Thông qua việc khảo sát một số hàm ý xuất hiện trong phát ngôn ở một số truyện cười Pháp thời Trung Cổ, nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát hiện một số cơ chế tạo hàm ý; làm rõ hơn ý nghĩ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
BÁO CÁO TỔNG KẾT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài:
Nghiên cứu hàm ý trong một số truyện cười dân gian Pháp
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Vũ Quyên
Phan Thị Minh Anh
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2021 - -
Trang 2TÓM TẮT
Hàm ý là một vấn đề quan trọng trong Ngữ dụng học Việc tìm hiểu về hàm ý góp phần vào việc nghiên cứu và học tập ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ Pháp nói riêng Bên cạnh đó còn có thể áp dụng hàm ý trong giao tiếp, giúp người ta có thể nói được nhiều hơn những gì đã nói Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về hàm ý trong một số truyện cười dân gian Pháp Thông qua việc khảo sát một số hàm ý xuất hiện trong phát ngôn
ở một số truyện cười Pháp thời Trung Cổ, nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát hiện một
số cơ chế tạo hàm ý; làm rõ hơn ý nghĩa hàm ý trong truyện và giá trị ngữ dụng mà hàm ý mang lại
Từ khóa: truyện cười dân gian Pháp; hàm ý; giá trị ngữ dụng
ABSTRACT
The implicit is an important problem in pragmatics Understanding the implicit
contributes to the study and learning of the language in general and of the French language in particular In addition, it is possible to apply the implicit in
communication, helping people to say more than what has been said This study aims
to understand the implicit in some French fabliaux of the Middle Ages By examining some of the implicit information that appears in the statements of some French
fabliaux, our research will discover the mechanisms of the implicit; clarify the implicit meaning and the pragmatic value of the implicit
Keywords: French fabliaux of the Middle Ages; the implicit; pragmatics
Trang 3MỤC LỤC
1 Giới thiệu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
2 Tổng quan 2
2.1 Nghiên cứu ngoài nước 2
2.2 Nghiên cứu trong nước 3
3 Cơ sở lí luận 4
3.1 Ngữ dụng 4
3.1.1 Định nghĩa ngữ dụng 4
3.1.2 Ngữ cảnh 4
3.1.3 Văn cảnh 5
3.2 Hàm ý 5
3.3 Các cơ chế tạo hàm ý 5
3.3.1 Vi phạm quy tắc hội thoại 5
3.3.2 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp 6
3.3.3 Sử dụng thành ngữ 7
3.4 Truyện cười dân gian Pháp 8
3.4.1 Hoàn cảnh lịch sử 8
3.4.2 Đặc điểm 8
4 Phương pháp và tiến trình nghiên cứu 9
5 Kết quả nghiên cứu 10
5.1 Cơ chế tạo hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp 10
5.1.1 Sử dụng thành ngữ 10
5.1.2 Vi phạm phương châm hội thoại 12
5.1.3 Sử dụng từ đồng âm 13
5.1.4 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp 14
5.2 Giá trị ngữ dụng của hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp 17
6 Kết luận 18
7 Danh mục tài liệu tham khảo 19
8 Phụ lục 21
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thống kê các cơ chế tạo hàm ý trong một số truyện cười dân gian Pháp
Biểu đồ 1: Tỷ lệ của các cơ chế tạo hàm ý được sử dụng trong một số truyện cười dân gian Pháp
Trang 4ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
- -
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu hàm ý trong một số truyện cười dân gian Pháp
- Sinh viên thực hiện: Võ Thị Vũ Quyên
Phan Thị Minh Anh
- Lớp: 17CNPDL01 Khoa: Tiếng Pháp Năm thứ: 4
- Người hướng dẫn: ThS Hồ Thị Ngân Điệp
2 Mục tiêu đề tài:
