1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung cơ bản về bản thể luận trong triết học Trung Quốc thời cổ đạ

22 261 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 46,72 KB
File đính kèm bản thể luận.rar (41 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử triết học, triết học phương Đông trong đó có nổi bật cótriết học Trung Quốc các nhà khoa học quan tâm đến các công trình nghiêncứu vấn đề bản thể luận.. Đây chính là hạt nh

Trang 1

MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất phổ cập nhất về các sự vật, hiệntượng trong tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra các quy định của đối tượngnghiên cứu Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thểluận và nhận thức luận Nó là cơ sở của vấn đề, vì giải quyết nó sẽ quyết định

cơ sở để giải quyết các vấn đề khác nhau của triết học Đây là những lý luận

về nguồn gốc, sự tồn tại hoặc khái niệm về thế giới hoặc bản thể luận Trướckhi có sự ra đời của triết học Mác – Leenin triết học còn được coi là khoa họccủa các khoa học Tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, đặc biệt là lịch sử triếthọc cổ điển Đức, Ph Awngghen đã khái quát: ‘Vấn đề cơ bản nhất của mọitriết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”giữa ý thức và vật chất, giữa tinh thần và giới tự nhiên Đó là những lý luận

vè nguồn gốc, về sự tồn tại, hay những quan niệm về nguồn gốc của thế giớihay còn gọi là bản thể luận

Trong lịch sử triết học, triết học phương Đông trong đó có nổi bật cótriết học Trung Quốc các nhà khoa học quan tâm đến các công trình nghiêncứu vấn đề bản thể luận Những quan niệm về bản thể luận rất khác nhau,nhưng tựu chung lại là phát triển theo cách này hay cách khác, ở trình độ lýluận hay chỉ những quan niệm rời rạc thì đều hướng tới việc lý giải sự tồn tạihiện thực trên lát cắt cội nguồn Đây chính là hạt nhân cho việc hình thành thếgiới quan đúng đắn của triết học Mác, để hiểu rõ hơn về lịch sử nghiên cứu vềbản thể luận em chọn đề tài: “ Nội dung cơ bản của bản thể luận trong triếthọc Trung Quốc thời cổ đại và ý nghĩa hiện thời của nó”

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌCKHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

-TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Nội dung cơ bản về bản thể luận trong triết học Trung Quốc thời cổ đại

và ý nghĩa hiện thời của nó

Hà Nội, 2021

Trang 2

Mục lục

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 5

1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC VÀ BẢN THỂ LUẬN 5

1.1 Triết học 5

1.1.1 Nguồn gốc triết học 5

1.1.2 Khái niệm về triết học 5

1.2 Bản thể luận trong lịch sử triết học 6

1.2.1 Khái niệm về bản thể luận 6

1.2.2 Quan niệm về bản thể luận trong lịch sử triết học Phương Tây 7

1.2.3 Quan niệm về bản thể luận trong lịch sử triết học Phương Đông 7

2 BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ Ý NGHĨA 8

2.1 Hoàn cảnh ra đời triết học Trung Quốc cổ đại 8

2.2 Đặc điểm của triết học Trung Quốc cổ đại 9

2.3 Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc cổ đại 10

2.3.1 Trường phái triết học của phái đạo gia 10

2.3.2 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành 11

2.3.3 Quan điểm của Nho gia 15

2.4 Ý nghĩa hiện thời về bản thể luận trong triết học cổ đại Trung Quốc 17

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất phổ cập nhất về các sự vật, hiệntượng trong tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra các quy định của đối tượngnghiên cứu Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thểluận và nhận thức luận Nó là cơ sở của vấn đề, vì giải quyết nó sẽ quyết định

cơ sở để giải quyết các vấn đề khác nhau của triết học Đây là những lý luận

về nguồn gốc, sự tồn tại hoặc khái niệm về thế giới hoặc bản thể luận Trướckhi có sự ra đời của triết học Mác – Leenin triết học còn được coi là khoa họccủa các khoa học Tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, đặc biệt là lịch sử triếthọc cổ điển Đức, Ph Ăngghen đã khái quát: ‘Vấn đề cơ bản nhất của mọi triếthọc, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại” giữa

ý thức và vật chất, giữa tinh thần và giới tự nhiên Đó là những lý luận vềnguồn gốc, về sự tồn tại, hay những quan niệm về nguồn gốc của thế giới haycòn gọi là bản thể luận

