1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận chế định quyền sở hữu và tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành

12 234 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 128 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ I Đề tài: Tiểu luận chế định quyền sở hữu và tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành (2015). Giảng viên: Họ và tên: MSV: Lớp: MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU B. NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận cơ bản về pháp luật quyền sở hữu. 1. Chế định tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015. 2. Chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự 2015. II. Thực trạng trong việc bảo vệ quyền tài sản của Nhà nưới đối với mỗi công dân ở nước ta. C. KẾT LUẬN A. LỜI MỞ ĐẦU Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự và giao lưu dân sự ngày càng được mở rộng thì chế định tài sản và quyền sở hữu lại là chế định cơ bản, quan trọng nhất trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự trong giao lưu dân sự. Trước yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như các tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu trong đó có quyền sở hữu về tài sản, quyền bình đẳng giữa các chủ thể đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết số 48/2005/NQ- TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị Quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015. Từ đó trong phạm vi bài tiểu luận luật kinh tế 1 này, ta cùng đi sâu phân tích về chế định tài sản và quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật Dân sự qua các thời kỳ, trong đó trọng tâm nhấn mạnh chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Bài tiểu luận còn vấn đề gì sai sót, mong cô góp ý để bài tiểu luận có thể hoàn chỉnh hơn. B.NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận cơ bản về pháp luật quyền sở hữu. 1. Chế định tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015. Tài sản là vấn đề trọng tâm, cơ bản của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Khái niệm tài sản đã được Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 105 quy định khá cụ thể tài sản là gì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. - Thứ nhất, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Vật, là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người. Không phải bất kỳ một bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác thì không được coi là vật Ví dụ, ô xi ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi là vật vì chưa thể đưa vào để thực hiện được giao dịch dân sự, chỉ khi được nén vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và lúc này mới được coi là vật. Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau: là bộ phận của thế giới vật chất; con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai. Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau. Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành vật chính và vật phụ. Vật chính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hoà, máy ảnh…), còn vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính (điều khiển ti vi, vỏ điều hoà, vỏ máy ảnh…). Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật Dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được. Dựa vào đặc tính, giá trị của các tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao. Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người ta phân loại vật thành vật cùng loại và vật đặc định. Ngoài ra, người ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đồng bộ. Tiền, theo Mác thì tiền là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hành hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Bộ luật Dân sự năm 2005 và cả Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền. Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận, mới được coi là tài sản. Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích luỹ tài sản và là thước đo giá trị. Giấy tờ có giá, được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái…Xét về mặt hình thức, thì giấy tớ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định. Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ. Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, viêc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu. Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro. Ngoài ra còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký xe máy, xe ô tô,…không phải là giấy tờ có giá. Những loại giấy tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó. Quyền tài sản, theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu (vật quyền) cũng là một loại tài sản. - Thứ hai, tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau: 1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật 2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được. Bất động sản do đặc tính tự nhiên, được hiểu là các tài sản không thể di dời được do bản chất tự nhiên cấu tạo nên tài sản đó, bao gồm: Một là, đất đai. Đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tích đất cùng vị trí của mảnh đất đó. Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó. Hai là, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai. Nhà, công trình trên đất được coi là một dạng của bất động sản do đặc tính tự nhiên nếu nó được xây dựng gắn liền với đất bằng một kết cấu chặt chẽ chứ không đơn thuần “đặt” trên đất. Vì vậy, một lều xiếc hay một lán chợ dựng tạm thì không được coi là bất động sản. Ba là, cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất như: khoáng sản, cây cối hoa màu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai thác, chặt cây hay hái lượm. Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở thành động sản. Giả sử khoáng sản, cây cối, hoa màu tuy vẫn chưa được khai thác nhưng đã là đối tượng của hợp đồng mua bán trước, việc mua bán trước này có làm cho khoáng sản, cây cối hoa màu trở thành động sản hay không cho dù nó vẫn còn ở trên đất? Luật pháp các quốc gia đều cho rằng các tài sản này, trong trường hợp trên thì đã trở thành động sản. Bốn là, các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản. Nhưng trong điều kiện nào thì động sản được coi là gắn liền với nhà, công trình xây dựng? Thông thường, việc gắn một động sản vào nhà, công trình xây dựng thì một mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống nhất phục vụ cho mục đích sử dụng nhà, công trình đó, mặt khác, việc gắn động sản vào nhà, công trình xây dựng phải do người có quyền (quyền sở hữu hoặc một quyền năng khác) đối với nhà, công trình xây dựng đó thực hiện. Hơn nữa, việc gắn liền phải mang tính chất kiên cố, không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặc mất vẻ mỹ quan của nhà, công trình. Ví dụ như hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng, nếu được gắn vào tường một cách kiên cố thì cũng có thể được coi là bất động sản. Bất động sản do pháp luật quy định, thì ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, khi cần thiết bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định những tài sản khác là bất động sản. Ví dụ, Điều 5 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định thì quyền sử dụng đất là bất động sản. Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó (nhà đã được xây dựng…). Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai (nhà đang được xây dựng theo dự án, tiền lương sẽ được hưởng…). Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai có thể bao gồm tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản mua bán, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu). 2. Chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.” - Thứ nhất, về quyền chiếm hữu. Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản; (2). Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu không phải là chủ sở hữu. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này”. - Thứ hai, về quyền sử dụng Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Đối với quyền sử dụng của chủ sở hữu, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Đồng thời, người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thoả thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. - Thứ ba, về quyền định đoạt. Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản”. Pháp luật quy định cho cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu có quyền định đoạt về tài sản, tuy nhiên để có quyền định đoạt thì phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định: (I) về năng lực hành vi, việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật; (II) về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về định đoạt tài sản: trong trường hợp pháp luật có quy định về trình tự, thủ tục định đoạt thì cần phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục đó. Về chủ thể có quyền định đoạt, Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định chủ thể có quyền định đoạt là chủ sở hữu và người không phải chủ sở hữu. Một là, tại Điều 194 có quy định về quyền định đoạt đối với chủ sở hữu như sau: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu huỷ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”. Hai là, quyền định đoạt đối với người không phải chủ sở hữu được quy định tại Điều 195: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật. II. Thực trạng trong việc bảo vệ quyền tài sản của Nhà nưới đối với mỗi công dân ở nước ta. Ở nước ta, mỗi công dân, người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được Nhà nước đảm bảo đầy đủ quyền tài sản của mình. Đây là việc vô cùng quan trọng nhằm giúp đỡ, hỗ trợ mỗi công dân Việt Nam trong việc gìn giữ tài sản bản thân mình làm ra. Tuy nhiên, dù có đầy đủ ra sao, thì vẫn có những thiếu sót, những quy trình rườm già trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, vì thế Nhà nước luôn phải bổ sung, sửa đổi quyền sở hữu tài sản thông qua bộ luật dân sự từ các năm 1995,.., 2015 và cho đến nay. Việc hoàn thiện quy định pháp luật nhằm tạo cơ chế cho việc bảo vệ quyền sở hữu được nhà nước thừa nhận cũng như đảm bảo thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện như thế nào lại phụ thuộc vào rất nhiều khả năng tự bảo vệ của người có quyền cũng như năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác hỗ trợ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản. Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia quyền sở hữu luôn được ghi nhận là quyền dân sự cơ bản của con người. Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh tế trong xã hội quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ bằng nhiều phương thức khác nhau. Việc áp dụng phương thức bảo vệ nào tùy thuộc hậu quả của việc xâm hại, tính chất, mức độ của hành vi xâm hại (nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, ngay tình hay không ngay tình), yêu cầu của người bị xâm hại. Nước ta cũng không ngoại lệ, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các chế tài hành chính, trách nhiệm hình sự và biện pháp dân sự bằng việc khởi kiện vụ, việc dân sự ra Tòa án. Pháp luật còn ghi nhận chủ sở hữu được tự bảo vệ, có quyền ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm hại quyền sở hữu của mình, có quyền truy tìm đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Trong thực tiễn, việc áp dụng các biện pháp hành chính, trách nhiệm hình sự để bảo vệ quyền sở hữu dường như là biện pháp phổ biến và hiệu quả hơn biện pháp kiện dân sự. Số lượng án kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu không nhiều trong tương quan chung với các loại án kiện dân sự khác. Điều này có thể lý giải từ lẽ tự nhiên trong đời sống xã hội rằng một người khi thực hiện việc chiếm hữu một tài sản mà không biết về nguồn gốc tài sản, nói cách khác là ngay tình trong việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật là ít có khả năng. Sự ngay tình nếu có thường có nguồn gốc từ một giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhưng phát sinh sự kiện dẫn đến việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hoặc gây thiệt hại đến tài sản của chủ sở hữu. Để bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện bảo vệ quyền sở hữu, pháp luật dân sự ghi nhận các phương thức kiện khác nhau phù hợp với thực tiễn xâm hại quyền sở hữu: Kiện đòi tài sản; kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hiện nay, Việt Nam trong bối cảnh đổi mới; phát triển kinh tế thị trường; nhìn nhận lại khái niệm “định hướng XHCN”; phát triển kinh tế tư nhân trong sự bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; cần khai thác có hiệu quả vốn và tài sản của Nhà nước; và hội nhập quốc tế… Vì vậy, việc ghi nhận vật quyền vào hệ thống pháp luật là rất cần thiết. Thực tế, quyền sử dụng đất, cũng như việc cho thuê doanh nghiệp … thể hiện quyền của người khác được hành xử trực tiếp trên tài sản của Nhà nước, có nghĩa là có sự tồn tại nhiều loại vật quyền khác ngoài quyền sở hữu. Việc ghi nhận vật quyền nói chung góp phần khai thác có hiệu quả tài sản của Nhà nước và ổn định đời sống nhân dân. Hơn nữa, việc thừa nhận quyền sở hữu là vật quyền, và coi quyền chiếm hữu không nằm trong nội dung của quyền sở hữu có nhiều lợi ích quan trọng: thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc khai thác có hiệu quả tài sản của Nhà nước bởi có căn cứ pháp lý vững chắc để xác định các vật quyền khác từ các chi phân của quyền sở hữu và chuyển giao tài sản cho người không phải là chủ sở hữu của tài sản; thứ hai, tạo ra sự minh bạch và rõ ràng giữa các quyền tránh các rủi ro cho cả chủ sở hữu và người có vật quyền khác trên tài sản; thứ ba, tạo ra mối quan hệ tốt giữa các thành viên cộng đồng nói chung và những người xóm giềng nói riêng; và thứ tư, thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển, và tăng cường các giải pháp pháp lý cho việc giải quyết các quan hệ kinh tế phức tạp do kinh tế thị trường và quan hệ quốc tế mang lại. - Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữa thông qua việc hoàn thiện pháp luật dân sự và trên thực tế ở Việt Nam. Hoàn thiện khái niệm tài sản trong Bộ luật dân sự nhằm mở rộng đối tượng tài sản được bảo vệ quyền sở hữu. Ghi nhận khái niệm vật quyền và bảo vệ vật quyền bên cạnh khái niệm sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu. Hoàn thiện quy định pháp luật về đăng ký quyền sở hữu tài sản và ghi nhận quyền đăng ký quyền sở hữu tài sản tự nguyện của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu. Thông qua việc phổ biến, giáo dục, tuyên truyền pháp luật để họ hiểu quyền và giới hạn quyền của mình. Nâng cao khả năng hòa giải, giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án nói chung và cán bộ Tòa án nói riêng. Nâng cao khả năng thi hành bản án, quyết định của Tòa. C. KẾT LUẬN Tóm lại, chế định tài sản và quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là sự kế thừa chế định tài sản trong các Bộ luật Dân sự trước đó, đồng thời cũng đã sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề quan trọng thể hiện sự phát triển của chế định này trong lịch sử xây dựng pháp luật về dân sự. Đây là một đòi hỏi tất yếu của quá trình hoàn thiện các quy định của luật dân sự nước nhà, trong đó chế định tài sản và quyền sở hữu là một trong những chế định trọng tâm, quan trọng của Bộ luật Dân sự, nên việc bổ sung, hoàn thiện chế định này là rất quan trọng, làm cơ sở tiền đề để xây dựng cũng như áp dụng thống nhất các chế định khác có liên quan.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ I

