ thể: Nguyên đơn là cụ Dư Thị Hảo (1910-2007), bị đơn là chị Nhữ Thị Vân(1973)

Tranh chấp: Đòi lại nhà

Lý do: Tài sản này của cụ Hảo cho thuê (ông Khải) cụ Hảo bỏ đi và ủy quyền quản lý Không trả tiền thuê xem xem chị Vân có sở hữu nhà

không?

Tòa án: chị Vân sở hữu? điều 221 và 236 (xác lập chiếm hữu theo thời hiệu)

1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân có lờikhai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hảo và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con

cụ Hảo), nhưng cụ Hảo vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính cũng khôngxuất trình được tài liệu cụ Hảo ủy quyền cho ông Chính quản lí căn nhà Vì không có tàiliệu chứng minh cụ Hảo còn là chủ sở hữu nhà đất, gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà nàytrên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định tại khoản 1 Điều

247 Bộ luật dân sự về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu từ đó cho thấy Tòa án khẳngđịnh gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm

Vì không rõ là ông Hải thuê nhà của cụ Hảo từ năm 1954 hay thuê nhà của ông Chính

từ năm 1968 nhưng cũng đã quá 30 năm, theo khoản 1 Điều 247 BLDS 2005 thì quyếtđịnh của Tòa án là hợp lý

Chị Vân có chiếm hữu được nhà này không? Điều 236 BLDS 2015

- Người chiếm hữu (KN chiếm hữu k1 d179): chị Vân là người chiếm hữu tài sản vì chịVân đg nắm giữ căn nhà

- Người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật: Khoản 2 Điều 165 BLDS 2015 vìchị Vân ko đc chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua GDDS phù hợp vs quy định PL,

do hợp đồng thuê mất, ko có trả tiền thuê

- Ngay tình (Điều 180 181 BLDS 2015): ở BLDS 2015 thì có cái k1 d184 tòa án ko cóchứng cứ chứng minh chị Vân ngay tình hay ko ngay tình nên căn cứ k1 d184 thì chị Vânngay tình

- Công khai 183: có công khai

- Liên tục 182: ở liên tục, có tranh chấp nhưng chưa có bản án, theo BLDS 2015 thì đã làliên tục, nhưng nếu áp dụng BLDS 2005 thì ko đc xem là liên tục vì có TRANH CHẤP

- Thời hạn 30 năm

Chị Vân không thể trở thành chủ sở hữu dù thỏa mãn hết các điều kiện theo k3 d188BLDS 2015, chỉ cần chứng minh xem chị Vân có đc giao tài sản ko -> tức là có giấy thuêhay ko?

Phân biệt chiếm hữu và quyền chiếm hữu: chiếm hữu là tình trạng thực tế mình đg chiếmhữu gì đó; quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu, phải là chủ sở hữu mới có quyềnchiếm hữu

Trang 19

• ss d179 BLDS 2015 và d182 BLDS 2005

chi phối là có quyền bán, rộng hơn

“quản lý” quản lý thì chỉ có thể là sử dụng, quảnlý nó

2 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân có lờikhai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hảo và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con

cụ Hảo), nhưng cụ Hảo vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính cũng khôngxuất trình được tài liệu cụ Hảo ủy quyền cho ông Chính quản lý căn nhà, Trong khi đóchị vân khai gia đình chị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954, lúc đầu ông nội chịVân ở sau này bố chị Vân và chị Vân tiếp tục ở Mặc dù phía nguyên đơn đòi nhà đối vớigia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bảnhòa giải tại Uỷ ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới cóđơn khởi kiện ra tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảokhông còn là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai

Căn cứ theo khoản 1 điều 247 BLDS 2005 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, cóthể thấy khẳng định này của tòa án là hoàn toàn hợp lý Theo đó, “Người chiếm hữu,người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khaitrong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm với bất động sản thì trở thànhchủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tạikhoản 2 điều này.”

3 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Đoạn gia đình chị Như Thị vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ”, “Trong khi

đó chị vân khai nhà chị ở số hai hàng bút từ năm 1954”

Căn cứ khoản 1, Điều 179 BLDS 2015, “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ chi phốitài sản một cách trực tiếp hay gián tiếp nhưng chủ thể có quyền đối với tài sản”

Từ 1954 cụ Hảo kiện ra tòa cho tới năm 2004, khoảng 50 năm, chị Vân bán tầng 1 củacăn nhà cho thấy chị Vân đang nắm giữ chi phối trực tiếp nhà đang tranh chấp Vì vậy,khẳng định của toà án là đúng

Trang 20

4 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Trích án: “Ông nội, bố mẹ và chị cùng ở tại căn nhà số 2 Hàng Bút, quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội Chị có nghe ông nội nói là ông nội thuê nhà số 2 Hàng Bút của cụ DưThị Hảo năm 1945 [ ] Sau khi ông nội chết (năm 1995) thì gia đình chị không đóng tiềnthuê nhà cho ông Chính nữa Sau đó bố chị (ông Nhữ Duy Sơn) và chị tiếp tục quản lý.Năm 1997, bố chị chết thì chị tiếp tục ở tại nhà số 2 Hàng Bút (tầng 1), chị không trả tiềnthuê nhà cho ai, quá trình ở thì bố chị có nâng cao nền nhà, thay cửa, còn chị không sửachữa gì thêm.”

