Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm Ba khoa Tiếng Anh trường Đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
- -
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM BA, KHOA TIẾNG ANH,
TRƯỜNG ĐHNN - ĐHĐN
SVTH: Nguyễn Ngọc Hồng
18CNACLC06, Khoa Tiếng Anh, Trường ĐHNN – ĐHĐN
Phan Nhật Duy Lâm
18CNA07, Khoa Tiếng Anh, Trường ĐHNN – ĐHĐN
Hoàng Thị Phương Thanh
18CNA07, Khoa Tiếng Anh, Trường ĐHNN – ĐHĐN
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2021
Trang 22
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
TÓM TẮT 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG, HÌNH ẢNH 9
MỞ ĐẦU 11
1 Tính cấp thiết của đề tài 11
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Câu hỏi nghiên cứu 14
6 Những khó khăn – hạn chế của nghiên cứu 15
7 Đạo đức nghiên cứu 15
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 17
1.2 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) 23
1.2.1 Khái niệm mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 24
1.2.1.1 Thái độ, xúc cảm và động lực 25
1.2.1.2 Nhận thức về kiểm soát hành vi 28
1.2.1.3 Sự tương tác có nhận thức 31
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VÀ CHẤP NHẬN HỌC TRỰC TUYẾN CẤP BÁCH CỦA SINH VIÊN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 32
2.1 Tiến hành nghiên cứu thực trạng 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3 Mô tả công cụ nghiên cứu 36
2.4 Kết quả nghiên cứu thực trạng và bàn luận 38
2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên 38
2.4.1.1 Thái độ, xúc cảm và động lực 38
Trang 33
2.4.1.2 Kiểm soát hành vi có nhận thức 44
2.4.1.2.1 Mức độ thành thạo sử dụng công nghệ số trong học tập 44 2.4.1.2.2 Mức độ tự tin vào năng lực bản thân trong việc học trực tuyến 45
2.4.1.2.3 Mức độ nhận thức về cơ hội tiếp cận công nghệ số trong học tập 47
2.4.1.3 Tương tác có nhận thức 47
2.4.2 Vai trò của tương tác có nhận thức 48
2.4.3 Nhận thức về sự tự tin vào năng lực bản thân 49
2.4.4 Khả năng tiếp cận công nghệ số và môi trường học tập của sinh viên 49 2.4.5 Dữ liệu định tính – Thách thức và những thay đổi tích cực sau đại dịch COVID-19 50
2.4.5.1 Những thách thức liên quan đến đại dịch COVID-19 51
2.4.5.2 Những thay đổi tích cực liên quan đến đại dịch COVID-19 53 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54
1 KẾT LUẬN 54
2 KHUYẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 55
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành bài nghiên cứu này là một hành trình dài Chúng tôi sẽ không
thể hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này nếu không có sự giúp đỡ của quý
thầy cô, bạn bè và gia đình Lời đầu tiên, chúng tôi xin chân thành cảm ơn giáo
viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, và động viên trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn chân thành đến 250 bạn sinh viên năm
Ba khoa tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Đà Nẵng đã cung cấp
những thông tin hữu ích cho quá trình khảo sát, đây là những thông tin giá trị để
nhóm nghiên cứu có thể hoàn thiện được bài báo cáo
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bậc phụ huynh,
bạn bè, những người đã cho chúng tôi nhiều lời khuyên và động viên, giúp đỡ
chúng tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2021
Sinh viên
Trang 66
TÓM TẮT
Đại dịch COVID-19 đã và đang diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phải kể đến giáo dục với những sự thay đổi lớn Một trong những thay đổi rõ rệt của nền giáo dục chính là quá trình chuyển đổi từ học trực tiếp sang học trực tuyến Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi những sự chuẩn bị kỹ càng về nhận thức cho người học Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm Ba khoa Tiếng Anh trường ĐHNN–ĐHĐN Với phương pháp điều tra chủ yếu bằng bảng hỏi, nghiên cứu chứng minh rằng thái độ, động lực, sự tự tin vào năng lực cá nhân và mức độ sử dụng thành thạo công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tham gia có nhận thức và kết quả học tập của sinh viên Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện nhận thức của sinh viên đối với hình thức dạy và học trực tuyến