Đề tài: Tiểu luận chế định quyền sở hữu và tài sản trong Bộ luật

Dân sự Việt Nam hiện hành (2015).

Giảng viên:

Họ và tên:

MSV:

Lớp:

Trang 2

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG CHÍNH

I Lý luận cơ bản về pháp luật quyền sở hữu.

1 Chế định tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015.

2 Chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự 2015.

II Thực trạng trong việc bảo vệ quyền tài sản của Nhà nưới đối với mỗi công dân ở nước ta.

C KẾT LUẬN

Trang 3

A LỜI MỞ ĐẦU

Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự và giao lưu dân sự ngày càng được mở rộng thì chế định tài sản và quyền sở hữu lại là chế định cơ bản, quan trọng nhất trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự trong giao lưu dân sự Trước yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như các tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh

tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu trong đó có quyền sở hữu về tài sản, quyền bình đẳng giữa các chủ thể đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết số 48/2005/NQ- TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị Quyết số

49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm

2020, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 Từ đó trong phạm vi bài tiểu luận luật kinh tế 1 này, ta cùng đi sâu phân tích về chế định tài sản và quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật Dân sự qua các thời kỳ, trong đó trọng tâm nhấn mạnh chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015 Bài tiểu luận còn vấn đề gì sai sót, mong cô góp ý để bài tiểu luận có thể hoàn chỉnh hơn

Trang 4

B.NỘI DUNG CHÍNH

I Lý luận cơ bản về pháp luật quyền sở hữu.

1 Chế định tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015.

Tài sản là vấn đề trọng tâm, cơ bản của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 105 quy định khá cụ thể tài sản là gì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể

là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”

- Thứ nhất, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

Vật, là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất kỳ một bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều được coi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác thì không được coi là vật Ví dụ, ô xi ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi là vật vì chưa thể đưa vào để thực hiện được giao dịch dân sự, chỉ khi được nén vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và lúc này mới được coi là vật Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau: là bộ phận của thế giới vật chất; con

người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc

về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành vật chính và vật phụ Vật chính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hoà, máy ảnh…), còn vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một

bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính (điều khiển ti vi, vỏ điều hoà,

vỏ máy ảnh…) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật Dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của các tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người

ta phân loại vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đồng bộ

Trang 5

Tiền, theo Mác thì tiền là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hành hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác

Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá Bộ luật Dân sự năm 2005 và cả Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức

là được pháp luật thừa nhận, mới được coi là tài sản Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích luỹ tài sản và là thước đo giá trị

Giấy tờ có giá, được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái…Xét về mặt hình thức, thì giấy tớ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn

bộ một lần, viêc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy

tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro Ngoài ra còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký xe máy,

xe ô tô,…không phải là giấy tờ có giá Những loại giấy tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó

Quyền tài sản, theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền

sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình Xét theo ý nghĩa này thì quyền

sở hữu (vật quyền) cũng là một loại tài sản

- Thứ hai, tài sản bao gồm động sản và bất động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:

1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai ;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

Trang 6

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được Bất động sản do đặc tính tự nhiên, được hiểu là các tài sản không thể di dời được do bản chất tự nhiên cấu tạo nên tài sản đó, bao gồm:

Một là, đất đai Đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tích đất cùng vị trí của mảnh đất đó Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó

Hai là, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai Nhà, công trình trên đất được coi là một dạng của bất động sản do đặc tính tự nhiên nếu nó được xây dựng gắn liền với đất bằng một kết cấu chặt chẽ chứ không đơn thuần “đặt” trên đất Vì vậy, một lều xiếc hay một lán chợ dựng tạm thì không được coi là bất động sản