Căn cứ pháp lý: Điều 183 về chiếm hữu công khai:

“Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, khônggiấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và đượcngười chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.”

Gia đình chị Vân đã sử dụng tài sản (ngôi nhà) với mục đích chủ đạo là làm nơi sinhsống và sinh hoạt Đồng thời có sửa chữa, nâng cấp ngôi nhà trong quá trình sống ở đó

Do đó, ngôi nhà ở số 2 Hàng Bút đã được sử dụng theo đúng tính năng, công dụng vàđược người chiếm hữu là gia đình chị Vân bảo quản và giữ gìn như tài sản của chínhmình Chính vì lẽ đó, Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu công khai nhàđất có tranh chấp trên 30 năm là hoàn toàn có căn cứ

Khẳng định của tòa án là hoàn toàn hợp lý Theo Điều 191 BLDS 2005: “Việc chiếmhữu tài sản được coi là chiếm hữu công khai khi thực hiện một cách minh bạch, khônggiấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và đượcngười chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình” Ngôi nhà đang tranhchấp được gia đình chị Vân sử dụng với mục đích chủ đạo là nơi sinh sống, được sửachữa, bảo quản bới người chiếm hữu là gia đình chị Vân

5 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn

là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Việc Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp dựavào lời khai của nguyên đơn và bị đơn là chưa chính xác, theo ba nguyên nhân sau:

• Nhà số 2 Hàng Bút, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có bằng khoán điền thổ số 25, tập 2,

tờ số 55, đăng ký trước bạ tại Hà Nội ngày 4/11/1946 Tức là bà Hảo đã xác lậpquyền sở hữu đối với căn nhà từ năm 1946 Dù cụ Hảo có vào Nam sinh sống

Trang 21

nhưng vẫn chưa từ bỏ quyền sở hữu đối với căn nhà đó, không có chứng minh nàocho thấy cụ không còn là chủ sở hữu căn nhà.

• Năm 2004, cụ Hảo có di chúc giao quyền bất động sản số 2 Hàng Bút cho bàNguyễn Thị Châu toàn quyền sở hữu (Di chúc có xác nhận của Ủy ban nhân dân

xã Kim Chung) Di chúc có xác nhận của UBND xã là di chúc hợp pháp theo quyđịnh của khoản 1, Điều 655 BLDS 1995:

“Điều 655 Di chúc hợp pháp

1- Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,

đe dọa hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúckhông trái quy định của pháp luật.”

Cho nên, tại thời điểm năm 2004, khi cụ Hảo lập di chúc tại UBND xã chắc chắn

có yêu cầu chứng minh việc cụ Hảo có quyền đối với di sản căn nhà số 2 Hàng Bút thôngqua bằng khoán điền thổ, giấy đăng ký trước bạ

• Việc chị Vân bán căn nhà số 2 Hàng Bút cho vợ chồng anh Sơn chị Lan là khôngphù hợp với quy định của pháp luật hiện hành tại thời điểm này Cụ thể, Điều 443BLDS 1995 quy định: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, cóchứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp

có thẩm quyền.” Giấy mua bán nhà giữa chị Vân và vợ chồng anh Sơn, chị Lankhông hề có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên không có giá trị về mặtpháp lý

6 Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất

có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao?

Gia đình chị Vân có quyền xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp trên cơ

sở quy định về thời hiệu hưởng quyền Vì bên phía nguyên đơn cụ Hảo khởi kiện trả nhà

là không có căn cứ vì trên thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất Gia đình chịVân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theoquy định tại khoản 1, Điều 247 BLDS 2005 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:

“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình,liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bấtđộng sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừtrường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”

III CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI TÀI SẢN

1 Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời.

Căn cứ pháp lý: Điều 441 Thời điểm chịu rủi ro

Trang 22

1 Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bênmua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thoả thuậnkhác hoặc luật có quy định khác.

2 Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng

ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên muachịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thoả thuậnkhác

Về nguyên tắc thì chủ sở hữu phải là người chịu rủi ro

2 Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ theo khoản 1, Điều 441 BLDS 2015, “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trướckhi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểmnhận tài sản trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Do đó, bàDung là chủ sở hữu của số xoài vì thời điểm cháy chợ là lúc sau khi bà Dung nhận hàng

3 Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Khoản 1 Điều 441 BLDS 2015 có nêu: “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khitài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhậntài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

Ghe xoài đã bị hư do cháy chợ sau khi bà Dung nhận hàng nên bà Dung phải chịu rủi

ro kể từ thời điểm nhận tài sản Như vậy, bà Dung phải thanh toán tiền mua ghe xoài cho

Tranh chấp: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản là con trâu

Lý do: Ông Tài nghi ngờ ông Thơ chiếm hữu tài sản của mình là 01 con trâu và 01con nghé nên yêu cầu ông Thơ trả lại Tuy nhiên ông Thơ không đồng ý nên hai bên đãxảy ra tranh chấp

Tòa án giải quyết:

Trang 23

Sơ thẩm: Buộc ông Thơ có trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị 02 con trâucho ông Tài với số tiền 5.900.000đ, trong đó, giá trị con trâu mẹ 4 tuổi 9 tháng là5.000.000đ và con nghé đực 3 tháng tuổi là 900.000đ.

