1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội học Phân tích giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc ở Việt Nam

16 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 283,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang thực hiện tiến hành quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng phải đối mặt với nhiều vấn đề quan trọng, trong đó vấn đề nan giải nhất chính là bình đẳng dân tộc. Nếu các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa là thiệt thòi nhất, những biến động kinh tế xã hội trong những năm qua có ảnh hưởng đến sự phát triển vùng dân tộc thiểu số. Vì thế Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế. Vậy vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào và Việt Nam đã và đang giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc như thế nào? Việt Nam đã chống phân biệt chủng tộc như thế nào? Và Việt Nam đã và đang làm gì để chống chủ nghĩa bá quyền?

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGỮ VĂN ANH

TIỂU LUẬN

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỌC

Đề tài:

PHÂN TÍCH VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BÌNH

ĐẲNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Sinh viên: Dương Thị Thanh Thảo MSSV: 2057011149

Lớp: 20CLC05 Thời gian thực hiện: 7/2021- Học kì II

Trang 2

I MỞ ĐẦU

Việt Nam đang thực hiện tiến hành quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng phải đối mặt với nhiều vấn đề quan trọng, trong đó vấn đề nan giải nhất chính là bình đẳng dân tộc Nếu các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa là thiệt thòi nhất, những biến động kinh tế xã hội trong những năm qua có ảnh hưởng đến sự phát triển vùng dân tộc thiểu số Vì thế Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế Vậy vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào và Việt Nam đã và đang giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc như thế nào? Việt Nam đã chống phân biệt chủng tộc như thế nào? Và Việt Nam đã và đang làm gì để chống chủ nghĩa bá quyền?

Xuất phát từ nhận thức trên, em xin thực hiện đề tài: “Phân tích và giải quyết về

vấn đề bình đẳng dân tộc ở Việt Nam”.

I NỘI DUNG

A Vấn đề dân tộc được hiểu như thế nào?

* Định nghĩa Quyền bình đẳng là một quyền cơ bản của con người Đó là quyền được xác lập

tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, có quyền

và nghĩa vụ ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau Các dân tộc đều hoàn toàn bình đẳng với nhau Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc Tất cả các dân tộc, dù đông hay ít người, có trình độ cao hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào

* Bình đẳng dân tộc là gì?

Quyền bình đẳng là một quyền cơ bản của con người Đó là quyền được xác lập

tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, có quyền

Trang 3

dân tộc đều hoàn toàn bình đẳng với nhau Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc Tất cả các dân tộc, dù đông hay ít người, có trình độ cao hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào

B Giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc

1 Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc như thế nào?

- Trong một quốc gia nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được luật pháp bảo vệ và được thực hiện trong thực tế, trong đó viejc khắc phục sự chêch lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc

do lịch sử để lại có ý nghĩa căn bản

- Trong quan hệ giữa các quốc gia- dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt dân tộc, chủ nghĩa bá quyền nước lớn; chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hậu, chậm phát triển về kinh tế Mọi quốc gia đều bình đẳng trong quan hệ quốc tế

2 Thực trạng chung hiện nay

- Có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong suốt hơn 90 năm qua theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Theo quan điểm của Đảng, thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở

để bảo đảm công bằng xã hội giữa các dân tộc

- Cho đến nay, hệ thống chính sách dân tộc được ban hành khá đầy đủ, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững

Trang 4

mạnh Các chương trình đã đem lại những hiệu quả tích cực về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta

- Tuy nhiên, so với sự phát triển của đất nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiếu số vẫn là vùng chậm phát triển nhất Điều đó cho thấy, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta vẫn còn những khó khăn, bất cập Các nguyên nhân khách quan và chủ quan là: Một số chính sách thiếu tính cụ thể, khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn Bộ máy tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu Thực tế cho thấy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đồng đều nhau

Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận và ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để vươn lên, chưa sử dụng hiệu quả vốn đầu tư Chính sách dân tộc hiện nay vẫn chủ yếu là các chính sách hỗ trợ trực tiếp, chưa có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ có điều kiện, với mục đích cung cấp kỹ năng, tự tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số Bởi vậy, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người vẫn còn mang tư tưởng

ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn vươn lên để thoát nghèo

3 Lý do luật pháp bảo vệ lợi ích quyền lợi của các dân tộc

- Theo “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người” , con người là nguồn cội, người dân là chủ nhân của đất nước – nguyên lý ấy là nền tảng, là cái bất biến của mọi quốc gia, dân tộc

- Đặc biệt, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong Tuyên ngôn Độc lập do Người soạn thảo được công bố trước quốc dân, đồng bào, ngay tại lời đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh

Trang 5

phúc” và rằng “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, quyền con người, quyền tự do dân chủ phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm, bảo vệ bằng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Theo quan điểm của Người

“sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật”,“dân chủ đúng đắn cũng ở nơi pháp luật”

- Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận“bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân” (Lời nói đầu) và“tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ 1)

C Nội dung giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc

1/ Vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào? Việt Nam đã và đang làm gì để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc?

- Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số (chiếm 85,3% dân số cả nước); 53 dân tộc còn lại có 14,123 triệu người(2) (chiếm 14,7% dân số cả nước)( Theo Trung tâm Quyền của người dân tộc thiểu số và miền núi (HRC)) Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú và sinh sống thành cộng đồng, chủ yếu ở miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa Hình thái cư trú giữa các dân tộc là phân tán và xen kẽ với sắc thái văn hóa rất phong phú, đa dạng

- Việt Nam chú trọng chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người dân, bình đẳng giữa các dân tộc, chú trọng hơn việc phát triển đời sống cho người dân tộc thiểu số về mọi mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế…

Trang 6

a) Kinh tế:

- Hiện nay, đời sống của một số bộ phận người dân đồng bào dân tộc thiểu

số, vùng đặc biệt khó khăn gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao Một số chính sách an sinh

xã hội, giảm nghèo còn chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao và chưa khuyến khích tốt người nghèo vươn lên để thoát nghèo Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao; khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn sẽ ngày càng tăng nếu không có những chính sách điều tiết phù hợp

- Hàng loạt các chính sách giảm nghèo được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp với nguồn kinh phí huy động từ Chính phủ, cộng đồng và các tổ chức

xã hội quốc tế Một ví dụ thực tế cho thấy, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã và đang thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó chính sách đặc thù “Hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020” được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 Theo đó, mục tiêu chính sách là tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất về đời sống, sản xuất; từng bước cải thiện

và nâng cao điều kiện sống cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn Sau 3 năm triển khai thực hiện chính sách, từ nguồn vốn sự nghiệp ngân sách trung ương phân bổ, ngân sách địa phương

bố trí trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ cho 7.599 lượt hộ, trong đó hỗ trợ đất ở 1.660 hộ từ nguồn ngân sách địa phương; hỗ trợ đất sản xuất cho 122 hộ,

hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 818 hộ và hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán 4.999

hộ từ nguồn vốn sự nghiệp ngân sách trung ương với tổng kinh phí hỗ trợ các nội dung là 14.325,3 triệu đồng Để các đối tượng được thụ hưởng có thêm kinh phí, có điều kiện mở rộng phát triển sản xuất, chăn nuôi, mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2017-2020 trên địa

Trang 7

bàn tỉnh đã tổ chức cho 2.247 lượt hộ vay vốn với kinh phí 87.110 triệu đồng

- Phạm vi quốc tế: Tính đến nay, Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nước (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 hiệp định thương mại tự do FTA, bao gồm cả các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU

(EVFTA)… hiện đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh

tế toàn diện khu vực (RCEP) Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức Đây vừa là

cơ hội để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển vừa là thách thức và nếu không bắt kịp thì nguy cơ tụt hậu là hiện hữu

b) Chính trị:

- Quyền tham gia bầu cử, ứng cử được hiến pháp quy định là quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân Hiện nay, hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu, trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng chậm; cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, chưa tập hợp được đông đảo đồng bào

- Trong nhiều nhiệm kỳ bầu cử vừa qua, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu ở vùng đồng bào dân tộc thường chiếm tỷ lệ rất cao Số lượng đại biểu Quốc hội người DTTS đã tăng theo các khóa: Khóa I (1946) chiếm 10,2%, khóa XIII chiếm 15,6%, cao hơn tỷ lệ dân số DTTS, khóa XII đạt cao nhất là 17,7%, khóa XIV có 86 đại biểu Quốc hội là người DTTS thuộc 32 dân tộc khác nhau (chiếm tỷ lệ 17,3%) Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày

11/01/2021 tiếp tục quy định số lượng, cơ cấu, thành phần Đại biểu Quốc hội khóa XV, trong đó đại biểu là người DTTS đảm bảo tỷ lệ ít nhất 18% tổng số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, 14

Trang 8

nhiệm kỳ qua, chưa nhiệm kỳ nào số đại biểu người DTTS đạt tỷ lệ 18% so với tổng số đại biểu Quốc hội, nhiệm kỳ khóa XII đạt cao nhất là 17,7% Hiện nay còn 4 dân tộc (Lực, Ơ đu, Brâu và Ngái) chưa có đại diện tham gia các khóa Quốc hội và đây cũng là mục tiêu cần phấn đấu để các dân tộc đều có đại biểu Quốc hội

- Ở phạm vi quốc tế, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế

và khu vực Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

c) Văn hóa:

- Trên thực tế, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao Văn hóa các tộc người cần được đối xử công bằng dựa trên cơ sở đa dạng văn hóa vì mục tiêu phát triển bền vững Để thực hiện được mục tiêu

đó, một số nhiệm vụ cần làm là: chấp nhận đa dạng văn hóa, giữ gìn ngôn ngữ tộc người, giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người, ý thức tự giác tộc người, văn hóa góp phần phát triển kinh tế - xã hội

- Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về bảo tồn và phát huy vai trò của các di sản văn hóa như chữ viết, tiếng nói, hoạt động nghệ thuật, trang phục Từ năm 2010 đến nay, Nhà nước cũng như các ngành

và địa phương đã đề ra các quyết sách và dự án nhằm ngăn chặn sự suy thoái cũng như bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Thực hiện Nghị định số 82/2010/NÐ-CP của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, đến nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700

Trang 9

trường (hơn 121.500 học sinh) học tiếng DTTS, như Thái, Mông, Ba Na, Gia Rai, Chăm, Khmer, Ê Ðê…

- Một ví dụ điển hình là mô hình tổ hợp tác dệt thổ cẩm Tây Nguyên được tổ chức tại một số nơi được xem là “chiếc nôi” của thổ cẩm ở phường Thắng Lợi, Quang Trung (thành phố Kon Tum)…Gắn với yêu cầu hỗ trợ khôi phục nghề truyền thống, Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp mở lớp dạy nghề dệt thổ cẩm cho chị em người dân tộc Rơ Măm- một trong hai dân tốc rất ít người của tỉnh ở làng Le, xã biên giới Mô Rai, huyện Sa Thầy Trong các hoạt động, sự kiện của các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trên địa bàn tỉnh, hội viên và chị em đều được khuyến khích mặc trang phục dân tộc thiểu số của mình

- Ở phạm vi quốc tế, đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học có tầm ảnh hưởng quốc tế Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội

d) Giáo dục:

- Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến quyền học tập của người dân, trong đó có quyền học tập của người dân tộc thiểu số

Trong những năm qua, quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở nước ta

đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên việc bảo đảm quyền học tập của người dân tộc thiểu số hiện nay vẫn đang đối diện với nhiều

Trang 10

khó khăn, thách thức, cần phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới

- Phát triển giáo dục vùng DTTS theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc Quy định cộng điểm ưu tiên đối tượng và khu vực ưu tiên theo quy định của Bộ giáo dục phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người DTTS khi tham gia các kì thi tuyển sinh đại học; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên DTTS Học sinh, sinh viên người DTTS rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng DTTS phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Các chính sách cho học sinh, sinh viên vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm chính sách học bổng; miễn giảm học phí; trợ cấp xã hội, hỗ trợ học tập; chính sách ưu tiên tuyển sinh vào đại học, cao đẳng; chính sách phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người;

- Minh họa thực tiễn:

+ Phạm vi trong nước: thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành những chính sách “Phát triển giáo dục, đào tạo dành riêng cho Tây Nguyên” Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum trong việc thực hiện

Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg hỗ trợ tiền ăn cho học sinh trong các trường dân tộc bán trú; Nghị quyết ngày 06/9/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Đăk Nông từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021 Kết quả cho thấy năm học 2016

- 2017, Tây Nguyên có 59 trường phổ thông DTNT, trong đó 06 trường cấp tỉnh và 53 trường cấp huyện Tổng số học sinh phổ thông

Ngày đăng: 08/12/2021, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w