Triết học phương Đông và Triết họcphương Tây được xem là hai nhánh triết học lớn của thế giới.Trong đó triết học phương Tây là nhánh triết học phát triểnrực rỡ và có nhiều đóng góp lớn t
Trang 1MỤC LỤC
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG
TÂY
VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP
Mở đầu 1
Nội dung 3
1 Khái niệm “Triết học phương Tây” 3
2 Các đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây và dẫn chứng 3
2.1 Gắn liền với những thành tựu khoa học tự nhiên 4
2.2 Thế giới quan tổng thể 6
2.3 Có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái 7
2.4 Quan tâm đến vấn đề con người 8
2.5 Nghiêng về tính động, đấu tranh; vận động đi lên theo hình xoáy ốc 10
2.6 Mang tính “chủ biệt” 13
2.7 Có hệ thống thuật ngữ, khái niệm phạm trù 14
3 Ý nghĩa của phương pháp luận 15
Kết luận 21
Tài liệu tham khảo 22
Trang 2Mở đầu
Ra đời vào khoảng thế kỉ VIII đến thế kỉ thứ VI TCN, triếthọc luôn được xem là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâusắc về thế giới, nắm bắt được chân lí, hiểu được bản chất của
sự vật, hiện trượng Triết học phương Đông và Triết họcphương Tây được xem là hai nhánh triết học lớn của thế giới.Trong đó triết học phương Tây là nhánh triết học phát triểnrực rỡ và có nhiều đóng góp lớn trong sự phát triển rực rỡ củatriết học thế giới
Triết học phương Tây ra đời vào khoảng thế kỉ VII – VITCN khi chế độ nô lệ đã được xác lập và phát triển Khi đó,triết học được coi là hệ thống những quan điểm, quan niệmcủa con người về thế giới và vai trò của con người trong thếgiới Trải qua hơn hai nghìn sáu trăm năm hình thành và pháttriển, triết học phương Tây gồm năm điểm sáng chính: triếthọc Hy Lạp cổ đại, triết học Tây Âu thời trung cổ, triết học thời
kỳ Phục Hưng, triết học Tây Âu cận đại và triết học cổ điểnĐức Ra đời sớm nhất tại một trong những cái nôi của nền vănminh cổ đại, triết học Hy Lạp cổ đại là sự khởi đầu cho sự rađời và phát triển của triết học phương Tây sau này Được sinh
ra để làm ngọn cờ lý luận của giai cấp chủ nô khi chế độchiếm hữu nô lệ đã được xác lập và phát triển, nên ngay từđầu triết học Hy Lạp cổ đã mang tính giai cấp sâu sắc Thếgiới quan bao trùm triết học giai đoạn này là duy vật và vôthần Chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu
Trang 3của khoa học tự nhiên là đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học
Hy Lạp cổ đại Sau chế độ chiếm hữu nô lệ trong thời kỳ cổđại, xã hội Tây Âu thời kỳ trung cổ là thời kì thống trị của giaichế độ phong kiến Đi liền với sự thay đổi của xã hội, triết họcphương Tây bước sang giai đoạn mới - triết học Tây Âu thời kìtrung cổ Thê giới quan bao trùm triết học phương Tây thờitrung cổ là duy tâm và tôn giáo; trong đó chủ nghĩa kinh việntrung cổ Tây Âu chỉ bàn đến những vấn đề viển vông, tách rờicuộc sống hiện thực Vào thế kỉ XV – XVI, thời kì mà các quan
hệ tư bản chủ nghĩa nảy sinh và khai hình thành, triết học thời
kì Phục hưng là giai đoạn phục hồi của chủ nghĩa duy vật gắnliền với sự phát triển của thời kì tự nhiên đương thời, có giá trịđấu tranh chống tôn giáo, nhà thờ và chủ nghĩa duy tâm Lýluận của các nhà triết học thời kì này có nhiều yếu tố biệnchứng và duy vật Họ khẳng định tính tương đối của nhậnthức, chỉ ra vai trò quan trọng của kinh nghiệm, khẳng địnhcảm giác, trực giác là nguồn gốc đầu tiên của nhận thức Bướcqua thời kỳ cận đại, triết học Tây Âu là thế giới quan và ngọn
cờ lí luận của giai cấp tư sản đang lên với chủ trương pháttriển chủ nghĩa tư bản, chống lại trật tự phong kiến và giáohội Triết học duy vật thời kì này gắn liền với con người và nhucầu giái phóng con người Từ cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX,triết học cổ điển Đức ra đời khi Đức vẫn là nước phong kiếnlạc hậu bị quan hệ phong kiến chèn ép và giai cấp tư sản Đứckhông đủ mạnh, không thống nhất, thậm chí hèn nhát bộcphải thỏa hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến Triết học cổđiển Đức là đỉnh cao của sự phát triển trong lịch sử triết học
Trang 4trước Mác với tư tưởng biện chứng đạt tới trình độ một hệthống lí luận.