Trong lịch sử triết học, triết học phương Đông trong đó có nổi bật cótriết học Trung Quốc các nhà khoa học quan tâm đến các công trình nghiêncứu vấn đề bản thể luận Những quan niệm về bản thể luận rất khác nhau,nhưng tựu chung lại là phát triển theo cách này hay cách khác, ở trình độ lýluận hay chỉ những quan niệm rời rạc thì đều hướng tới việc lý giải sự tồn tạihiện thực trên lát cắt cội nguồn Đây chính là hạt nhân cho việc hình thành thếgiới quan đúng đắn của triết học Mác, để hiểu rõ hơn về lịch sử nghiên cứu vềbản thể luận em chọn đề tài: “ Nội dung cơ bản của bản thể luận trong triếthọc Trung Quốc thời cổ đại và ý nghĩa hiện thời của nó”

Trang 4

sự phát triển văn minh, văn hóa, khoa học Con người, với kỳ vọng được đápứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình đã sáng tạo ranhững luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh

và thế giới của chính con người Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiệnsớm nhất trong lịch sử các loại hình lý luận của nhân loại Với tính cách làmột hình thái ý thức xã hội, triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xãhội

1.1.2 Khái niệm về triết học

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ VI trước côngnguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và HyLạp cổ đại

Từ khi ra đời đến nay, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, các khái niệmtriết học được đưa ra rất phong phú và đa dạng Theo người Trung Quốc, triếthọc là biểu hiện cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn

bộ thế giới thiên- địa- nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người.Theo người Ấn Độ cổ đại, triết học là darshana nghĩa gốc là chiêm ngưỡng,hàm ý là tri thức dựa trên ý trí, là con đường để dẫn dắt con người đến với lẽ

Trang 5

phải Theo người Hy Lạp cổ đại, triết học là philosophia mang nghĩa là giảithích vũ trụ, định hướng nhận thức và hành vi, vừa nhấn mạnh đến khát vọngtìm kiếm chân lý của con người Có thể thấy rằng ngay từ khi mới ra đời, dù ởPhương đông hay Phương Tây triết học đều được coi là đỉnh cao của trí tuệ, là

sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, quy luật và bảnchất của sự vật

1.2 Bản thể luận trong lịch sử triết học

1.2.1 Khái niệm về bản thể luận

Thuật ngữ ‘bản thể luận’ nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Nó là sự kết hợpgiữa hai từ: on: cái thực tồn, và logos lời lẽ, học thuyết tạo thành "Họcthuyết về sự tồn tại" Theo nghĩa này bản thể luận có thể hiểu là học thuyếttriết học về sự tồn tại nói chung, hoàn toàn độc lập với các dạng tồn tại cụ thểcủa nó, đến thế kỷ XVII thuật ngữ này mới xuất hiện chính thức và đưa ranhững cách hiểu đặc thù về nó với tư cách là quan niệm, luận thuyết về sự tồntại

Khái niệm bản thể luận được dùng trong các trường phái triết học cónghĩa rộng và nghĩa hẹp Bản thể luận theo nghĩa rộng để chỉ bản chất tối hậucủa mọi tổn tại, mà bản chất này phải thông qua nhận thức luận mới có thểnhận thức được Do đó, nghiên cứu bản chất tối hậu của mọi tồn tại là bản thểluận, còn nghiên cứu nhận thức như thế nào là nhận thức luận Cách tiếp cậnnày tạo ra sự đối lập tương đối giữa bản thể luận và nhận thức luận Bản thểluận theo nghĩa hẹp, tức là trong bản thể luận theo nghĩa rộng lại có hai nộidung, một là nghiên cứu khởi nguyên và kết cấu của vũ trụ, hai là nghiên cứubản chất của vũ trụ, cái thứ nhất là vũ trụ luận, cái thứ hai là bản thể luận.Cách tiếp cận này tạo ra sự đối lập tương đối giữa bản thể luận và vũ trụ luận.Phẩn lớn các trường phái triết học trước Mác thường hiểu “bản thể luận” theo

Trang 6

nghĩa rộng, từ đó xây dựng nên học thuyết bản thể luận và nhận thức luận củamình, tuy nhiên giữa bản thể luận và nhận thức luận có mối quan hệ tương hỗvới nhau.