Phúc thẩm: Buộc ông Thơ phải trả cho ông Tài 900.000đ tiền trị giá con nghé củaông Tài do ông Thơ mổ thịt

Giám đốc thẩm: Hủy bản án dân sự phúc thẩm của TAND tỉnh Lào Cao; giữnguyên bản án sơ thẩm Ông Thơ phải đền tiền

1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

Căn cứ theo Điều 107 BLDS 2015 về bất động sản và động sản

1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất dai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

Trâu không phải là bất động sản do không thuộc các khoản a b c d trong Điều 1 Do

đó, trâu là động sản

2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?

Trâu là động sản nên căn cứ theo khoản 2 Điều 106 BLDS 2015, “Quyền sở hữu,quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật vềđăng ký tài sản có quy định khác” Do đó, không cần phải đăng ký quyền sở hữu chotrâu

3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

“Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhânchứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 20) và kết quả giám định contrâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biển bản diễn giải biên bản kếtquả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ cơ sở xác định contrâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài.”

4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?

Căn cứ theo Điều 179 BLDS 2015 về khái niệm chiếm hữu

1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc giántiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản

Trang 24

2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người khôngphải là chủ sở hữu.

Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lậpquyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236của Bộ luật này

Do đó, trong hoàn cảnh có tranh chấp như trên, ông Dòn là người đang chiếm hữutrâu của ông Tài

5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không?

Vì sao?

Theo Điều 183 BLDS 2005 về quy định chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật

1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợpvới quy định của pháp luật;

4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sởhữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với cácđiều kiện do pháp luật quy định;

5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợpvới các điều kiện do pháp luật quy định;

6 Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Theo tình tiết vụ án, ông Thơ đã bán trâu mẹ cho ông Thi với giá 3.800.000đ, sau đóông thi lại đổi cho ông Chiên (Dòn) Do đó, ông Dòn sở hữu trâu mẹ thông qua giao dịchdân sự với ông Thi theo khoản 3 Điều 183 BLDS 2005 Chính vì thế, việc chiếm hữutrong hoàn cảnh của ông Dòn là có căn cứ pháp luật

6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là việc ngườichiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứpháp luật, quy định tại Điều 180 BLDS 2015 về chiếm hữu ngay tình: chiếm hữu ngaytình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối vớitài sản đang chiếm hữu

7 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

Có Vì ông Dòn đã đổi con trâu cái sổi cho ông Thi để lấy con trâu mẹ, nhưng ôngDòn không hề biết việc con trâu mẹ này vốn thuộc sở hữu của ông Tài, do ông Thơ chiếmhữu không có căn cứ pháp luật đã bán lại cho ông Thi Ông Dòn có được trâu mẹ thông

Trang 25

qua giao dịch dân sự với ông Thi và không rõ sự tình cho nên ông Dòn là người chiếmhữu ngay tình.

8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

Khoản 1 Điều 463 BLDS 2005, hợp đồng trao đổi, hay hợp động có đền bù là hợpđồng mà trong đó một bên nhận được lợi ích từ bên kia chuyển giao thì phải chuyển giaolại cho bên kia một lợi ích tương ứng Ví dụ: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuêtrọ,

Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được lợi ích dobên kia chuyển giao nhưng không phải chuyển giao lại bất kỳ lợi ích gì Ví dụ: Hợp đồngthuê tài sản

9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù?

Vì sao?

Theo tình tiết trong bản án, thì ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Đây làgiao dịch mà cả hai bên sau khi thực hiện giao dịch đều hưởng lợi ích tương tự Do đó,ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù

10 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

“Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thậpđầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đãquyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoànlại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật.”

11 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi con trâu từ ông Dòn.Đoạn cho câu trả lời: “Tòa án phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là củaông Tào là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản línên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại giátrị con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ trả lại con trâu mẹ làkhông đúng pháp luật.”

GD trên tài sản ko có căn cứ PL -> ông Dòn chiếm hữu ko có căn cứ PL

Ông Dòn là chiếm hữu ngay tình vì k1 d184 ai đg chiếm hữu thì người đó ngay tìnhTài sản ko đăng ký: chỉ những động sản có quy định pháp luật -> chỉ những tài sản ảnhhưởng đến người khác để NN quản lý, bảo vệ quyền của mình

Trang 26

Hợp đồng có đền bù

Ngoài ý chí của ông Tài

-> Đòi lại đc, nhưng mà bây giờ con trâu dg trong tay ông Dòn muốn đòi trâu thì phải đòiông Dòn, ông Thơ chỉ đền bù

12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Theo Điều 257 BLDS 2005 thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng

ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngaytình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không cóquyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu

có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bịchiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu

Như vậy, hướng giải quyết trên của TAND tối cao là chưa thảo đáng vì hợp đồng giữaông Thi và ông Dòn là hợp đồng có đền bù nên ông Tài có quyền đòi lại trâu bị chiếmhữu ngoài ý muốn

13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Ông Tài được pháp luật hiện hành bảo vệ bằng khoản 2 Điều 169, Điều 256, Điều 257BLDS 2005

Điều 169 Bảo vệ quyền sở hữu

2 Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sảncủa mình

Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạmquyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt không có căn cứ pháp luật

Điều 256 Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sửdụng tài sản, người được lợi từ tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộcquyền sở hữu, chiếm hữu hợp pháp của mình trả lại tài sản đó [ ]

Điều 257 Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếmhữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ ngườichiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này

Trang 27

thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tăi sản; trongtrường hợp hợp đồng năy lă hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sảnnếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khâc bị chiếm hữu ngoăi ý chí củachủ sở hữu.

