LỜI MỞ ĐẦUChủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, thụ động mà nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, gắn liền với hoạt động thực tiễ
Trang 1VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con đường biện chứng của quá trình nhận thức và liên hệ
tới hoạt động của học viên.
HÀ NỘI, 2021
Trang 2Mục Lục
PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN 2 NỘI DUNG 4
2.1 Khái quát và chứng minh các vấn đề lý luận 4
2.1.1 Nhận thức là gì 4
2.1.2 Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng 5
2.1.3 Tư duy trừu tượng đến thực tế 11
2.2 Liên hệ tới hoạt động của học viên 12
PHẦN 3 KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, thụ động mà nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, gắn liền với hoạt động thực tiễn Quá trình đó được Lênin chỉ ra như sau “ từ thực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng nhận thức”
Con đường biện chứng nhận thức là một đề tài đã được xuất hiện nhiều Và khi đó, vấn đề này có rất nhiều ý kiện , nhận xét, quan điểm khác nhau , vì khả năng nhận thức của mỗi con người là không giồng nhau Ở trong lịch sử Triết học, Hê ghen có thể được coi là người có công lớn trong việc xác định vài trò của logic trong nhận thức Nhưng với Hê ghen là biện chứng của ý niệm, ý niệm thuần túy Ắng ghen đánh giá rang Hê ghen là chủ nghĩa duy vật lộn đầu, cũng có thể cho rằng Hê ghen đã tạo ra một con người nhưng con người đó lại lộn đầu xuống đất và hai chận ở trên Dựng lại con người đó đứng bằng hai chân nhờ vào triết học Mác-Lênin, từ tự nhiên khách quan hình thành nên nhận thức bên trong con người, trước con người, có các hiện tượng
tự nhiên, đó là những con người bản năng, không tự tách khỏi thế giới tự nhiên Con người có ý thức tự tách khỏi tự nhiên đó gọi là sự nhận thức, chúng là những điểm nút giúp con người nhận thức và nẵm vững Lênin đã khẳng định rằng, biện chứng của nhận thức là sự phản ánh biện chứng của thế giới khách quan và nhận thức được thế giới khách quan phải tuân thủ logic biện chứng của thế giới khách quan, logic và lý luận nhận thức phải được suy diễn từ sự phát triển của toàn bộ đời sống của tự nhiên và tinh thần Tư duy tiến lên từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, Những sự trừu tượng về vật chất, quy luật tự nhiên sự trừu tượng về giá trị Tất cả sự trừu tượng khoa học phản ánh
tự nhiên sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn
Trang 4Lý luận nhận thức là học thuyết về sự nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, con đường và phương pháp nhận thức phương thức tiến tới văn minh Mỗi hệ thống triết học điều có lý luận nhận thức riêng nó luôn là nội dung chiếm vị trí quan trọng trong mỗi hệ thống Vấn đề có bản của triết học là điểm xuất phát của lý luận nhận thức, từ đây hình thành những quan điểm khác Đây là lĩnh vực thể hiện cuộc đấu tranh gay gắt giữa các hệ thống triết học duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình trong lịch sử triết học Lý luận nhận thức duy vật biện chứng là một trong những nội dung là cho triết học Mác-lênin trở thanh duy vật triệt để, biện chứng sâu sắc
PHẦN 1 NỘI DUNG
1.1 Khái quát và chứng minh các vấn đề lý luận
2.1.1 Nhận thức là gì.
Trước khi tìm hiểu vấn đề con đường biện chứng của quá trình nhận thức, ta cần hiểu rõ nhận thức là gì?