1.2.2 Quan niệm về bản thể luận trong lịch sử triết học Phương Tây

Trong khi phương Đông lấy xã hội, ánh sáng cá nhân gốc để nhìn xungquanh, đối tượng của triết học Phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạođức, tâm linh nên hướng nội Lấy trong để giải thích ngoài thì triết họcphương Tây lại có đối tượng rất rộng ôm toàn bộ tự nhiên, xã hội tư duy mà

có gốc là tự nhiên, lấy ngoại để giải thích trong xu hướng nổi bật là duy vật.Khái niệm khái quát “bản thể hiện” được xuất hiện ở thế kỷ XVII tại phươngTây Khái niệm này liên hệ mật thiết với quá trình hình thành triết họcphương Tây tới mức chính nó, chính sự lý giải về nó đã được tạo thành bảnchất của phương pháp tư duy triết học Tây Âu Trong mỗi thời kì triết họcphương Tây lại có những nhà triết học tiêu biểu với nhiều quan niệm về bảnthể luận khác nhau, điều đó đã tạo nên một bức tranh đầy đủ màu sắc về triếthọc phương Tây

1.2.3 Quan niệm về bản thể luận trong lịch sử triết học Phương Đông

Về mặt địa lý, "phương Đông cổ đại" bao gồm một vùng đất hết sứclớn, từ Ai Cập, Babilon tới Ấn Độ, Trung Hoa và nơi đây được ví với cáinôi của nền văn minh nhân loại Đại phương Đông cổ đại đã sớm sử dụngnhững lợi ích của vùng đồng bằng để có thể phát triển sản xuất Chính dựatrên những điều kiện đó, lịch sử triết học của nước phương Đông xuất hiện từrất sớm, vào khoảng thiên niên kỷ thứ III Trước công nguyên Sự phát triểncủa tư tưởng và triết học phương Đông cổ, trung đại có những điểm đặc biệtmang đậm bản sắc độc đáo so với triết học phương Tây, thế giới hiện đậm nét

ở một số quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, Ấn Độ với những quan niệm

Trang 7

về bản thể rất đặc sắc Lịch sử bản thể luận trong triết học phương Đông baogồm quan niệm triết học của Trung Quốc cổ đại và quan niệm triết học Ấn độ

cổ đại về bản thể luận

Trang 8

2 BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRONG TRIẾT HỌC

TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ Ý NGHĨA

2.1 Hoàn cảnh ra đời triết học Trung Quốc cổ đại

Trung Quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau.Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô khan,cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi Miền Nam có lưu vực sông Dương Tử khíhậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú Trung Quốc cổ đại có lịch

sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III tr CN kéo dài tới tận thế kỷ III tr CN với

sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mởđầu thời kỳ phong kiến tập quyền Trong khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sửTrung Quốc được phân chia làm hai thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr CN

về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII đến cuối thế kỷ III tr CN Trong thời kỳ thứnhất này, những tư tưởng triết học đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức là một

hệ thống Thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí làthế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc bấy giờ

Tư tưởng triết học thời kỳ này đã gắn chặt thần quyền và thế quyền và ngay từđầu nó đã lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnhvực đạo đức luân lý Đồng thời, thời kỳ này đã xuất hiện những quan niệm cótính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ đối lập lại chủnghĩa duy tâm, thần bí thống trị đương thời Trong thời kì thứ 2 này đã sảnsinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học kháhoàn chỉnh Đặc điểm các trường phái này là luôn lấy con người và xã hộilàm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn

đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán),Trung Quốc thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưuhoặc Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp

Trang 9

gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia Có thể nói, trừ Phật giáo được dunhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thờiXuân Thu - Chiến Quốc được bổ sung hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sửtrung cổ, đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng TrungQuốc cho tới thời cận đại.