Chính vì được phâp luật bảo vệ đầy đủ, ông Tăi có quyền đòi lại con trđu

14 Khi ông Tăi không được đòi trđu từ ông Dòn thì Tòa ân đê theo hướng ông Tăi được quyền yíu cầu ai trả giâ trị con trđu? Đoạn năo của Quyết định cho cđu trả lời?

Khi ông Tăi không được đòi trđu từ ông Dòn thì Tòa ân đê theo hướng ông Tăi đượcquyền yíu cầu ông Thơ trả giâ trị con trđu, được níu tại đoạn “Trong quâ trình giải quyết

vụ ân, Tòa ân cấp sơ thẩm đê điều tra, xâc minh, thu thập đầy đủ câc chứng cứ vă xâcđịnh con trđu tranh chấp giữa ông Tăi vă ông Thơ vă đê quyết định buộc ông Thơ lăngười chiếm hữu tăi sản không có căn cứ phâp luật phải hoăn lại giâ trị con trđu vă connghĩ cho ông Tăi lă có căn cứ phâp luật.”

15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trín của Tòa dđn sự Tòa ân nhđn dđn tối cao.

Hướng giải quyết của TAND tối cao lă hoăn toăn hợp lý khi đồng ý với định của Tòa

ân sơ thẩm lă buộc ông Thơ phải hoăn trả giâ trị của con trđu vă con nghĩ cho ông Tăi.Đồng thời bâc bỏ quyết định của Tòa ân phúc thẩm lă chỉ buộc ông Thơ phải trả giâ trịcon nghĩ lă 900.000đ vă yíu cầu ông Tăi đòi ông Thơ trả con trđu mẹ Bởi quyết định củaTòa ân phúc thẩm lă không đúng phâp luật do con trđu câi đang được ông Dòn quản lý vẵng Dòn lă người chiếm hữu ngay tình

Tranh chấp: Tranh chấp quyền sở hữu nhă, quyền sử dụng đất

Lý do: Cụ M lă mẹ của bă T xuất cảnh nín nhượng lại đất tranh chấp cho bă T Sau

đó, bă T xuất cảnh sang Phâp nín nhờ bă X lă bạn đứng tín hộ nhă đất dưới hình thứcchuyển nhượng Sau đó, bă T đê trao tặng nhă đất cho bă X, cho nín bă X lă người sởhữu hợp phâp nhă đất năy Được sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn X V (chồng bă X),

Trang 28

gia đình bà N về ở thì có căn nhà nằm trên khuôn viên đất bỏ hoang không ai sử dụng, bà

có cải tạo đất và trồng cây trên đất Nay xảy ra tranh chấp giữa bà X và bà N

Tòa án:

Sơ thẩm lần 1: Buộc bà N trả cho các thừa kế của bà X 244,1m2 Công nhận cho

bà N quyền sử dụng 1.253,7m2 đất

Phúc thẩm lần 1: Buộc bà N trả cho ông V và anh G, anh S, chị M, chị H căn nhà

số 46 Ông V, anh G, anh S, anh M, chị H được sở hữu và được quyền sử dụng chungnhà, đất này Bà Nhung được quyền sử dụng 1.253,7m2 đất

Giám đốc thẩm lần 1: Hủy bản án dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm Yêu cầuxét xử sơ thẩm lại

Sơ thẩm lần 2: Buộc bà N trả cho các anh G, S chị H căn nhà số 46 Anh G, anh S,chị H được quyền sở hữu và quyền sử dụng chung nhà, đất này Bà N được quyền sửdụng 1228,5m2 đất, trong đó có 251m2 đất ở thuộc thửa 73 Ông M và bà Q được quyền

sử dụng 313,6m2 đất và các tài sản trên đất thuộc thửa 555 Ông Đ, bà T được quyền sửdụng 170,9m2 đất và các tài sản trên đất thuộc thửa 568 Chị L được quyền sử dụng744m2 đất thuộc thửa 54-6

Phúc thẩm lần 2: Buộc bà N trả cho các anh G, S, chị H căn nhà số 46 Ông Mđược quyền sử dụng 313,6m2 đất thuộc thửa 555

Giám đốc thẩm lần 2: Hủy bản án dân sự sơ thẩm lần 2 và bản án dân sự phúcthẩm lần 2 Yêu cầu xét xử sơ thẩm lại

1 Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

Đoạn “Tòa án nhân dân tối cao hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 nêu trên Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 138 vàĐiều 258 BLDS 2005 thì các khoản giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M,chị L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ.”

2 Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ

Trang 29

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừtrường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấugiá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản dobản án, quyết định bị hủy, sửa.

Điều 168 BLDS 2015 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bấtđộng sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từngười chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp qu định tại khoản 2 Điều 133 của bộ luật này.Điều 133 BLDS 2015 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân

sự vô hiệu

=> Bà X không được đòi lại BDS từ người thứ 3 ngay tình

2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quannhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác chongười thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiệngiao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngaytình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giaodịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sởhữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyếtđịnh bị hủy, sửa

3 Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?