Trang 5Nội dung
Triết học phương Tây có thể hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩarộng, triết học phương Tây là hệ thống quan điểm, quan niệmcủa người phương Tây thể hiện qua các trào lưu, tư tưởng triếthọc phương Tây ngày nay Theo nghĩa hẹp, triết học phươngTây được xem như các trào lưu, quan điểm triết học đương đại
và thường được hiểu là triết học ngoài mácxít Theo đó, kháiniệm “triết học phương Tây” mang sắc thái chính trị và tínhgiai cấp rõ nét Ở một khía cạnh nào đó, có được hiểu theonghĩa đối lập với triết học mác xít với cái tiên gọi “triết học tưsản hiện đại” hay “triết học phi mác xít hiện đại” Các thuậtngữ đó thường được xem là đồng nghĩa với nhau dù mỗi cáchbiểu hiện ngôn ngữ có những ý nghĩa riêng của nó và thậmchí trở thành đề tài tranh luận chưa có hồi kết
Tây và dẫn chứng
Triết học phương Tây có cội nguồn từ triết học Hy Lạp cổđại Đó là thời kỳ mà Hy Lạp là một quốc gia có vùng lãnh thổrộng lớn với rất nhiều thành tựu về khoa học tự nhiên, vănhọc, nghệ thuật,… Bên cạnh đó, chế độ chiếm hữu nô lệ cũngđược thiết lập và phát triển mạnh trong thời kỳ này Từ hoàncảnh đó, phương pháp luận của triết học phương Tây đượchình thành nên một cách rất sâu sắc sắc và triệt để bởi mục
Trang 6tiêu chính của nó là phải giải quyết được mâu thuẫn giữa giaicấp thống trị và giai cấp bị thống dựa trên cơ sở phải xóa bỏđược giai cấp thống trị đương thời Do đó, triết học phươngTây có khá nhiều điểm khác biệt so với triết học phương Đông
và có thể được coi là nguồn cảm hứng để làm phong phú vàsâu sắc hơn tư tưởng triết học phương Đông Triết học phươngTây có những chức năng cơ bản giải là quyết những mâuthuẫn gay gắt trong lĩnh vực tự nhiên và xã hội cũng như làchỉ ra những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và của
tư duy con người Những điều này được thể hiện cụ thể ở quanhững đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây
2.1 Gắn liền với những thành tựu khoa học tự nhiên
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng, nó bao gồmtoàn bộ mọi lĩnh vực như tự nhiên, xã hội, tư duy, chủ yếu lấy
tự nhiên làm gốc, làm cơ sở Triết học và khoa học tự nhiênxuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển trên cở sở nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội và chịu sự chi phối của những quyluật nhất định Đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùngphát triển Triết học có vai trò rất lớn đối với sự phát triển củakhoa học cụ thể Và ngược lại, với mỗi giai đoạn phát triểncủa khoa học, nhất là khoa học tự nhiên thì triết học cũng cómột bước phát triển
Trang 7Triết học phương Tây có khởi nguồn từ triết học Hy Lạp –
La Mã cổ đại Nền khoa học tự nhiên mới hình thành ở thời kỳ
cổ đại thì còn sơ khai và nằm trong chính triết học, triết học
tự nhiên Khoa học tự nhiên phụ thuộc vào triết học Bên cạnh
đó, khoa học tự nhiên tác động đến sự phát triển của cácquan niệm triết học khi mà những kiến thức của khoa học tựnhiên còn rời rạc, ít ỏi và chưa có tính hệ thống đã hình thànhmột quan niệm thô sơ về thế giới – quan niệm duy vật tựphát, về sau đã bị quan niệm siêu hình thế chỗ Có nhiều nhàkhoa học nổi tiếng như Talét, Pitago, Ơclít, Ácsimét, Arixtác,
… với những thành tựu về các mặt toán học, thiên văn học,vật lý học, y học,… Ví dụ như: tỉ lệ thức của Talét, định lýPitago của Pitago, sách toán học sơ đẳng của Ơclít, phát hiệnnguyên lý đòn bẩy của Ácsimét,…