Mục đích của nghiên cứu là nhận biết và tìm ra một vài cơ chế tạo hàm ý; phân tích hàm ý ẩn chứa trong phát ngôn của các nhân vật trong truyện cười dân gian Pháp và phân tích giá trị ngữ dụng của hàm ý đó Điều này không chỉ giúp chúng ta hiểu được đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Pháp mà còn góp phần vào việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ Pháp của những người yêu tiếng Pháp nói chung và say mê văn học Pháp nói riêng
3 Tính mới và sáng tạo:
Cho đến nay chúng tôi chưa tiếp cận được công trình nào nghiên cứu tường tận về truyện cười dân gian thời Trung Cổ và đặc biệt là nghiên cứu hàm ý trong một số truyện cười đó Vấn đề hàm ý không phải là một vấn đề đơn giản và hơn nữa để hiểu hàm ý trong các tác phẩm truyện cười dân gian cũng không phải dễ dàng Vì vậy chúng tôi hy vọng nghiên cứu này mang tính mới và sáng tạo
4 Kết quả nghiên cứu:
Tiến hành khảo sát 30 truyện trong các tài liệu về truyện cười Pháp thời Trung Cổ, trong đó có 21 truyện (chiếm 70%), với 22 phát ngôn xuất hiện hàm ý, chúng tôi đã thống kê được bốn cơ chế tạo hàm ý chính với tần suất sử dụng không đồng đều Chính việc sử dụng lượng cơ chế đa dạng đã làm cho sự xuất hiện hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp vô cùng thú vị Bên cạnh đó, sự xuất hiện của hàm ý mang lại giá trị “tiếng cười” cho truyện Có thể nói, hàm ý chính là điểm mấu chốt trong truyện cười dân gian Pháp, hiểu được hàm ý tức là ta đã hiểu được “tiếng cười” của câu chuyện
Trang 55 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Hàm ý và hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp là một vấn đề thú vị và phức tạp Vì vậy, việc tìm hiểu hàm ý nói chung và hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp nói riêng sẽ góp một phần trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Pháp và cả văn học Pháp Hơn cả tính giải trí, khi đọc được những hàm ý sâu sắc trong truyện cười, ta còn có thể thu nạp kiến thức cho bản thân, hiểu được một vài bài học đạo lí qua những câu chuyện đó Việc sử dụng hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp còn có thể chuyển tải được rất nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội Pháp thời Trung Cổ, khắc họa được cuộc sống của người dân ở thời kì mang dấu ấn lịch sử đặc biệt của nước Pháp
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài
Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn
Đà Nẵng, ngày 05 tháng 05 năm 2021
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 6Địa chỉ liên hệ: 29 Lê Đại, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng Điện thoại: 0362389006 Email: vuquyen281099@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
(Kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):
Ngành học: Tiếng Pháp du lịch Khoa: Tiếng Pháp
Trang 7Họ và tên: Phan Thị Minh Anh
Sinh ngày: 07 tháng 04 năm 1999
Nơi sinh: Đà Nẵng
Lớp: 17CNPDL01 Khóa: 2017 Khoa: Tiếng Pháp
Địa chỉ liên hệ: 48/06 Nguyễn Đăng, phường An Khê, Thanh Khê, TP Đà Nẵng Điện thoại: 0905082098 Email: minhanhh0704@gmail.com
IV QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
(Kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):
Ngành học: Tiếng Pháp du lịch Khoa: Tiếng Pháp
Trang 81 Giới thiệu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc sống, hoạt động tương tác giữa người với người là đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và phát triển xã hội Giao tiếp là nền tảng tương tác cơ bản, nó giúp con người trao đổi thông tin với nhau nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp thiết yếu bên cạnh các yếu tố phi ngôn ngữ
và là công cụ tốt nhất trong việc truyền đạt ý kiến, nhận thức, tâm tư, tình cảm của người này đến người khác
Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Tuy nhiên, trong các cuộc hội thoại không phải tất