Để bảo vệ quyền lợi của bà X thì TAND tối cao phải xác định nhà đất thuộc quyền sửdụng hợp pháp của bà X Thế nhưng bà N là người có công sức quản lý, giữ gìn nhà đấttrong thời gian dài, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đối với nhà nước.Cho nên, Tòa án phải buộc bà N trả cho nguyên đơn giá trị đất có diện tích 914m2 là1.254.400.000đ

4 Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa?

Trang 30

Trong bản án Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy toàn bộ bản án phúc thẩm91/2016/DS-PT và bản án sơ thẩm số 07/2015/DS-ST đã được quy định trong BLDS2005.

Điều 138 BLDS 2005 về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịchdân sự vô hiệu

1 Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sảnkhông phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịchkhác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực,trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này

2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng

ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ

ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp ngườithứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịchvới người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làchủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản dobản án, quyết định bị hủy, sửa

Điều 258 BLDS 2005 về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bấtđộng sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừtrường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấugiá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu do bản án,quyết định bị hủy, sửa

5 Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên)

có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng giải quyết của TAND tối cao là thuyết phục Tòa án dân sự phúc thẩm đãkhông áp dụng một số điều luật dẫn đến việc phân chia phần tài sản không phù hợp, chonên việc TAND tối cao đưa ra quyết định trên là đúng đắn và đảm bảo quyền lợi cho cácbên

3 LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ

Tóm tắt quyết định số 617/2011/DS-GDDT ngày 18/8/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:

Chủ thể: Nguyên đơn gồm ông Lương Ngọc Trụ (1944) và bà Định Thị Nguyên(1948); bị đơn là ông Ngô Văn Hòa (1943)

Trang 31

Tranh chấp: Tranh chấp ranh đất

Lý do: Khi sửa chữa lại nhà, ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, bê tông và ống nướcchờm qua phần đất thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Trụ Ông Trụ và bà Nguyên yêucầu ông Hòa trả lại phần đất bị lấn chiếm là 15,2m2 và tháo dỡ công trình xây dựng trênphần đất bị lấn chiếm

Tòa án:

Sơ thẩm: Yêu cầu ông Hòa trả lại phần diện tích đất xây nhà lấn ranh ngang 0,3mdài 34m và phần đất phía sau nhà chiều ngang 1m dài 6,2m Buộc ông Hòa tháo dỡ 04 ôvăng cửa sổ (tháo dỡ sát với mí tường nhà ông Hòa), tháo dỡ 01 máng bê tông trước nhà(tháo dỡ sát với mí cột nhà ông Hòa), tháo dỡ mái tôn phía sau nhà và đoàn tay phía sau(phần mái tôn dài 13m và 10 cây đòn tay nhà sau theo bản vẽ xây dựng từ điểm F đếnđiểm J giáp ranh với đất ông Trụ tháo dỡ sát với mí tường nhà ông Hòa)

Phúc thẩm: Giữ nguyên bản án sơ thẩm

Giám đốc thẩm: Buộc ông Hòa giải quyết thêm cả phần ống nước nằm dưới lòngđất

Tóm tắt quyết định số 23/2006/DS-GĐT ngày 07-09-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Chủ thể: Nguyên đơn là ông Diệp Vũ Trê (vợ là bà Châu Kim Thi), bị đơn là ôngNguyễn Văn Hậu

Tranh chấp: Quyền sử dụng đất, cụ thể là đất giáp ranh

Lý do: Ông Trê được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.700m2 Giápvới đất của ông Trê là ông Hậu Trong quá trình sử dụng, ông Hậu đã lấn chiếm đất củaông Trê, ngoài ra còn xây dựng một số công trình lấn chiếm phần khoảng không bên trên

và phần dưới lòng đất Ông Trê yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết thì ông Hậu

đã chặt phá một số cây kiểng của gia đình ông

Trang 32

Sơ thẩm lần 2: Buộc ông Hậu trả cho ông Trê diện tích 127,8m2 đất Buộc ông Hậutrả 52,2m2 đất lấn chiếm đã cất nhà bằng giá trị là 7,83 chỉ vàng 24K Giữ nguyên phầnđất có căn nhà cho ông Hậu sử dụng.

Phúc thẩm lần 2: Giữ nguyên bản án sơ thẩm lần 2

Giám đốc thẩm lần 2: Hủy bản án dân sự sơ thẩm lần 2 và dân sự phúc thẩm lần 2.Yêu cầu xét xử sơ thẩm lại

1 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

Đoạn “Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đấttrống cho ông Trê và bà Thi, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựngnhà (52,2m2) thì giao cho ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụngđất cho ông Trê và bà Thi là hợp tình, hợp lý […] Mặt khác, theo báo cáo của Cơ quanThi hành án và theo khiếu nại của ông Trê, thì ngoài căn nhà nằm trên diện tích 52,2m2Tòa án các cấp giao cho ông Hậu sử dụng, còn có một căn nhà phụ có diện tích 18,57m2của ông hậu xây dựng trên diện tích đất mà Tòa án các cấp buộc ông Hậu trả lại cho ôngTrê, bà Thi nhưng Tòa án các cấp cũng chưa xem xét giải quyết, gây khó khăn cho việcthi hành án.”