Sự phát triển của triết học kinh viện vào thời trung đại đãnâng cao sức mạnh của niềm tin tôn giáo, đánh gục lý trí –vốn được đề cao vào thời cổ đại trước đó Điều này đã làm thủtiêu khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên, mở đường chothần học phát triển Qua đó, ta thấy rõ ảnh hưỡng của quanniệm triết học lên sự phát triển của khoa học
Vào thời phục hưng, quan niệm coi triết học là “người mẹ”của các khoa học xuất hiện thời cổ đại, bị lãng quên thờitrung cổ, bây giờ được khôi phục Sau đó, quan niệm này pháttriển thành quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoahọc” trong thời cận đại Thời nay, triết học phát triển nhanhkéo theo sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, một
Trang 8lẫn nữa lý trí triết học và hiểu biết khoa học vượt lên trên lý lẽthần học và niềm tin tôn giáo(phù hợp với nguyên tắc phủđịnh biện chứng trong triết học Mac-Lenin: Lý trí – niềm tin –
lý trí)
Thời hiện đại, đặc biệt là khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XIX
đã có bước phát triển mới, chuyển từ giai đoạn thực nghiệmsang giai đoạn khái quát lý luận Quan điểm siêu hình đãkhông còn thích hợp với sự phát triển của khoa học tự nhiên,cản trở sự phát triển của khoc học tự nhiên
Để khoa học tự nhiên thoát khỏi phương pháp tư duy siêuhình, tất yếu phải thay đổi quan niệm về thế giới, cần phảikhái quát những thành tựu mới của nó để xây dựng quanđiểm biện chứng duy vật trong nhận thức về tự nhiên, tứcchuyển từ quan niệm siêu hình sang quan niệm biện chứng.Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiênđến việc thay đổi những quan niệm triết học Đây chính là cơ
sở cho chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời Sự ra đời và pháttriển của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với cácthành tựu của khoa học hiện đại, vừa là sự khái quát lại nhữngthành tựu của khoa học hiện đại, vừa đóng vai trò to lớn đốivới sự phát triển của khoa học hiện đại
2.2 Thế giới quan tổng thể
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người
về thế giới, bản thân, con người và vị trí của con người trongthế giới đó Nó đóng vai trò định hướng đối với toàn bộ cuộc
Trang 9sống của con người, từ thực tiễn cho đến hoạt động nhận thứcthế giới cũng như tự nhận thức bản thân, xác định lý tưởng,
hệ giá lối sống cũng như nếp sống của mình
Thế giới quan ra đời từ thực tiễn cuộc sống; là kết quảtrực tiếp của quá trình nhận thức, nhưng suy đến cùng, thếgiới quan là kết quả của cả hoạt động thực tiễn với hoạt độngnhận thức, của mối quan hệ giữa khách thể nhận thức với chủthể nhận thức
Trong triết học phương tây, đối tượng nghiên cứu rất rộnggồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà nguồn gốc là tựnhiên Điều này ngả theo hướng lấy ngoại(ngoài con người) đểgiải thích trong(con người), mang xu hướng tách chủ thể vớikhách thể để nhận thức cho khách quan, mà xu hướng nổi trội
là duy vật
Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý Cái mạnh củaphương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệphát triển,… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân
lý vô hạn cùng Triết học phương Tây đi gần mãi đến chân lýqua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật,… củatoàn thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức
độ bản chất cao hơn, cũng do vậy có xu hướng cô lập hóa,cách ly hóa, làm mất đi tính tổng thể
Phương tiện nhận thức cảu triết học phương Tây là kháiniệm, mệnh đề, biểu thức logic để đối tượng mô tả rõ ràng,thống nhất hơn
Trang 10Triết học phương Tây theo đổi theo hướng nhảy vọt vềchất, nên càng tiến hóa càng phong phú hơn, xa rời gốc banđầu Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ởgiai đoạn trước.