cả những gì người ta muốn diễn đạt đều có thể trực tiếp nói ra mà đôi lúc người nói sử dụng cách nói hàm ý đòi hỏi người nghe phải tự suy luận qua phát ngôn để có thể hiểu được những gì người nói muốn truyền đạt, khi đó hàm ý hội thoại xuất hiện Cuộc hội thoại xuất hiện hàm ý sẽ tạo ra nhiều lí thú trong giao tiếp
Hơn nữa, hội thoại không chỉ diễn ra trong đời sống hằng ngày mà còn có cả trong tác phẩm văn học Truyện cười dân gian Pháp là một bộ phận của văn học dân gian Pháp Trong mỗi truyện cười Pháp, việc sử dụng hàm ý trong các cuộc hội thoại khá phổ biến Vì thế, khám phá hàm ý trong một số truyện cười thông qua việc làm sáng tỏ đặc tính cơ bản của hàm ý trong hội thoại giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa sâu sắc của “tiếng cười” cũng như những thông điệp mà tác giả dân gian muốn gửi gắm đến độc giả
Là sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Pháp, trong quá trình học tập và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy truyện cười dân gian Pháp là một đề tài hay, chưa được đề cập nhiều Vì vậy chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ Pháp của những người yêu tiếng Pháp nói chung và yêu văn học Pháp nói riêng
Từ lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hàm ý trong một số truyện cười dân gian Pháp”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là đề xuất một vài cơ chế tạo hàm ý trong truyện cười dân gian Pháp; phân tích hàm ý ẩn chứa trong phát ngôn của các nhân vật và giá trị ngữ dụng của hàm ý đó Điều này không chỉ giúp chúng ta hiểu được đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Pháp mà còn góp phần vào việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ Pháp của những người yêu tiếng Pháp nói chung và say mê văn học Pháp nói riêng
Trang 91.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu là hàm ý xuất hiện trong phát ngôn của nhân vật ở một
số truyện cười dân gian Pháp trên quan điểm ngữ dụng học
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng một số truyện cười dân gian trong tài liệu về
truyện cười dân gian thời Trung cổ như "Les fabliaux du Moyen Âge" của Hélène Potelet và Françoise Rachmuhl (2014), "Fabliaux et contes du Moyen Âge" của Jean-
Claude Aubailly và Jean Joubert (1987) và một số truyện được tìm kiếm trên mạng Internet Đây là những truyện được các tác giả tìm kiếm và tổng hợp thành một tuyển tập bởi vì truyện cười thời Trung Cổ thuộc dạng văn học truyền miệng và thường không rõ tác giả Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng một số truyện được các tác giả lấy cảm hứng từ truyện cười dân gian và sáng tạo nên Điều này sẽ làm tư liệu nghiên cứu của đề tài thêm phong phú
Hàm ý thường xuất hiện trong cuộc đối thoại của những người tham gia giao tiếp, đặc biệt là ở các phát ngôn của nhân vật Do đó, yếu tố được chọn để nghiên cứu
là một số phát ngôn trong truyện cười dân gian Pháp
2 Tổng quan
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Có thể nói Oswald Ducrot và Paul Grice là những người đầu tiên khám phá ra vấn đề hàm ý trong ngôn ngữ
Hàm ý theo hướng ngữ dụng học của Paul Grice (1989) về dựa trên hai căn cứ là
ý nghĩa của người nói và nguyên tắc cộng tác Paul Grice đã đưa ra “Nguyên tắc cộng tác hội thoại” và phân loại ý nghĩa hàm ẩn “Nguyên tắc cộng tác hội thoại” có nghĩa
là khi tham gia hội thoại chúng ta sẽ có những quy định chung mà bất cứ ai cũng phải tuân thủ Đặc biệt, ông đã khái quát nguyên tắc cộng tác thành bốn phương châm: lượng, chất, quan hệ, cách thức và đã phân chia ý nghĩa hàm ẩn thành hai loại: hàm ẩn quy ước (hàm ẩn từ vựng) và hàm ẩn hội thoại
Oswald Ducrot (1972) là một nhà ngôn ngữ học hiện đại, ông cho rằng nghĩa