ABSTRACT
The COVID-19 pandemic has been happening complicatedly in all corners
of the world, affecting many different fields, including education with many great changes One of the most obvious changes in education is the transition from face-to-face learning to online learning However, this process requires careful preparation of learners' perception This study aims to investigate the perception
of use and acceptance of emergency online learning during the COVID-19 pandemic among Third-year students of Faculty of English, University of Foreign Language Studies, The University of Da Nang With the main survey method by questionnaires, the study found that attitudes, motivation, and self-efficacy and use of technology play an important role in the cognitive engagement and student learning outcomes From the aforementioned findings, this paper makes some recommendations to improve students' perception of online teaching and learning
Key words: COVID-19, emergency online learning, perception, use, acceptance,
attitude, motivation, self-efficacy, cognitive engagement
Trang 716 TAM2 Sơ đồ TAM được sửa đổi bổ sung bởi Venkatesh
& Davis vào năm 2000
17 TAM3 Sơ đồ TAM được sửa đổi bổ sung bởi Venkatesh
& Bala vào năm 2008
Trang 88
Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (Lí thuyết trường thống nhất của mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ)
Partial Least Square-Structural Equation Modeling (Mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất)
20 MM Motivational Model (Mô hình động lực)
21 MPCU The Model of PC Utilization (Mô hình sử dụng
24 CNTT Công nghệ thông tin
25 IDF Diffusion of Innovations (Khuếch tán cải tiến)
26 CNTT-TT Công nghệ thông tin – truyền thông
Trang 9Các phân loại gốc xuất hiện từ sự liên kết ngữ nghĩa của các
lý thuyết hành vi cơ bản, mô hình TAM của Davis và mô hình UTAUT của Venkatesh cùng cộng sự
3 Bảng 3 Sửa đổi các nhân tố ‘Thái độ và xúc cảm”
4 Bảng 4 Mô hình phân loại nhóm “thuộc tính hướng dẫn”
5 Bảng 5 Mô hình cải tiến “điều khiển hành vi nhận thức”
6 Bảng 6 Mô hình phân loại nhóm “tăng cường nhận thức”
7 Bảng 7 Thái độ, xúc cảm và động lực học trực tuyến cấp bách của
sinh viên
8 Bảng 8 Nhận định của sinh viên về những gì bản thân có thể làm
được trên nền tảng công nghệ số
9 Bảng 9 Mối tương quan giữa năng lực công nghệ số và thái độ thích
học trực tiếp
10 Bảng 10 Mối tương quan giữa năng lực công nghệ số và thái độ thích
học trực tuyến
11 Bảng 11 Mối tương quan giữa năng lực công nghệ số và khó khăn khi
học trực tuyến của sinh viên
12 Bảng 12
Mức độ thành thạo khi sử dụng công nghệ số trong học tập trực tuyến cấp bách của sinh viên trước và sau khi có lệnh cách
ly
13 Bảng 13 Mức độ tự tin vào năng lực bản thân trong việc học trực
tuyến cấp bách của sinh viên
Trang 1010
14 Bảng 14 Mối tương quan giữa năng lực công nghệ số và sự tự tin vào
năng lực bản thân
15 Bảng 15 Mức độ nhận thức về cơ hội tiếp cận công nghệ số trong
việc học trực tuyến cấp bách của sinh viên
16 Bảng 16 Những thay đổi trong quá trình học tập trong việc học trực
tuyến cấp bách của sinh viên
17 Bảng 17 Những thách thức và những thay đổi tích cực trong việc học
trực tuyến cấp bách của sinh viên sau đại dịch COVID-19
18 Hình 1 Sơ đồ tổng quan về mô hình chấp nhận công nghệ
19 Biểu đồ 1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ số
phục vụ học tập của sinh viên học ngôn ngữ
Trang 1111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, COVID-19 là một trong những vấn đề khó khăn của toàn cầu Đại dịch này đã đem đến rất nhiều thách thức cho hầu hết các quốc gia trên nhiều lĩnh vực và cũng như tất cả các lĩnh vực khác, giáo dục ở tất cả các cấp đều bị ảnh hưởng sâu sắc Giáo dục và đào tạo bị đảo lộn, các chương trình đào tạo và các khóa học không thể triển khai, việc dạy và học bị gián đoạn, các kỳ thi và các kỳ đánh giá cũng bị ảnh hưởng Việc hoàn thành các bậc trình độ có khả năng bị trì hoãn, ảnh hưởng đến sự nghiệp trước mắt và tương lai của hàng triệu người học Đây là một thách thức cho Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới
để xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững bởi tình hình đại dịch COVID-19 vẫn còn đang diễn biến phức tạp
Để ứng phó với đại dịch này, hình thức học trực tuyến đã được áp dụng ở hầu hết các trường Đại học tại Việt Nam Tuy nhiên, vì đây là hình thức được áp dụng cấp bách, chưa được thử nghiệm và có chương trình đào tạo phù hợp nên nhiều giảng viên và sinh viên gặp khó khăn trong việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến
Một trong những thách thức to lớn chính là vấn đề nhận thức của sinh viên liên quan đến học tập trực tuyến Người học có thể gặp khó khăn trong việc duy trì tham gia vào các khóa học trực tuyến do thiếu nguồn hỗ trợ, kinh nghiệm học
từ xa Ngoài ra, sinh viên đã quen với cuộc sống xã hội năng động ở trường, học tập và sinh hoạt cùng bạn bè, tuy nhiên sự đơn điệu khi phải giãn cách và cách ly
xã hội có thể khiến cho sinh viên trở nên chán nản, mất động lực hoặc uể oải trong thời gian dài Vấn đề đặt ra lúc này là cần phải xem xét những yếu tố nào tác động đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến nhằm đảm bảo tính hiệu quả, khách quan khi áp dụng thực tiễn và đem lại trải nghiệm học tập tích cực cho sinh viên
Bên cạnh đó, làm thế nào để kết nối được với sinh viên và đảm bảo tính liên tục của hoạt động giảng dạy thông qua hình thức đào tạo trực tuyến cũng cần được quan tâm, đặc biệt là những sinh viên vùng sâu vùng xa không có đường truyền kết nối internet ổn định Ngoài ra, để đảm bảo tính hiệu quả của giảng dạy trực tuyến, sinh viên cũng cần phải có những kiến thức cơ bản về công nghệ số và các kỹ năng kỹ thuật số liên quan Nếu không giải quyết được những thách thức
về công nghệ thì phương pháp dạy và học này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức
và thành tích học tập của sinh viên
Trên thực tế, đối với sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN–ĐHĐN, các bạn đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc thích ứng với hình thức học tập trực tuyến Bên cạnh thiếu hụt năng lực công nghệ số, các yếu tố tác động đến
Trang 1212
nhận thức chấp nhận học trực tuyến cấp bách bao gồm động lực, xúc cảm, kiểm soát hành vi nhận thức… cũng được nhiều sinh viên phản ánh Nhận thấy thực trạng này, chúng tôi đã tiến hành bài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch Covid-19 của sinh viên năm Ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN- ĐHĐN.”
Bằng kiến thức của mình và nghiên cứu các tài liệu liên quan, chúng tôi sẽ khái quát qua về các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách, từ đó tiến hành nghiên cứu, chứng minh giả thuyết và đề xuất các giải pháp cho các cơ sở giáo dục nâng cao, cải thiện chất lượng dạy và học trực tuyến, đồng thời giúp sinh viên có cái nhìn tích cực hơn đối với hình thức học tập này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, nghiên cứu và báo cáo thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm ba khoa Tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHNN
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng
và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
Nghiên cứu mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
Nghiên cứu những khó khăn trong quá trình học trực truyến cấp cách vì đại dịch COVID-19 của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
Nghiên cứu những thay đổi tích cực sau quá trình học trực truyến cấp cách
vì đại dịch COVID-19 của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHĐN
ĐHNN-3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung
Trong phạm vi giới hạn của một bài nghiên cứu khoa học, đề tài này chỉ tập trung vào 3 nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên năm 3 trường
Trang 1313