Khái quát chung, triết học phương Tây thiên về hướngngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu trang sống còn, hiếuchiến, cạnh trang, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suyluận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
2.3 Có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái
Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng, trào lưu ,trường phái thiết hộc luôn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội Đồng thờicác tư tưởng triết học luôn phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữahai khuynh hướng triết học cơ bản - chủ nghĩa duy vật và chũnghĩa duy tâm Do đó có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữacác trào lưu, trường phái trải qua theo từng giai đoạn triết họcphương Tây Các trào lưu, trường phái chính triết học phươngTây bao gồm:
- Triết học Duy tâm (Idealism): Tinh thần, ý thức, nhậnthức là trung tâm Mọi sự vật hiện tượng đều được phản ảnhbởi tâm trí Các Triết gia tiêu biểu: Socrates, Plato, Augustine,Descartes, Kant, Hegel, Royce
Trang 11- Triết học Khắc kỷ (Stoicism): Tập trung vào rèn luyệnbản thân: Đức hạnh, bao dung, và tự chủ Các Triết gia tiêubiểu: Zeno, Marcus Aurelius, Seneca, Epictetus
- Triết học Hiện thực (Realism): Sự vật hiện tượng bênngoài là tồn tại độc lập khách quan với ý thức, tâm trí CácTriết gia tiêu biểu: Aristotle, Aquinas, Bacon, Hobbes, Locke,Hume, Berkeley, Whitehead, Russell
- Triết học Thực dụng (Pragmatism): Lý thuyết triết họcphải gắn liền với thực tế và áp dụng được vào thực tế Nhữngvấn đề suy tưởng, siêu hình và phi thực tế nên bỏ qua khôngxét đến Các Triết gia tiêu biểu: Rousseau, Darwin, Dewey
- Triết học Tái thiết (Reconstructionism): Tập trung nghiêncứu các lý thuyết ứng dụng vào mô hình xã hội, mô hình giáodục, chính trị nhằm thay đổi, tái thiết, tạo sự tiến bộ và đilên của xã hội loài người Các Triết gia tiêu biểu: Freire,Counts, Illich, Brameld
- Triết học tâm lý:
o Nội tại (Depth psychology): Tập trung nghiên cứusâu vào nhận thức, tiềm thức, tâm lý bên trong mỗi người.Tức từ bên trong xuất phát ra biểu hiện, hành vi bên ngoài.Các nhà tâm lý học, triết gia tiêu biểu: Sigmund Freud, CarlJung
o Hành vi (Behaviorism): Tập trung vào các lý thuyết
về tâm lý học hành vi, phản xạ của con người và các loài độngvật trước các tác động bên ngoài Các Triết gia tiêu biểu:Pavlov, Watson, Skinner
Trang 12- Triết học hiện sinh (Existentialism): Tối ưu khả năng, giátrị tiềm ẩn của mỗi người thông qua sự tự do phát triển bảnthân và môi trường để con người phát triển tốt nhất Các Triếtgia tiêu biểu: Kierkegaard, Buber, Nietzsche, Sartre, MaxineGreene
2.4 Quan tâm đến vấn đề con người
Con người luôn là vấn đề triết học quan tâm đến, trong
đó, trong triết học phương Tây có nhiều quan niệm khác nhau
về con người với các trường phái khác nhau:
- Trường phái triết học tôn giáo phương Tây: Theo Ki-tôgiáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt.Bản chất con người là kẻ có tội Con người gồm hai phần làthể xác và linh hồn, trong đó, linh hồn là thứ có giá trị caonhất trong con người và tồn tại vĩnh cửu Ki-tô giáo khuyêncon người cần nuôi dưỡng linh hồn để hướng đến nơi Thiênđường Triết học tôn giáo phương Tây còn nhận thức vấn đềcon người trên cơ sở thế giới quan duy tâm thần bí
- Triết học Hy Lạp cổ đại: Khác với Ki-tô giáo, triết học HyLạp cổ đại cho rằng con người là điểm khởi nguồn của tư duytriết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gươngphản chiếu lẫn nhau Chẳng hạn như Aristotle có quan niệmrằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệthuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậccao nhất của vũ trụ Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bướcđầu đã có sự phân biệt con người với tự nhiên Tuy nhiên, sựhiểu biết về con người mới chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài
Trang 13- Triết học Tây Âu trung cổ: Triết học Tây Âu trung cổ xemcon người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo Thượng đếchi phối, sắp xếp đối với số phận của con người, kể cả niềmvui, nỗi buồn, sự may rủi Theo đó, ý chí của Thượng đế là tốithượng, trí tuệ con người thấp hơn lý chí anh minh củaThượng đế.