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó
Quan niệm trên đây về nhận thức cũng chính là quan niệm duy vật biện chứng về bản chất của nhận thức Quan niệm này xuất phát tứ bốn nguyên tắc
cơ bản sau đây:
Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người
Thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan vào bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có những cái mà con người chưa nhận thức được
Trang 5Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc
và toàn diện hơn, …
Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Theo triết học Mác – Lênin, nhận thức không phải là sự phản ánh thụ động, giản đơn, mà là một quá trình biện chứng
Như Lênin đã chỉ ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
Con đường biện chứng của quá trình nhận thức gồm hai khâu sau: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế
2.1.2 Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
2.1.2.1 Trực quan sinh động
Trực quan sinh động còn được gọi là nhận thức cảm tính, đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Nó được thể hiện dưới 3 hình thức cảm giác, chi giác, biểu tượng
Cảm giác:
Đây là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của mọi hiểu biết của con người
Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan của con người Các giác quan đó là thị giác (mắt), thính giác (tai), vị giác (lưỡi), khứu giác (mũi), xúc giác (tay, chân tiếp xúc với sự vật…) Sự vật hoặc hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan con người
Trang 6thì gây nên cảm giác, như cảm giác về màu đỏ, tiếng nhạc, vị chát, mùi thơm, nước nóng…
Cảm giác là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển hóa năng lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố của
ý thức Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ta có thể chứng minh bằng các ví dụ về cảm giác như sau:
Đầu tiên khi nói đến tác động tạo nên cảm giác thì ta phải nhắc đến đó
là thị giác Khi ta nhìn thấy một vụ cháy, sẽ sản sinh ra cảm giác lo lắng, bất
an, … Còn nếu chúng ta thấy một thanh niên dẫn bà cụ qua đường sẽ cảm thấy thật nhiều tình yêu thương san sẻ trong cuộc sống
Tiếp đến thính giác, khi ta nghe được âm thanh từ một người lạ gọi chúng ta sẽ có cảm giác mới mẻ, cảm giác khác lạ không hề quen thuộc như khi nghe âm thanh từ những người quen thường tiếp xúc Hoặc là khi nghe một bài hát đồng quê ta có cảm giác về cái gì đó tuổi thơ, giản dị, mộc mạc; hoặc là nghe một bản nhạc về tình yêu đôi lứa thì lại đem lại cảm giác thăng hoa, mê mị, đắm chìm trong những khoảnh khắc đôi lứa
Sau đó là đến vị giác, khi ta ăn một đồ vật có vị khác nhau sẽ đem đến cảm giác khác nhau Như ăn uống một ly nước: một ly có vị ngọt và một ly
có vị chua, thì sẽ tạo cho người uống có cảm giác, cảm nhận khác nhau khi uống hai ly nước đó Ly nước ngọt sẽ đem lại cảm giác ngọt ngào sau khi uống, còn ly nước có vị chua sẽ tạo cảm giác chua sau khi uống
Ngoài ra, cảm giác còn là phản ánh giác quan khứu giác như là khi ta ngửi thấy các mùi hương khác nhau Khi ta ngửi được mùi hương của tinh dầu thơm sẽ đem lại cảm giác thoải mái, tươi mới, dễ chịu; nếu như ta ngửi
Trang 7được những mùi như nhựa đường, dầu, khói sẽ tạo cảm giác ngột ngạt khó chịu
Cuối cùng cảm giác còn phản ánh giác quan xúc giác Nếu như ta cầm, nắm, chạm và vật quá nóng sẽ tạo cảm giác đau rát do đồ vật kia quá nóng không trong trạng thái bình thường Hoặc là khi ta chạm, sờ vào tấm lụa thì cảm giác sẽ là mềm, mịn, thích thú
Tri Giác:
Đây là hình thức tổng hợp nhiều cảm giác đem lại hoàn chỉnh hơn về sự vật
Tri giác là sự phản ánh tương đối toàn vẹn của con người về những biểu hiện của sự vật, hiện tượng khách quan, cụ thể, cảm tính, được hình thành trên
cơ sở liên kết, tổng hợp những cảm giác về sự vật, hiện tượng So với cảm giác, tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn, nhưng đó vẫn chỉ là sự phản ánh đối với những biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng khách quan, chưa phản ánh được cái bản chất, quy luật khách quan