ĐHNN-ĐHĐN về việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong thời
kỳ dịch bệnh COVID-19
Phạm vi về thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Thời gian nghiên cứu đề tài từ 4/2020 - 4/2021
Đia điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Đà Nẵng
Đối tượng nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN Nghiên cứu được giới hạn cho sinh viên năm 3 tại ĐHNN-ĐHĐN vì những lý do sau: Thứ nhất, sinh viên năm 3 đã trải qua 2 kỳ học trực tuyến do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, cụ thể là học kỳ II năm học 2019-2020 và học kỳ I năm học 2020-2021 Đối với sinh viên năm 3, đây là hai học kì quan trọng bao gồm các học phần trọng tâm của bộ môn kỹ năng tiếng và lý thuyết tiếng Với những trải nghiệm này, sinh viên có đủ thời gian để nhận ra những mặt tích cực và tiêu cực của hình thức học trực tuyến cũng như sinh viên có thể thấu hiểu được những nhân tố nào ảnh hưởng đến nhận thức cá nhân trong việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách; Thứ hai, nhóm các nhà nghiên cứu hiện đang là sinh viên năm 3 khoa tiếng Anh trường ĐHNN–ĐHĐN nên việc thu thập dữ liệu nghiên cứu đối với nhóm đối tượng này
sẽ thuận lợi hơn, từ đó đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của công trình nghiên cứu
Kích thước mẫu là một vấn đề được chúng tôi đặc biệt quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến độ tin cậy của các tham số thống kê Mỗi phương pháp phân tích thống kê đòi hỏi kích thước mẫu khác nhau Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, sau khi điều tra được tổng số SV năm 3 khoa Tiếng Anh đang theo học tại trường ĐHNN-ĐHĐN, chúng tôi quyết định sử dụng công thức sau:
1 + 𝑁𝑒2
(Công thức chọn mẫu điều tra khi biết tổng thể)
Trong đó:
n: số lượng mẫu cần xác định (Sample size)
N: Số lượng tổng sinh viên năm 3 đang theo học
e: sai số cho phép Có thể lựa chọn e = ± 0.01 (1%), ± 0.05 (5%), ± 0.1 (10%)
Hiện tại, Khoa Tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN có tổng số 500 sinh viên năm 3 đang theo học Vì vậy, áp dụng công thức nêu trên với N=500, e=0.05, số mẫu cụ thể cần thu được như sau:
Trang 1414
1 + 500 × 0,052 = 222 Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên trên 250 SV năm Ba, khoa Tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN, trong quá trình khảo sát bằng bảng hỏi, chúng tôi đã loại trừ những phiếu khảo sát có phần trả lời trống hoặc không hợp lệ Số phiếu khảo sát chính thức là 228 phiếu
4 Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm hệ thống cấu trúc yêu cầu người nghiên cứu khi tiến hành tìm hiểu vấn đề phải xem xét nó một cách toàn diện, trên nhiều khía cạnh khác nhau và đặt trong nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động phát triển và trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm cung cấp những tri thức ban đầu về vấn đề nghiên cứu, làm nền tảng cho việc xây dựng đề cương cho đề tài Đồng thời, các thông tin thu thập cũng được sử dụng xuyên suốt, làm cơ
sở xây dựng bảng hỏi điều tra trong quá trình phân tích và viết báo cáo
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức học trực tuyến cấp bách của sinh viên
Phương pháp toán thống kê ứng dụng trong nghiên cứu: Dùng để xử lý
số liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Phương pháp này được thực hiện bằng phần mềm IBM SPSS Statistics 20
Phương pháp phân tích định tính: Dùng để xử lý dữ liệu thu thập được
từ các câu hỏi mở Phương pháp này được thực hiện bằng phần mềm Dedoose 8.3
5 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 1515
Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN là gì?
Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN có tương quan như thế nào với nhau?
Sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHNN gặp những khó khăn gì khi học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19?
Sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHNN có những thay đổi tích cực gì sau quá trình học trực tuyến cấp bách vì đại dịch COVID-19?