phát ngôn có hiển ngôn (explicite) và hàm ngôn (implicite) Theo ông, hàm ngôn có
tiền giả định (Présupposition) và ẩn ý (sous-entendu)
Vấn đề về hàm ngôn trong tác phẩm có thể nói đến là luận án tiến sĩ “L’implicite dans À la recherche du temps perdu - Étude sur un aspect du discours proustien”của
Lubna Hussein Salman Luận văn dựa trên lí thuyết hàm ý để nghiên cứu về hàm ý
trong tác phẩm À la recherche du temps perdu
Trang 102.2 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, Hoàng Phê là người đi tiên phong nghiên cứu về vấn đề hàm ý theo
hướng ngữ nghĩa với các bài “Ngữ nghĩa của lời” (1981), “Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong ngữ nghĩa của từ” (1982)
Đỗ Hữu Châu (1993) với “Đại cương ngôn ngữ học” cũng đã nêu lên những
nhìn nhận của ông về vấn đề hàm ý Dựa vào bản chất, ông đã phân ra ý nghĩa hàm ẩn gồm có hàm ngôn và tiền giả định
Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong “Dụng học Việt ngữ” cũng bàn về vấn đề hàm
ngôn và cho rằng muốn giao tiếp thành công thì phải hiểu đầy đủ cả nghĩa hiển ngôn
và nghĩa hàm ngôn
Ý nghĩa hàm ngôn từ trước đến nay đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu kỹ lưỡng, giải quyết thích đáng các vấn đề cơ bản Tuy vẫn còn khác nhau trong cách gọi tên các thuật ngữ (hàm ý, hàm ngôn,…) nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất ý nghĩa hàm ẩn có hai yếu tố là tiền giả định và ẩn ý và cũng thống nhất các cơ chế tạo nên ý nghĩa hàm ý
Vấn đề hàm ý trong tác phẩm cũng được đề cập trong những bài viết liên quan
Đầu tiên có thể nói đến là Luận văn Thạc sĩ “Một số phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt” (2006) của Đoàn Thị Tâm Luận văn dựa trên lý thuyết về hàm
ngôn, tác giả đã phân tích và chỉ ra 33 phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt
Luận án Tiến sĩ “Hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam” (2011)
của Nguyễn Hoàng Yến đã vận dụng lý thuyết dụng học để tìm hiểu các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự với hàm ý trong truyện cười
Trong Luận văn Thạc sĩ “Hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”
(2012) của Nguyễn Thị Tú Anh, tác giả đã dựa vào lý thuyết hàm ý để chỉ ra và phân tích các cơ chế cũng như mục đích của hàm ngôn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Về truyện cười dân gian Pháp thời Trung Cổ (Les fabliaux du Moyen-Âge)
Truyện cười dân gian Pháp thời Trung Cổ là một hình thức thuộc “truyện thơ tiếu lâm” của dòng văn học tư sản thời Trung Cổ ở Pháp Hiện nay, có khá nhiều tài liệu đề cập đến hình thức văn học này Tuy nhiên, các tài liệu thường là một tuyển tập gồm một số truyện thơ tiếu lâm, bao gồm cả truyện cười, được các tác giả tổng hợp lại như
“Fabliaux et contes moraux du Moyen Âge” của Jean-Claude Aubailly và Jean Joubert (1987); “Les fabliaux du Moyen Âge” của Hélène Potelet và Georges Décote (2014),
… Đa số các tài liệu này rất khó tìm kiếm và tiếp cận vì những hạn chế về thời đại và khoảng cách địa lý
Trang 11Cho đến nay chúng tôi chưa tiếp cận được công trình nào nghiên cứu tường tận
về truyện cười dân gian thời Trung Cổ và đặc biệt là nghiên cứu hàm ý trong một số truyện cười đó Vấn đề hàm ý không phải là một vấn đề đơn giản và hơn nữa để hiểu được nó trong các tác phẩm truyện cười dân gian cũng không phải dễ dàng Vì vậy chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu này mang tính mới và sáng tạo
thức và văn hóa của ngôn ngữ và giao tiếp" (Dardier, 2004, trang 8)
Rất nhiều định nghĩa về ngữ dụng đã được đề xuất tuy nhiên để kết luận thì:
"Ngữ dụng học quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ trong tình huống giao tiếp"