Ta có thể minh chứng qua tri giác qua các trường hợp cụ thể sau:
Đối với thực tiễn, trong quá trình học tập và tiếp thu tri thức Đầu tiên chúng ta phải nhìn và lắng nghe giáo viên giảng bài (Thị giác và Thính giác), nghe để tiếp thu kiến thức, trau dồi vốn hiểu biết của chúng ta Ngoài việc nghe giáo viên giảng bài thì chúng ta còn có những tiết thực hành, chúng ta phải trực tiếp làm việc (Xúc giác) với những kiến thức đã được giảng dạy trên lớp Chẳng hạn như trong quá trình thực hành chúng ta quan sát thấy hiện tượng lạ (Thị giác) như có khói bay lên và có mùi hắc (Khứu giác) phải ghi
Trang 8chép lại vào báo cáo và xem lại những ghi chép đã được dạy để biết được mình đã sai ở đâu để rút ra kinh nghiệm và bài học sau này
Sau khi trải qua nhiều cảm giác do phản ánh từ các giác quan mà đã tổng hợp được nhiều biểu hiện, sự liên kết giữa học thuật với thực hành và các phán đoán đã đúc kết ra tri thức trong học tập và rèn luyện bản thân
Đối với trong thực tế hằng ngày, khi chúng ta mua một chiếc bánh kem
để tổ chức buổi sinh nhật Thì vấn để đầu tiên mà chúng ta quan tâm đó mà hình thức bên ngoài xem có đẹp, bắt mắt hay không (Thị giác) Sau đó mới đến chất lượng của chiếc bánh có tốt không, khi ăn có thấy ngon hay không (Vị giác)
Khi trải qua những vấn đề thực tế trong đời sống, ví dụ như trường hợp mua bánh ở trên thì quá trình nhiều lần mua ta sẽ biết nên chọn loại nào phù hợp với ý nghĩa hôm đó, và cũng đúc kết được rằng quán nào bán sẽ có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn Chính vì vậy tri giác chính là tổng hợp các cảm giác, tri thức tổng hợp, và so sánh…
Biểu tượng:
Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được con người giữ lại trong trí nhớ, tái hiện hình ảnh về sự vật, hiện tượng khách quan vốn đã được phản ánh bởi cảm giác và tri giác; nó là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, đồng thời nó cũng chính là bước quá độ từ giai đoạn nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính Đặc điểm của biểu tượng là có khả năng tái hiện những hình ảnh mang tính chất biểu trưng về sự vật, hiện tượng khách quan, nó có tính chất liên tưởng về hình thức bên ngoài, bởi thế
nó bắt đầu có tính chất của những sự trừu tượng hóa về sự vật, hiện tượng Đó
là tiền đề của những sự trừu tượng hóa của giai đoạn nhận thức lý tính
Trang 9Trong biểu tượng chỉ giữ lại những nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật
do cảm giác, tri giác đem lại trước đó Biểu tượng thường hiện ra khi có những tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớ con người
Ta có thể minh chứng qua các ví dụ thực tiễn sau:
Vẫn là ví dụ về thực tiễn trong quá trình học tập Thì chúng ta kết hợp những tri thức đã được học đúc rút từ quá trình rèn luyện, tổng hợp nhiều yếu
tố tạo thành kết hợp với những cảm giác hiện tại Lưu trữ và tái hiện chúng trong đầu chúng ta những hình ảnh mang tính chất tái hiện sự vật, hiện tượng, tri thức đó Ngoài ra nó còn mang tính chất liên tưởng các sự vật, hiện tượng, tri thức khác có liên quan Vì vậy có thể nói biểu tượng là tổng hợp các tri giác và cảm giác tạo nên và tái hiện các sự vật hiện tượng bằng hình ảnh giữ lại trong trí nhớ
Ở sự tưởng tượng đã mang tính chủ động, sáng tạo của con người Tưởng tượng có vai trò rất to lớn trong hoạt động sáng tạo khoa học và sáng tạo nghệ thuật Biểu tượng tuy vẫn còn mang tính chất cụ thể, sinh động của nhận thức cảm tính, song đã bắt đầu mang tính khái quát và gián tiếp Có thể xem biểu tượng như là hình thức trung gian quá độ cần thiết để chuyển từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính
Trên cơ sở những tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp, nhận thức sẽ phát triển lên một giai đoạn cao hơn, đó là nhận thức lý tính Nhận thức lý tính còn gọi là tư duy trừu tượng