6 Những khó khăn – hạn chế của nghiên cứu
Các phát hiện từ nghiên cứu này nên được tiếp thu một cách thận trọng vì
có một số hạn chế Đây là một nghiên cứu khám phá và chúng tôi đã xây dựng bảng câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng và chấp nhận học tập trực tuyến, nhưng đây chưa phải là một bảng câu hỏi được tiêu chuẩn hóa Sinh viên bày tỏ nhận thức của họ nhưng quá trình này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu
tố, đặc biệt là vì nghiên cứu tiến hình giữa một đại dịch (sinh viên có thể cảm thấy
sợ hãi, không chắc chắn, căng thẳng ) Tuy nhiên, đây vừa là hạn chế, vừa là cơ hội Bằng cách khảo sát vào đúng thời điểm chuyển đổi hình thức học tập, sinh viên có thể bày tỏ những suy nghĩ của bản thân trong khi đang trải nghiệm
Tương tự như vậy, tính khái quát của bài nghiên cứu còn bị hạn chế Nghiên cứu này chỉ khảo sát sinh viên năm ba khoa tiếng Anh ĐHNN-ĐHĐN Mặc dù kết quả cho thấy sự đánh giá ban đầu về các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về trải nghiệm học tập trực tuyến cấp bách, những nghiên cứu trong tương lai nên được tiến hành tại nhiều trường cao đẳng và đại học hơn
7 Đạo đức nghiên cứu
Sự tham gia tự nguyện
Việc tham gia vào nghiên cứu này là hoàn toàn tự nguyện Những người tham nghiên cứu được cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến nghiên cứu,
có đủ thời gian để xem xét thông tin và được giải đáp các câu hỏi liên quan đến nghiên cứu Người tham gia tự nguyện tham gia nghiên cứu và có thể dừng lại bất
kỳ lúc nào nếu cảm thấy không thoải mái
Chính sách bảo mật thông tin
Toàn bộ các dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu đều nhận được sự đồng ý của người tham gia Để đảm bảo tính riêng tư, danh tính của người trả lời phỏng vấn
sẽ được mã hóa Thông tin cá nhân và các dữ liệu nghiên cứu mà người tham gia
Trang 1616
nghiên cứu cung cấp được lưu trữ bảo mật và không chia sẻ cho bất cứ bên thứ ba nào Dữ liệu nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu
Trang 1717
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới
COVID-19 đã thay đổi lối sống của mọi người trên thế giới Ở nhiều quốc gia, người dân được khuyến nghị nên đảm bảo khoảng cách tối thiểu với những người xung quanh và hạn chế tối đa việc đi lại Hơn thế nữa, nhằm đảm bảo an toàn cho xã hội, các biện pháp giãn cách còn được áp dụng đối với giáo dục Hầu hết các chính phủ trên thế giới đã tạm thời đóng cửa các cơ sở giáo dục và đào tạo nhằm nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của đại dịch Tính đến ngày 8/4/2020, trên thế giới có gần 1,6 tỉ học sinh và sinh viên bị ảnh hưởng; 188 quốc gia buộc phải đóng cửa các trường học trên toàn quốc, gây tác động đến 91.3% tổng số học sinh, sinh viên trên toàn thế giới Việc đóng cửa đột ngột các trường học, cao đẳng, và đại học đã làm gián đoạn các hoạt động giảng dạy và học tập (UNESCO 2020)
Ở Đức, tất cả các trường học đều đóng cửa cho đến ngày 20 tháng 4 năm
2020 Sau đó, nhằm đảo bảo chất lượng giáo dục, Chính phủ đã khuyến nghị áp dụng hình thức học từ xa và cung cấp tài liệu học tập bổ sung thông qua hệ thống trực tuyến Ở Anh, mặc dù Chính phủ không ban hành hướng dẫn chung cho giáo dục trực tuyến, nhưng hình thức giáo dục này vẫn được áp dụng ở một số trường nhất định tùy thuộc vào diễn biến của bệnh tại các trường Sau trường hợp COVID-19 đầu tiên được ghi nhận ở Hàn Quốc, Bộ Giáo dục nước này đã quyết định hoãn buổi lễ khai giảng năm học bốn lần, và kể từ đó quốc gia này đã triển khai phương pháp giáo dục trực tuyến cho học kỳ mới Nhiều trường đại học ở Trung Quốc đã quyết định không tổ chức các lớp học tại trường mà thay vào đó triển khai học tập trực tuyến nhằm đảm bảo an toàn cho sinh viên và giảng viên (Wang và cộng sự, 2020)
Trong bài nghiên cứu “Investigating EFL Students’ Perception On Online Learning Amidst COVID-19 Pandemic”, Firima Zona Tanjung và Aries Utomo