Vậy phần đất ông Hậu đã lấn chiếm tổng là 214,28 m2, cụ thể:

Đoạn “Khi sửa chữa lại nhà, gia đình ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, một mảng bêtông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà”

Đoạn này cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộcquyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên

3 BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?

Khoản 2 Điều 175 BLDS 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản

Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởngđến việc sử dụng đất của người khác

Trang 33

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đấtthuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành câyvượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏathuận khác.

4 Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào?

Bộ Luật dân sự Napoleon của Pháp về việc lấn chiếm được xử lý dựa trên các điềusau :

Điều 675: Chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ hoặc lỗ cửa vào bứctường chung dù bằng bất cứ cách nào, kể cả khi có lắp kính mờ, trừ trường hợp được chủ

sở hữu bất động sản liền kề bên kia đồng ý

Điều 671: Chỉ được phép trồng những cây to, cây nhỡ, cây nhỏ gần giới hạn đất lánggiềng theo khoảng cách được xác định theo những quy định cụ thể hiện hành hoặc nhữngthông lệ được thừa nhận Nếu không có những quy định hoặc thông lệ thì cây mọc caotrên 02 mét phải trồng cách đường giới hạn phân cách hai bất động sản là 02 mét, đối vớicác cây trồng khác là nửa mét

Điều 673: Chủ sở hữu bất động sản có quyền buộc bên hàng xóm phải cắt bỏ các cànhcây mọc vươn sang đất của mình Nếu hoa quả ở các cành cây tự nhiên rụng xuống thìchủ sở hữu đất bị cành cây vươn sang được hưởng Nếu rễ cây hoặc cành nhỏ mọc vươnsang đất người khác thì người đó có quyền cắt những rễ và cành nhỏ hoặc được quyềnyêu cầu bên hàng xóm cắt các rễ cây, cành cây của các cây to, cây nhỡ, cây nhỏ khôngthể bị thời hiệu tiêu diệt

Điều 681: Chủ sở hữu bất động sản phải lắp đặt mái nhà sao cho nước mưa chảy vàođất nhà mình hoặc đường công cộng, không được để nước mưa chảy vào đất của bênhàng xóm

5 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

Đoạn “Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bêtông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Quá trình giảiquyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định gia đình ông Hòa làm

4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đìnhông Trụ, bà Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ là có căn cứ.”

6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 34

Hướng giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý Ông Hòa đã lấnchiếm mà không đúng theo quy định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không

có sự đồng ý của chủ bất động sản liền kề là ông Trụ và bà Nguyên Cho nên, việc Tòa ányêu cầu ông Hòa phải tháo dỡ là đúng với quy định của pháp luật Mặt khác, dưới lòngđất sát tường nhà ông Hòa còn có ống nước do gia đình ông Hòa chôn nhưng Tòa án sơthẩm và phúc thẩm không buộc ông Hòa tháo là có thiếu sót, chưa đảm bảo được quyềnlợi cho gia đình ông Trụ và bà Nguyên, Tòa án giám đốc thẩm yêu cầu xét xử lại đối với

vụ án này là hoàn toàn hợp tình, hợp lý

7 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Tận tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m 2 )?

Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Tận trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trốngcho ông Trường và bà Thoa, còn phần đất ông Tận cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựngnhà (52,2m2) thì giao cho ông Tận sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụngđất cho ông Trường và bà Thoa là hợp tình, hợp lý

8 Ông Trường, bà Thoa có biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên không?

Theo bản án thì ông Trường và bà Thoa không phản đối việc ông Tân xây nhà

9 Nếu ông Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa không? Vì sao?

Nếu ông Trê và bà Thi biết và phản đối ông Hậu xây nhà trên thì ông Hậu phải tháo

dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trê, bà Thi

Điều 259 BLDS 2005 quy định về yêu cầu và ngăn chặn chấm dứt hành vi cản trở tráipháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp: Khi thực hiệnquyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp cóquyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếukhông có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩmquyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm

10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên.

Hướng giải quyết trên của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm là chưa hợp lý khi chỉchấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn Lương Ngọc Trụ và bà Đình Thị Nguyên yêu cầu ông Ngô Văn Hòa trả lạiphần diện tích đất xây lấn ranh ngang 0,3m dài 34m và phần đất phía sau nhà chiềungang 1m dài 6,2m Buộc ông Ngô Văn Hòa tháo dỡ 4 ô văng cửa sổ, tháo dỡ mái tônphía sau nhà và tay đòn phía sau nhà.”

Trang 35

Khi vẫn còn đường ống nước của ông Hòa đặt trên phần đất thuộc quyền sử dụng của

bà Nguyên Như vậy, cả Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm chỉ giải quyết một phầnyêu cầu của nguyên đơn và chưa giải quyết triệt để vụ án

Do đó, hướng giải quyết của TAND tối cao là hợp lý, hủy hai bản án dân sự sơ thẩm

và dân sự phúc thẩm, yêu cầu ông Hòa tháo dỡ thêm phần ống nước xây dựng trên diệntích sử dụng của nguyên đơn

11 Theo Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường,

bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời?

Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trốngcho ông Trê, bà Thi, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà là52,2m2 thì giao cho ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất choông Trê và bà Thi với giá trị tương đương

12 Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết.

Đã có Quyết định số 02/2006/DS-GĐT ngày 21/02/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao theo hướng giải quyết tương tự với Quyết định số 23 liên quan đếnđất bị lấn chiếm và xây dựng nhà Nội dung như sau :

Căn cứ vào văn tự đoạn mãi nhà ngày 30/12/1973 giữa ông Vui và bà Khanh thì cănnhà bà Khanh có chiều rộng mặt tiền là 7,4m và căn cứ vào giấy phép xây dựng số51/GPSXD ngày 08/02/1996 của Sở xây dựng tỉnh DL thì bà Khanh được xây nhà cóchiều rộng mặt tiền là 7,4m nhưng theo biên bản đo đạc của TAND tỉnh DL thì thực tế bàKhanh đã xây dựng chiều rộng mặt tiền là 7,63m, sai với giấy phép xây dựng, vượt quádiện tích đất mà gia đình bà Khanh được quyền sử dụng là 23cm Thực tế, bà Khanh đãxây kiềng mống nằm đè lên 20cm móng của nhà ông Tùng Bà Khanh cho rằng khi xâydựng đã thỏa thuận miệng với ông Tùng để bà được xây dựng sát tường nhà ông Tùng,tuy nhiên ông Tùng không thừa nhận và bà Khanh cũng không có chứng cứ để xác minhviệc này

Về nguyên tắc, bà Khanh đã lấn chiếm đất thuộc quyền sở hữu của ông Tùng thì bàphải tháo dỡ công trình để trả lại đất cho ông Tùng Thế nhưng, khi gia đình bà Khanhxây dựng sát tường nhà ông Tùng, làm kiềng trên móng nhà ông Tùng thì ông Tùngkhông phản đối trong suốt quá trình xây dựng Do việc xây dựng đã hoàn thiện nhà caotầng, nếu buộc tháo dỡ và thu hẹp lại công trình sẽ gây thiệt hại rất lớn cho nhà bà Khanh.Xét theo diễn biến thực tế như trên thì Hội đồng thẩm phán nhất trí với quan điểm của

Trang 36

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm khôngbuộc bà Khanh phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phía trên móng nhà ông Tùng mà chỉbuộc bồi thường bằng tiền là hợp tình, hợp lý.

Do việc bà Khanh xây dựng sát tường nhà ông Tùng, gây thiệt hại cho ông Tùng vềphần không gian trên đất ông Tùng không sử dụng được có chiều rộng 20cm tính theomóng nhà ông Tùng nên bà Khanh phải bồi thường cho ông Tùng phần thiệt hại này.Phần thiệt hại này cũng phải được xác định căn cứ vào giá trị quyền sử dụng đất tại thịtrường địa phương Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào khung giá đất đai quyết định số2920/QĐ-UB ngày 10/12/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh DL với giá 1.720.000đ/ m2trong khi không có chứng minh khung giá của UBND tỉnh phù hợp với giá trị thị trường

là chưa đảm bảo đúng quyền lợi của ông Tùng Do đó, cần phải giải quyết phúc thẩm lạiphần này

13 Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số 23 được bình luận ở đây?

Vì giấy biên nhận giữa ông Hậu và anh Kiệt không có xác nhận của cơ quan Nhànước có thẩm quyền, không nêu vị trí cũng như tứ cận, mốc giới cụ thể, không có xácnhận của các chủ đất liền kề nên ông Hậu phải trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm cho ông Trê

và bà Thi, còn phần đất xây dựng nhà (52,2m2) thì giao cho ông Hậu nhưng phải thanhtoán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi Ngoài ra, còn có 02 máng xối đúc

bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê và bà Thi có diện tích 10,71m2chưa được Tòa án xem xét buộc ông Hậu tháo dỡ hoặc thanh toán giá trị sử dụng là chưađảm bảo quyền lợi hợp pháp cho ông Trê và bà Thi Chính vì vậy, hướng giải quyết trêncủa Hội đồng thẩm phán là hợp lý

14 Đối với phần chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57 m 2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không?

Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm không buộc tháo dỡ phần chiếm không gian vàcăn nhà phụ Đoạn“Tuy nhiên, ngoài diện tích 52,2m2 nêu trên, căn nhà của ông Hậu còn

có hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê và bà Thi códiện tích 10,71m2 chưa được Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xem xét buộcông Hậu phải tháo dỡ hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bàThi”

Mặt khác, theo báo cáo của cơ quan Thi hành án và theo khiếu nại của ông Trê thìngoài căn nhà nằm trên diện tích đất 52,2m2 Tòa án các cấp cho ông Hậu sử dụng, còn có

Trang 37

một căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 của ông Hậu xây dựng trên diện tích đất mà Tòa áncác cấp buộc ông Hậu trả cho ông Trê, bà Thi nhưng Tòa án các cấp cũng chưa xem xétgiải quyết, gây khó khăn cho việc thi hành án.

15 Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ trên như thế nào?

Phần lấn chiếm không gian 10,71m2 là hai máng xối đúc bê tông nên ông Tận phảitháo dỡ nó Nếu ông không tháo dỡ thì phải thỏa thuận với ông Trường và bà Thoa đểthanh toán quyền sử dụng đất mà ông lấn chiếm

Về căn nhà phụ giao cho ông Tận sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sửdụng đất cho ông Trường và bà Thoa

16 Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam hiện nay.