2.2 Đặc điểm của triết học Trung Quốc cổ đại

Triết học Trung Quốc có những đặc điểm nổi bật: Thứ nhất, nhấn mạnhtinh thần nhân văn Trong tư tưởng triết học cổ, trung đại Trung Hoa, các loại

tư tưởng liên quan đến con người như triết học nhân sinh, triết học đạo đức,triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học tự nhiên có phần

mờ nhạt Thứ hai, chú trọng chính trị đạo đức Suốt mấy ngàn năm lịch sử cáctriết gia Trung Hoa đều theo đuổi vương quốc luân lý đạo đức, họ xem việcthực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người,đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Có thể nói, đây chính là nguyênnhân triết học dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu vềkhoa học thực chứng của Trung Hoa Thứ ba, nhấn mạnh sự hài hoà thốngnhất giữa tự nhiên và xã hội Khi khảo cứu các vận động của tự nhiên, xã hội

và nhân sinh, đa số các nhà triết học thời Tiền Tần đều nhấn mạnh sự hài hòathống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệtương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà mâu thuẫn là mục tiêu cuốicùng để giải quyết vấn đề Nho gia, Đạo gia, Phật giáo đều phản đối cái

"thái quá" và cái "bất cập" Tính tổng hợp và liên hệ của các phạm trù "thiênnhân hợp nhất", "tri hành hợp nhất", "thể dụng như nhất", "tâm vật dunghợp" đã thể hiện đặc điểm hài hòa thống nhất của triết học trung, cổ đạiTrung Hoa Thứ tư là tư duy trực giác Đặc điểm nổi bật của phương thức tưduy của triết học cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là cótrong sự cảm nhận hay thể nghiệm Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng,

Trang 10

tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyếnnhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng Hầu hết các nhà

tư tưởng triết học Trung Hoa đều quen phương thức tư duy trực quan thểnghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coitrọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, "lấy tâm để baoquát vật" Cái gọi là "đến tận cùng chân lý" của Đạo gia, Phật giáo, Lý học,v.v nặng về ám thị, chỉ dựa vào trực giác mà cảm nhận, nên thiếu sự chứngminh rành rọt

Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độchiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quantâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộcđời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội Tuy họ vẫn đứng trên quanđiểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề

xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xáclập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ươngtập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiếnphương Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết họcTrung Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởngsâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hànhtuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mangtính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnhhưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người TrungHoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa

Trang 11

2.3 Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc cổ đại

2.3.1 Trường phái triết học của phái đạo gia

Quan điểm về đạo: "Đạo" là sự khái quát cao nhất của triết học Lão Trang Ý nghĩa của nó có hai mặt: thứ nhất Đạo là bản nguyên của vũ trụ, cótrước trời đất, không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là "đạo" Vì "đạo"quá huyền diệu, khó nói danh trạng nên có thể quan niệm ở hai phương diện

-"vô" và "hữu" "Vô" là nguyên lý vô hình, là gốc của trời đất "Hữu" lànguyên lý hữu hình là mẹ của vạn vật Công dụng của đạo là vô cùng, đạosáng tạo ra vạn vật Vạn vật nhờ có đạo mà sinh ra, sự sinh sản ra vạn vật theotrình tự "đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật" Đạo còn

là chúa tể vạn vật và đạo là phép tắc của vạn vật Thứ hai, Đạo còn là quy luậtbiến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức "Đạo" sinh ra vạn vật (vì

nó là nguyên lý huyền diệu), đức bao bọc, nuôi dưỡng tới thành thục vạn vật(là nguyên lý của mỗi vật) Mỗi vật đều có đức mà đức của bất kỳ sự vật nàocũng từ đạo mà ra, là một phần của đạo, đức nuôi lớn mỗi vật tùy theo đạo.Đạo đức của Đạo gia là một phạm trù vũ trụ quan Khi giải thích bản thể của

vũ trụ, Lão Tử sáng tạo ra phạm trù Hữu và Vô, trở thành những phạm trù cơbản của lịch sử triết học Trung Hoa Học thuyết Đạo gia chiếm địa vị thống trị

về tư tưởng trong xã hội Suốt lịch sử hai ngàn năm, tư tưởng Đạo gia tồn tạinhư những tư tưởng văn hóa truyền thống và là sự bổ sung cho triết học Nhogia

2.3.2 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, bản thể luận được gọi là “bản cánluận”, dùng để chỉ một học thuyết nghiên cứu về các nguyên nhân căn bảncũng như những căn cứ căn bản của sự sinh thành, tồn tại và phát triển của vũtrụ vạn vật Nhìn chung, các triết gia Trung Quốc cổ đại đều quy bản căn của

Ngày đăng: 08/12/2021, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w