đã khám phá quan điểm của sinh viên về việc triển khai chế độ học tập trực tuyến toàn thời gian trong lớp học tiếng Anh với điều kiện công nghệ hạn chế
Kết quả của công trình nghiên cứu cho thấy có những nhận thức tích cực
và tiêu cực đối với việc chuyển đổi phương thức học tập (từ sự kết hợp giữa học trực tiếp và học trực tuyến sang phương thức học trực tuyến toàn thời gian) Nhận thức tích cực bao gồm: (1) sinh viên đại học đã quen với việc sử dụng công cụ tìm kiếm, nền tảng truyền thông xã hội, tài nguyên học tập điện tử và các trang web giáo dục để hỗ trợ đạt được các mục tiêu học tập; (2) sinh viên đại học có khả năng thích ứng nhờ sự phát triển kiến thức kỹ thuật số trong việc sử dụng ứng dụng học tập hoặc các nền tảng trực tuyến khác; và (3) sinh viên đại học có thể
Trang 18Nhóm các nhà nghiên cứu đến từ các trường đại học của Indonesia đã kết luận trong bài nghiên cứu “University Students Online Learning System During COVID-19 Pandemic: Advantages, Constraints and Solutions” rằng: Những lợi thế mà sinh viên đại học tư thục nhận thấy khi học trực tuyến là họ có thể nghe giảng ngay tại nhà, mọi lúc mọi nơi; không bị giới hạn bởi không gian và thời gian; có thể nghe lại bài giảng trong thời gian rảnh Tuy nhiên những vấn đề tồn tại bao gồm hệ thống mạng không ổn định, lời giảng và tài liệu giảng dạy không xuất hiện đồng thời, hay mất kết nối Wifi đã ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên Mặc dù khám phá được những lợi ích và bất cập của công nghệ số đối với học tập trực tuyến, song bài nghiên cứu lại không chỉ ra những nhân tố tác động đến nhận thức chấp nhận hình thức học tập này của sinh viên
Kết quả nghiên cứu của John Demuyakor trong bản báo cáo “Coronavirus (COVID-19) and Online Learning in Higher Institutions of Education: A Survey
of the Perceptions of Ghanaian International Students in China” cho thấy rằng người học hài lòng với chất lượng giáo dục trực tuyến do Viện Giáo dục Đại học
ở Bắc Kinh, Trung Quốc cung cấp Nhận thức của sinh viên về tính hiệu quả và
độ tin cậy của chương trình học trực tuyến mang lại điểm trung bình cao nhất (3,77), và những thách thức mà sinh viên gặp phải trong quá trình Dạy và Học trực tuyến nhận được điểm trung bình thấp nhất (3,51) Những kết quả này khẳng định sinh viên hài lòng với việc dạy và học trực tuyến được tổ chức bởi các trường đại học khác nhau, mặc dù vẫn tồn tại một số thách thức
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trong nước
Việc chuyển sang đào tạo trực tuyến trong suốt thời kỳ đại dịch COVID-19
là biện pháp ứng phó đầu tiên, mang đến cơ hội phát triển các giải pháp học tập linh hoạt hơn, cụ thể như dạy và học từ xa và đặc biệt là các giải pháp kỹ thuật số Các giải pháp học tập trực tuyến ngắn hạn có thể đã và đang được áp dụng Ba vấn đề chính sách quan trọng cần được giải quyết để tạo ra các tác động tích cực
Trang 1919
lâu dài và tạo ra tính bền vững hơn của hệ thống giáo dục trực tuyến: Đầu tiên là các nguồn lực tài chính và nhân lực phải được huy động để đảm bảo khả năng tiếp cận phổ cập tới cơ sở hạ tầng số, các công cụ, các công nghệ giáo dục hiện đại; Thứ hai là quản lý các trường nghề, giáo viên, giảng viên, và người học cần được đào tạo và hỗ trợ tham gia học tập từ xa và học tập trực tuyến; Thứ ba là các cơ
sở giáo dục và đào tạo phải sửa đổi các mô hình dạy và học để tận dụng tốt nhất các công cụ và các nguồn lực kỹ thuật số (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, tháng 4/2020)
Bài nghiên cứu “Pandemic, social distancing, and social work education: students’ satisfaction with online education in Vietnam” của tác giả Linh P Dinh
& Trang T Nguyen đã đưa ra kết luận rằng sinh viên gặp các vấn đề khi tham gia các khóa học trực tuyến do chất lượng truy cập Internet, chẳng hạn như kết nối bị gián đoạn và âm thanh chất lượng thấp Mặc dù không quen với việc học trực tuyến, hầu hết sinh viên cho biết những khó khăn trên có thể khắc phục được Mức
độ hài lòng của sinh viên đối với hình thức giảng dạy trực tiếp cao hơn đáng kể