2.1.2.2 Tư duy trừu tượng.
Là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của nhận thức, nó nảy sinh trên
cơ sở nhận thức cảm tính
Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ rất hạn
Trang 10những cái như độc lập, tự do, hạnh phúc, tốc độ ánh sáng, hình thái kinh tế –
xã hội…
Muốn hiểu được những cái phức tạp như vậy cần phải có sức mạnh của
tư duy trừu tượng Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan
Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy
Tư duy có tính năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật, do đó phản ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn
Muốn tư duy, con người phải sử dụng các phương pháp như so sánh, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa…
Tư duy trừu tượng, hay nhận thức lý tính, được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy lý
Khái Niệm:
Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật, hiện tượng Sự hình thành khái niệm là kết quả của
sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng hay một lớp các sự vật, hiện tượng Nó là cơ sở hình thành nên những phán đoán trong quá trình con người tư duy về sự vật, hiện tượng khách quan Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học Bởi từ những khái niệm mà ta biết được đặc điểm, thuộc tính của nó để có thể tư duy và phát triển khoa học
Khái niệm là những vật liệu tạo thành ý thức, tư tưởng Khái niệm là những phương tiện để con người tích lũy thông tin, suy nghĩ và trao đổi tri thức với nhau
Khái niệm có tính chất khách quan bởi chúng phản ánh những mối liên
hệ, những thuộc tính khách quan của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Khái niệm không phải là bất biến mà luôn vận động, phát triển Bởi vì hiện thực khách quan luôn vận động và phát triển nên khái niệm phản ánh hiện thực đó cũng phải vận động, phát triển theo, liên hệ chuyển hóa lẫn nhau, linh hoạt, năng động
Trang 11Vì vậy, khi vận dụng khái niệm, ta phải chú ý đến tính khách quan của nó Nếu áp dụng khái niệm một cách chủ quan, tùy tiện sẽ rơi vào chiết trung và ngụy biện Do đó, ta phải chú ý đến tính biện chứng, sự mềm dẻo của các khái niệm khi vận dụng chúng Phải mài sắc, gọt giũa các khái niệm, phải bổ sung những nội dung mới cho các khái niệm đã có, thay thế các khái niệm cũ bằng khái niệm mới để phản ánh hiện thực mới, phù hợp với thực tiễn mới
Phán đoán:
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng được hình thành thông qua việc liên kết các khái niệm với nhau theo phương thức khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức
Phán đoán là hình thức liên hệ giữa các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong ý thức của con người Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số đơn giản những khái niệm tạo thành mà là quá trình biện chứng trong đó các khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Suy lý:
Suy lý là một hình thức của tư duy trừu tượng được hình thành trên cơ sở liên kết các phán đoán nhằm rút ra tri thức mới về sự vật, hiện tượng Điều kiện để có bất cứ một suy lý nào cũng phải là trên cơ sở những tri thức đã có dưới hình thức là những phán đoán, đồng thời tuân theo những quy tắc logic của các loại hình suy luận, đó là suy luận quy nạp (đi từ những cái riêng đến cái chung) và suy luận diễn dịch (đi từ cái chung đến mỗi cái riêng, cái cụ thể)
Ví dụ: Ta có 2 phán đoán làm tiền đề: “Giấy rất dễ cháy” và “Sách làm từ giấy” Từ 2 phán đoán này, ta đi đến phán đoán mới: “Sách rất dễ cháy” Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm, thì suy lý là sự liên
hệ giữa các phán đoán Suy lý là công cụ hùng mạnh của tư duy trừu tượng, thể hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp
Có thể nói, toàn bộ các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý Nhờ có suy lý, con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan Tuy nhiên, để phản ánh đúng hiện thực khách quan, quá trình suy lý phải xuất phát từ những tiền đề đúng và phải tuân theo những