Ba là, cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất như: khoáng sản, cây cối hoa màu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai thác, chặt cây hay hái lượm Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở thành động sản Giả

sử khoáng sản, cây cối, hoa màu tuy vẫn chưa được khai thác nhưng đã là đối tượng của hợp đồng mua bán trước, việc mua bán trước này có làm cho khoáng sản, cây cối hoa màu trở thành động sản hay không cho dù nó vẫn còn ở trên đất? Luật pháp các quốc gia đều cho rằng các tài sản này, trong trường hợp trên thì đã trở thành động sản

Bốn là, các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản Nhưng trong điều kiện nào thì động sản được coi là gắn liền với nhà, công trình xây dựng? Thông thường, việc gắn một động sản vào nhà, công trình xây dựng thì một mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống nhất phục vụ cho mục đích sử dụng nhà, công trình đó, mặt khác, việc gắn động sản vào nhà, công trình xây dựng phải do người

có quyền (quyền sở hữu hoặc một quyền năng khác) đối với nhà, công trình xây dựng đó thực hiện Hơn nữa, việc gắn liền phải mang tính chất kiên cố, không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặc mất vẻ mỹ quan của nhà, công trình Ví dụ như

hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng, nếu được gắn vào tường một cách kiên

cố thì cũng có thể được coi là bất động sản

Trang 7

Bất động sản do pháp luật quy định, thì ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, khi cần thiết bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định những tài sản khác là bất động sản Ví dụ, Điều 5 Luật Kinh doanh bất động

sản năm 2014 quy định thì quyền sử dụng đất là bất động sản

Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó (nhà đã được xây

dựng…) Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai (nhà đang được xây dựng theo dự án, tiền lương sẽ được hưởng…) Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai có thể bao gồm tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản mua bán, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ

sở hữu)

2 Chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự 2015.

Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”

- Thứ nhất, về quyền chiếm hữu

Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản; (2) Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu không phải là chủ sở hữu Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể

là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230,

231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này”

- Thứ hai, về quyền sử dụng

Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật”

Đối với quyền sử dụng của chủ sở hữu, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Đồng thời, người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thoả thuận với chủ

sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật

Trang 8

- Thứ ba, về quyền định đoạt.

Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài

sản” Pháp luật quy định cho cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu

có quyền định đoạt về tài sản, tuy nhiên để có quyền định đoạt thì phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định: (I) về năng lực hành vi, việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật; (II) về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về định đoạt tài sản: trong trường hợp pháp luật có quy định

về trình tự, thủ tục định đoạt thì cần phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục đó

Về chủ thể có quyền định đoạt, Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định chủ thể có quyền định đoạt là chủ sở hữu và người không phải chủ sở hữu

Một là, tại Điều 194 có quy định về quyền định đoạt đối với chủ sở hữu như sau: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền

sở hữu, tiêu dùng, tiêu huỷ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”

Hai là, quyền định đoạt đối với người không phải chủ sở hữu được quy định tại Điều 195: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật

Trang 9

II Thực trạng trong việc bảo vệ quyền tài sản của Nhà nưới đối với mỗi công dân ở nước ta.

Ở nước ta, mỗi công dân, người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được Nhà nước đảm bảo đầy đủ quyền tài sản của mình Đây là việc vô cùng quan trọng nhằm giúp đỡ, hỗ trợ mỗi công dân Việt Nam trong việc gìn giữ tài sản bản thân mình làm

ra Tuy nhiên, dù có đầy đủ ra sao, thì vẫn có những thiếu sót, những quy trình rườm già trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, vì thế Nhà nước luôn phải bổ sung, sửa đổi quyền sở hữu tài sản thông qua bộ luật dân sự từ các năm 1995, , 2015 và cho đến nay