so với hình thức giảng dạy trực tuyến trên tất cả các tiêu chí Cần có một chiến lược dài hạn để cải thiện các hoạt động và tương tác khi dạy trực tuyến
Kết quả nghiên cứu còn đưa ra những thách thức cũng như cơ hội cho việc giảng dạy trực tuyến trong tương lai Về cơ hội, mức độ hài lòng của sinh viên với hình thức học tập này cho thấy giảng viên và sinh viên đã có thể thích ứng với
sự thay đổi đột ngột trong phương pháp giảng dạy, điều này cho thấy tiềm năng tốt về giảng dạy trực tuyến trong thời gian dài Tuy nhiên, sự tương tác giữa các sinh viên vẫn chưa thấy rõ, điều này có thể là do sinh viên chưa quen với phương pháp thảo luận dựa trên công nghệ mới, và việc chuyển đổi từ thảo luận trực tiếp sang thảo luận trực tuyến chưa có những sửa đổi phù hợp để kích thích sự tham gia hào hứng của sinh viên Trong bài nghiên cứu, các tác giả đã chứng minh được mặc dù gặp khó khăn về công nghệ nhưng độ hài lòng của sinh viên đối với hình thức học này vẫn cao Tuy nhiên, đó chỉ mới là kết luận tổng quan, cần nghiên cứu sâu hơn và rộng hơn đối với các yếu tố tác động đến nhận thức chấp học trực tuyến cấp bách
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Pham T T Huong and Tran T N Giau với tiêu đề “The Revolution in Online Learning and Implication in Vietnam Universities” đã cho thấy ưu nhược điểm của học truyền thống, học trực tuyến quốc tế và học trực tuyến tại Việt Nam, được trình bày ở bảng dưới đây:
Trang 2020
Bảng 1 So sánh ưu - nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống với
phương pháp dạy học trực tuyến trong nước, quốc tế
Phương pháp học truyền thống
Học trực tuyến quốc tế
Học trực tuyến tại Việt Nam Môi trường học
tập (nơi học,
giáo viên, giao
tiếp)
- Địa điểm: các phòng học tại trường
- Giáo viên: thầy,
cô, giảng viên, gia sư
- Giao tiếp: trực tiếp
- Địa điểm: tại nhà
- Giáo viên: cố vấn, gia sư
- Giao tiếp: email, thư thoại, tin nhắn văn bản, gọi video, phòng trò chuyện, nhóm thảo luận
- Địa điểm: tại nhà
- Giáo viên: cố vấn, gia sư
- Giao tiếp: email, thư thoại, tin nhắn văn bản, gọi video và phòng trò chuyện
Thuận lợi - Có môi trường
truyền thống để học tập và giáo viên có thể theo dõi, khuyến khích sinh viên học tập
- Thảo luận và giao tiếp trực tiếp
- Địa điểm và thời gian học linh hoạt
- Cần có các phương thức để theo dõi và thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên
- Thiếu tương tác trực tiếp
Tương tự các khó khăn của phương pháp học trực tuyến quốc tế, ngoài ra còn gặp phải vấn đề tìm kiếm gia sư có năng lực
giáo khoa
- Sách điện tử, video bài giảng
- Sách điện tử, video bài giảng
Trang 2121
Thuận lợi Kiến thức phù
hợp với trình độ sinh viên
- Số lượng lớn các nguồn tài liệu uy tín, chất lượng trên internet
- Áp dụng các giáo trình từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới
Khó khăn Phần lớn tập
trung và giới hạn trong các tài liệu
mà giáo viên giới thiệu cho sinh viên
- Sinh viên cần có
kỹ năng tìm kiếm
và phân tích
- Sinh viên cần có mục tiêu và khả năng tự học rất cao
- Cần sự hỗ trợ và hướng dẫn nhanh chóng và hiệu quả
từ giáo viên cho từng sinh viên
Các khó khăn khác bao gồm:
- Hầu hết các tài liệu được viết bằng tiếng Anh
- Khó định hướng
và thúc đẩy sinh viên tìm hiểu về một chủ đề cụ thể
Những kỹ năng
học tập
- Hướng dẫn và chiến lực học tập được giáo viên cung cấp
- Giáo viên lập kế hoạch giáo trình
và thời gian biểu cho mỗi tuần
- Tham khảo chiến lược học trên các website
- Sinh viên tự lập kế hoạch và quản lý thời gian học tập của mình
Thuận lợi Có rất nhiều hoạt
động như làm việc nhóm, thảo luận diễn ra trong lớp học
- Cho phép mỗi sinh viên học theo khả năng của riêng mình
- Tập trung vào sự khác biệt của từng người học
Trang 2222
Khó khăn Có thể không phù
hợp với tính cách
và khả năng của sinh viên
Tác động đến các
kỹ năng xã hội
Khó khăn khác bao gồm:
- Hạn chế vai trò của giáo viên
Kiểm tra đánh
giá
- Các kỳ thi giám sát truyền thống