- Triết học thời kỳ phục hưng – cận đại: Triết học thời kỳnày đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xemcon người là một thực thể có trí tuệ
- Triết học cổ điển Đức: Trong Triết học cổ điển Đức,những nhà triết học nổi tiếng như Can tơ, Hegel đã phát triểnquan niệm con người theo khuynh hướng chủ nghĩa duy tâm
Hegel cho rằng con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối
Ý niệm tuyệt đối hình thành trong quá trình tự ý thức của tưtưởng con người, quá trình này đưa con người trở về với giá trịtinh thân, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống conngười Bên cạnh đó, Hegel còn trình bày một cách hệ thốngcác quy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơchế đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của conngười Từ đó, khẳng định vai trò chủ thể của con người đối vớilịch sử Ngược lại, Phoiơbắc lại phê phán tính chất siêu tựnhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con người trongtriết học Hegel, đồng thời khẳng định con người do sự vậnđộng của thế giới vật chất tạo nên Phoiơbắc đề cao vai trò vàtrí tuệ của con người với tính cách là những cá thể người Từ
đó nhằm giải phóng cá nhân con người Tuy nhiên, quan điểmnày cũng bộc lộ hạn chế, đó là không phản ánh được bản chất
Trang 14xã hội trong đời sống con người, tách co người khỏi nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể.
Qua các quan niệm về con người trong triết học phương
Tây, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng
nhìn chung các quan niệm đều xem xét con người một cáchtrừu tượng, tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác conngười, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên – sinh học mà chưa phảnánh được bản chất xã hội của con người
2.5 Nghiêng về tính động, đấu tranh; vận động đi lên theo hình xoáy ốc
Khác với triết học phương Đông, triết học phương Tây cótính vận động và đấu tranh rất mạnh Tính vận động được thểhiện rõ ràng nhất ở việc triết học phương Tây đã trải qua rấtnhiều thời kỳ khác nhau từ triết học Hy Lạp cổ đại cho đếntriết học phương Tây hiện đại của ngày nay Sự vận độngtrong triết học phương Tây ở mỗi thời kỳ thường đi kèm theovới sự đấu tranh cả ở lĩnh vực tự nhiên và xã hội bới lẽ chứcnăng cơ bản của triết học phương Tây là để giải quyết nhữngmâu thuẫn gay gắt trong các lĩnh vực tự nhiên và xã hội Việckết hợp cả tính động và đấu tranh khiến cho sự vận động củatriết học phương Tây đi lên theo hình xoắn ốc Như trong triếthọc Mác - Lênin, sự vận động này được gọi là “quy luật phủđịnh của phụ định” Quy luật này chỉ ra khuynh hướng của sựphát triển, theo đó, sự phát triển của sự vật, hiện tượng có xuhướng, khuynh hướng lăp lại giai đoạn đầu nhưng ở trình độcao hơn Điển hình là việc mỗi thời kỳ sẽ có một hệ thống