Hiện nay, Luật pháp nước Việt Nam đã quy định khá đầy đủ về việc lấn chiếm quyền

sử dụng đất và không gian, tuy nhiên thực tiễn xét xử thì còn tồn tại khá nhiều vướngmắc Chẳng hạn như lúng túng khi xử lý tài sản gắn liền với đất, chưa có sự linh hoạt đốivới việc xử lý đất lấn chiếm

17 Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với BLDS 2015 không ? Vì sao ?

Hướng giải quyết trên của Tòa án vẫn còn phù hợp với BLDS 2015 vì các điều luật cónội dung không thay đổi so với BLDS 2005 Cụ thể, khoản 1 Điều 267 BLDS 2005 tương

tự như Điều 174 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ toont rọng quy tắc xây dựng, khoản 2Điều 267 BLDS 2005 tương tự như Điều 177 BLDS 2005 quy định về bảo đảm an toàntrong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5:

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ PHẦN 1: DI SẢN THỪA KẾ

Tóm tắt bản án số 08/2020/DSST ngày 28/9/2020 của Tòa án Nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc:

Chủ thể: Nguyên đơn là Trần Văn Hòa, bị đơn gồm Trần Hoài Nam và Trần ThanhHương

Nội dung: Ông Trần Văn Hòa yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Cao Thị Mai (vợông) Bà Mai và ông Hòa kết hôn từ năm 1980 và có 2 người con chung là anh Nam và

Trang 38

chị Hương Sau khi bà Mai mất, do không thỏa thuận được nên ông Hòa làm đơn khởikiện yêu cầu chia di sản bà Mai để lại.

Lý do: tranh chấp về phần di sản thừa kế

- Anh Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất 47,1m2

- Chị Hương được quyền sở hữu tiền thuê nhà mà chị đang quản lý

- Anh Nam phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông Hòa và chị Hương

Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chủ thể: Nguyên đơn là ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G; Bị đơn là ôngPhùng Văn T

Nội dung: Tranh chấp thừa kế tài sản

Lý do: Bà G và anh T cùng quản lý một diện tích đất Chị H1 (con bà G) muốntách đất nên yêu cầu anh T đưa giấy tờ nhưng anh T không đồng ý Trước khi chết, bà G

có lập di chúc chia đất cho các con( chia chi chị H1 68m2) Tuy nhiên, gia đình anh T vẫntiếp tục quản lý và sử dụng diện tích đất ấy Do đó, giữa hai bên đã xảy ra tranh chấp

Tòa án:

- Sơ thẩm: Buộc anh T thanh toán cho chị H1 tiền đất

- Phúc thẩm: Giao cho anh T và chị H3 diện tích đất 267,4m2 số thửa 81 Buộc anh

T thanh toán tiền thừa kế cho chị H1

- Giám đốc thẩm: Hủy bản án Sơ thẩm và Phúc thẩm

( nd án lệ : khi vk or ck chết, người còn lại bán tài sản chung ( các người thừa kế khác

đều biết) để trả nợ và lo cho gđ( nuôi con) => phần đã được bán đó không được tính vào

+ bao gồm tài sản và nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi di sản thừa kế

+ không bao gồm nv ts: vì di sản là phần chia cho các đồng thừa kế, trc khi phânchia di sản thì phải thanh toán hết nghĩa vụ của người quá cố trước khi tiến hànhchia di chúc

Trang 39

 Quan điểm của giáo trình trường DH luật nói chung, và quan điểm cá nhân nóiriêng

- Cspl : điều 658 ( khi 1 người chết, thì họ phải hoàn thành tất cả các nghĩa vụ trckhi phân chia di sản)

2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Về nguyên tắc Ts bị thay thế vẫn dc nên xem là di sản và bản chất của di sản này nóđều xuất phát từ ts của người chết, nó có thay đổi ntn đi nữa vẫn thì vẫn là ts củangười quá cố để lại

Trên thực tế, có nhiều trường hợp di sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi một tàisản khác

Di sản đó có thể đã tham gia vào một giao dịch dân sự như trao đổi, mua bán,, để đổilấy một tài sản/khoản tiền khác Trong trường hợp này nên xem tài sản/ khoản tiền đó là

di sản vì tài sản mới được hình thành có giá trị tương đương và được hình thành trên phần di sản do người quá để lại.

Ví dụ: người chết để lại di sản là căn nhà, cháy nhà , nhận được tiền bồi thường tiền

đó cho các thừa kế => nếu k coi nó là di sản, thì tiền bồi thường đó ai sẽ dc nhận, chiacho ai Gây kk trong việc nhận tiền bồi thường => coi là di sản

- vẫn có TH k coi là di sản

3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ Mục 1 Phần II Nghị quyết 02/ 2004/NQ-HĐTP ( do ch có vb thay thế, cũngchưa có vb bãi bỏ nên dc sd NQ này ) quy định quyền sử dụng đất là di sản khi:

Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không cótài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đainăm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản

Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong cácloại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì

kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vàothời điểm mở thừa kế

Trang 40

50 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là

đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này

có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù

Ngày đăng: 08/12/2021, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w