Việc hoàn thiện quy định pháp luật nhằm tạo cơ chế cho việc bảo vệ quyền sở hữu được nhà nước thừa nhận cũng như đảm bảo thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế, việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện như thế nào lại phụ thuộc vào rất nhiều khả năng tự bảo vệ của người có quyền cũng như năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác hỗ trợ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia quyền sở hữu luôn được ghi nhận là quyền dân sự cơ bản của con người Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh tế trong xã hội quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ bằng nhiều phương thức khác nhau Việc áp dụng phương thức bảo vệ nào tùy thuộc hậu quả của việc xâm hại, tính chất, mức độ của hành vi xâm hại (nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, ngay tình hay không ngay tình), yêu cầu của người bị xâm hại

Nước ta cũng không ngoại lệ, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các chế tài hành chính, trách nhiệm hình sự và biện pháp dân sự bằng việc khởi kiện vụ, việc dân sự ra Tòa án Pháp luật còn ghi nhận chủ sở hữu được tự bảo vệ, có quyền ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm hại quyền sở hữu của mình, có quyền truy tìm đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật Trong thực tiễn, việc áp dụng các biện pháp hành chính, trách nhiệm hình sự

để bảo vệ quyền sở hữu dường như là biện pháp phổ biến và hiệu quả hơn biện pháp kiện dân sự Số lượng án kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu không nhiều trong tương quan chung với các loại án kiện dân sự khác Điều này có thể lý giải từ lẽ tự nhiên trong đời sống xã hội rằng một người khi thực hiện việc chiếm hữu một tài sản mà không biết về nguồn gốc tài sản, nói cách khác là ngay tình trong việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật là ít có khả năng Sự ngay tình nếu có thường có nguồn gốc từ một giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhưng phát sinh sự kiện dẫn đến việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hoặc gây thiệt hại đến tài sản của

Trang 10

chủ sở hữu Để bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện bảo

vệ quyền sở hữu, pháp luật dân sự ghi nhận các phương thức kiện khác nhau phù hợp với thực tiễn xâm hại quyền sở hữu: Kiện đòi tài sản; kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Hiện nay, Việt Nam trong bối cảnh đổi mới; phát triển kinh tế thị trường; nhìn nhận lại khái niệm “định hướng XHCN”; phát triển kinh tế tư nhân trong sự bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; cần khai thác có hiệu quả vốn và tài sản của Nhà nước; và hội nhập quốc tế… Vì vậy, việc ghi nhận vật quyền vào hệ thống pháp luật là rất cần thiết Thực tế, quyền sử dụng đất, cũng như việc cho thuê doanh nghiệp … thể hiện quyền của người khác được hành xử trực tiếp trên tài sản của Nhà nước, có nghĩa là có sự tồn tại nhiều loại vật quyền khác ngoài quyền sở hữu Việc ghi nhận vật quyền nói chung góp phần khai thác có hiệu quả tài sản của Nhà nước và ổn định đời sống nhân dân Hơn nữa, việc thừa nhận quyền sở hữu là vật quyền, và coi quyền chiếm hữu không nằm trong nội dung của quyền sở hữu có nhiều lợi ích quan trọng: thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc khai thác có hiệu quả tài sản của Nhà nước bởi có căn cứ pháp lý vững chắc để xác định các vật quyền khác từ các chi phân của quyền sở hữu và chuyển giao tài sản cho người không phải là chủ sở hữu của tài sản; thứ hai, tạo ra sự minh bạch và rõ ràng giữa các quyền tránh các rủi ro cho cả chủ sở hữu và người có vật quyền khác trên tài sản; thứ ba, tạo ra mối quan hệ tốt giữa các thành viên cộng đồng nói chung và những người xóm giềng nói riêng; và thứ tư, thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển, và tăng cường các giải pháp pháp lý cho việc giải quyết các quan hệ kinh tế phức tạp

do kinh tế thị trường và quan hệ quốc tế mang lại

- Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại

- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữa thông qua việc hoàn thiện pháp luật dân sự và trên thực tế ở Việt Nam.

Ngày đăng: 08/12/2021, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w