(Coquet, 2013a, trang 372)
Ngữ dụng học là một nhánh của ngôn ngữ học liên quan đến các yếu tố của ngôn ngữ mà ý nghĩa của chúng chỉ có thể được hiểu khi biết bối cảnh sử dụng của chúng
Nó tập trung vào ngữ cảnh của lời nói, nghĩa là, vào việc sử dụng ngôn ngữ trong tình huống Ngữ dụng học cố gắng mô tả mối quan hệ giữa phát ngôn, người phát ngôn và tình huống giao tiếp Ý nghĩa của phát ngôn phải được xem xét trong ngữ cảnh của nó Hai khái niệm cần được phân biệt trong ngữ dụng: Ngữ cảnh và văn cảnh
Theo Siouffi và Van Raemdonck (1999) phát biểu trong cuốn “100 fiches pour comprendre la linguistique”:
“Ngữ cảnh không mang tính chất chính thức: nó bao gồm yếu tố địa điểm, thời gian trong lúc hành động phát ngôn diễn ra; bên cạnh đó còn là các đặc điểm tâm lý, xã hội, thể chế chính trị của người nói và người nghe trong giao tiếp, kinh nghiệm sống được gửi gắm trong phát ngôn, ”
Trong ngữ dụng học, "ngữ cảnh" được sử dụng để chỉ mọi thứ nằm ngoài ngôn ngữ, nhưng lại là một phần của tình huống phát ngôn trong giao tiếp (Siouffi và Raemdonck,1999, trang 150)
Trang 123.1.3 Văn cảnh
Văn cảnh là tất cả yếu tố ngôn ngữ xung quanh một phát ngôn Từ quan điểm nhận thức và hội thoại, văn cảnh có thể được định nghĩa là sự diễn giải các lời phát ngôn ngay trước đó, do đó đóng vai trò là tiền đề cho việc tạo ra một lời nói nhất định Các hiện tượng văn cảnh đề cập đến các liên kết của các phát biểu khác nhau giữa chúng (liên kết, đảo ngữ, )
3.2 Hàm ý
Từ điển tiếng Pháp Le Nouveau Petit Robert (2006) định nghĩa hàm ý: "hầu như được chứa đựng trong một mệnh đề, một thực tế mà không được diễn đạt rõ ràng, và chỉ có thể được rút ra bằng sự suy diễn, phép quy nạp" (Josette Rey Debove et Alain
Rey, 2006, trang 1287) Sự phát biểu có thể truyền tải một nội dung ẩn ý mà người nghe phát hiện bằng cách lập luận mà không thể khẳng định rõ ràng sự tồn tại của nó Dominique Maingueneau (1996) giải thích khái niệm hàm ý bằng cách khẳng
định rằng: "Người ta có thể rút ra một nội dung từ một phát ngôn mà không phải là nội dung chính của phát ngôn đó; nó xuất hiện thông qua nghĩa tường minh trong lời nói Đây là phạm trù về hàm ý” (Dominique Maingueneau, 1996, trang 47-77) Do đó,
hàm ý không phải là dấu hiệu chính của lời nói Đây là thông tin bổ sung nhằm làm
sáng tỏ ý nghĩa tường minh
Như vậy, hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng lại được suy ra từ nghĩa tường minh
Oswald Ducrot (1972) nhấn mạnh rằng: "Vấn đề không chỉ là làm cho người ta tin, mà còn là nói mà như không cần nói" ( Oswald Ducrot, 1972, trang 14-15) Để
giải mã hàm ý, người nghe phải chia sẻ cùng một nền văn hóa hay gần như cùng bối cảnh tình huống với người phát ngôn vì hàm ý ám chỉ các quy tắc xã hội và thế giới quan được chia sẻ
3.3 Các cơ chế tạo hàm ý
Cơ chế là cách thức theo đó một quá trình được thực hiện hay là cách thức thực hiện Do đó, cơ chế tạo hàm ý là những cách thức tạo ra hàm ý Sau đây là một số cách thức tạo hàm ý
3.3.1 Vi phạm quy tắc hội thoại
Nguyên tắc cộng tác hội thoại được Herbert Paul Grice (1989) đúc kết như sau:
“Hãy làm cho phần đóng góp của anh/ chị đúng như nó đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh / chị chấp nhận tham gia vào” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 1993, trang 299)
Trang 13Triết gia Herbert Paul Grice (1989)đã đưa ra những phương châm liên quan đến hoạt động hội thoại Ông gọi chúng là phương châm hội thoại và phát biểu rằng chúng chủ yếu dựa trên nguyên tắc hợp tác chung giữa những người đối thoại; họ phải tuân thủ các quy tắc hội thoại để đạt được mục tiêu trong cuộc trò chuyện Sau đó, Herbert Paul Grice (1989) đề cập đến chín nguyên tắc cộng tác được phân thành bốn phương châm:
1 Phương châm về lượng (theo đó phải cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến chủ đề của cuộc trò chuyện đồng thời tránh dư thừa):
a- "Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc hội thoại"
b- "Đừng làm cho lượng thông tin nhiều hơn mức cần thiết"
2 Phương châm về chất (theo đó phải thành thật trong phát ngôn của mình): a- Đừng nói những gì bạn cho là sai
b- Không nói những điều bạn không có đủ bằng chứng để cho là đúng
3 Phương châm quan hệ (hay tính thích đáng mà theo đó bạn phải luôn ở trong khuôn khổ của chủ đề của mình):
"Hãy có liên quan"
4 Phương châm cách thức (hoặc phương thức mà theo đó phải rõ ràng và xác đáng):
a- Tránh lối nói tối nghĩa
vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào trong số này, người nghe sẽ có thể nghĩ rằng người nói hành xử cố ý để che giấu điều gì đó
Do đó, rõ ràng là việc vi phạm các phương châm hội thoại có mối quan hệ trực tiếp đến việc phát sinh ra hàm ý
3.3.2 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp
Như C Kerbrat-Orecchioni (2001) đã phát biểu, người nói thể hiện mình một
cách gián tiếp hay “Khi ta nói, chính là ta làm nhiều việc cùng một lúc”, chính xác hơn là “Khi ta nói, chính là thực hiện một việc dưới danh nghĩa của một việc khác”
Điều này có nghĩa là: cùng một hành động phát ngôn, chúng ta có thể nhận được nhiều
sự thực hiện khác nhau (C Kerbrat-Orecchioni, 2001, trang 33)
Trang 14Hành động ngôn ngữ gián tiếp theo Đỗ Hữu Châu (1993) là “Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành
vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp”
(Đỗ Hữu Châu, 1993, trang 146)
Sử dụng hành dộng ngôn ngữ gián tiếp là hiện tượng người nói thực hiện một hành vi tại lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung của cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác Cách sử dụng hành dộng ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu quả nhằm truyền tải các ý nghĩa hàm ẩn
Bằng các yếu tố ngôn ngữ có mặt trong phát ngôn, người ta có thể nhận diện được các hành vi ngôn ngữ chứa đựng trong đó Có nghĩa là, nhờ cấu trúc ngôn ngữ của một hành vi tại lời [A] mà người ta có thể tạo ra những hành vi ngôn ngữ gián tiếp [B] khác nhau như: đề nghị, khuyên nhủ, yêu cầu, cảnh cáo, hứa, … Chính đặc điểm này đã làm cho “hành dộng ngôn ngữ gián tiếp” hoàn toàn có thể trở thành một yếu tố tạo hàm ý
3.3.3 Sử dụng thành ngữ
Khi các thành ngữ được trực tiếp sử dụng trong phát ngôn, tính hàm súc vốn có của nó cùng với những tác động nhất định của ngữ cảnh sẽ quy định cho phát ngôn một ý nghĩa hàm ẩn nhất định Hiểu được ý nghĩa khái quát của thành ngữ được sử dụng là cơ sở để hiểu được hàm ý của phát ngôn chứa nó Như vậy, sử dụng thành ngữ cũng là một yếu tố tạo ý nghĩa hàm ý trong phát ngôn
Dưới đây là một số ví dụ về thành ngữ tiếng Pháp được trích từ Dictionnaire des expressions et locutions của Rey và Chantreau (2003):
"Avoir un chat dans la gorge"
(dịch: có một con mèo trong cổ họng)
Khàn giọng; đau họng; khó chịu khi nói;
có cái gì đó mắc nghẹn trong cổ họng gây khó chịu
"Mettre les bâtons dans les roues à
quelqu'un"
(dịch: đưa gậy vào bánh xe của ai đó)
Gây khó khăn ; tìm cách cản trở công việc kinh doanh
"Prendre le taureau par les cornes"
(dịch: Bắt con bò mộng bằng sừng)
Nắm ngay cái khó mà giải quyết ; vượt khó bằng quyết tâm
Ngoài các cơ chế tạo hàm ý đã đề cập, còn tồn tại một số cơ chế khác như dùng
từ sai lệch ngữ nghĩa, dùng từ ngữ không tương thích ngữ cảnh, dùng từ đồng âm,… Một số cơ chế này sẽ được đề cập rõ hơn trong phần phân tích