- Tự đánh giá và bạn bè đánh giá,
áp dụng cho toàn
bộ lớp
- Các bài viết và thảo luận trực tuyến thông qua các cuộc gọi video
- Tự kiểm tra đánh giá
- Các bài viết và thảo luận trực tuyến thông qua các cuộc gọi video
- Tự kiểm tra đánh giá
Thuận lợi - Có thể tổ chức
nhiều hình thức thi
- Kiểm soát được chất lượng và tính công bằng của các kỳ thi
- Có ít lợi thế trong quá trình kiểm tra đánh giá hơn so với cách học truyền thống
dạng đề thi
- Có thể mất nhiều thời gian hơn để đánh giá bài làm của sinh viên
Các khó khăn khác bao gồm:
- Có thể không kiểm soát được chất lượng và tính công bằng của các kỳ thi
Hiện nay những công trình nghiên cứu tập trung vào các yếu tố tác động đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên cũng như khám phá sơ bộ năng lực công nghệ số đối với người học ngoại ngữ thời kỳ dịch bệnh vẫn chưa được tiến hành ở Việt Nam Vì vậy, đây vẫn còn là một đề tài mang tính mới mẻ và có tiềm năng khai thác đối với hệ thống giáo dục nước ta Thêm vào đó, các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách trong đại dịch COVID-19 của sinh viên năm Ba khoa tiếng
Trang 23áp dụng để cải thiện tính bền vững giữa ý định và thái độ tương ứng Mặt khác,
mô hình Lý thuyết hành động hợp lý cũng có một vài hạn chế chính đó là không xác định được vai trò chính của thói quen, sự cân nhắc nhận thức, những hiểu lầm trong quá trình khảo sát (thái độ, định mức chủ quan và ý định của người tham gia khảo sát) và các yếu tố đạo đức Thêm vào đó, sự tự nguyện sử dụng công nghệ thông tin cũng là vấn đề quan trọng để xác định tính hợp lệ của mô hình Lý thuyết hành động hợp lý
Trang 2424
1.2.1 Khái niệm mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)
Chuẩn chủ quan: Được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành
vi và chuẩn chủ quan - Chuẩn chủ quan (Subjective norms) được định
nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của
cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Fishbein & Ajzen, 1975)
Mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM là phái sinh của mô hình Lý thuyết hành động hợp lý - TRA Trong mô hình chấp nhận công nghệ - TAM, định mức đối tượng và sự thích thú của người dùng công nghệ đã bị lược bỏ khỏi mô hình
do nền tảng lý thuyết và trạng thái tâm lý không chắc chắn trong mô hình Lý thuyết hành động hợp lý - TRA Mô hình TAM giải thích động lực sử dụng công nghệ của người dùng dựa trên 3 yếu tố sau: nhận thức lợi ích mà công nghệ mang lại, nhận thức về tính dễ sử dụng và thái độ của người dùng đối với việc sử dụng công nghệ Vì thế, mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM không chỉ bao gồm ý định hành vi (Behaviourl intention) mà còn có thêm 2 yếu tố cốt lõi là nhận thức lợi ích và tính dễ sử dụng của công nghệ, những yếu tố này cũng được xem là có tác động đến thái độ của người dùng Những yếu tố trên có thể được xem là một
Trang 2525
yếu tố có lợi hoặc không có lợi đối với hệ thống Đôi khi, các yếu tố ngoại biên (như đào tạo người dùng, đặc điểm hệ thống, sự tham gia của người dùng trong thiết kế và bản chất của quá trình thực hiện) cũng được xét đến trong mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM Có thể nói, mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM
là một trong số những mô hình được viện dẫn rộng nhất đối với lĩnh vực “chấp nhận công nghệ” Vì mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM đã bỏ qua những tác động từ xã hội trong việc tiếp nhận công nghệ, nên việc áp dụng mô hình này ra ngoài môi trường làm việc sẽ gặp nhiều hạn chế Bên cạnh đó một số nhân tố ngoại biên cũng cần được đưa vào mô hình này để có thêm nhiều dự đoán phù hợp về việc sử dụng hệ thống Vì các động lực nội tại không được xét đến trong
mô hình Chấp nhận công nghệ - TAM nên khả năng áp dụng mô hình TAM trong bối cảnh khách hàng (người dùng chấp nhận sử dụng công nghệ thông tin không chỉ để hoàn thành công việc mà còn để đáp ứng nhu cầu tình cảm) có thể sẽ gặp nhiều hạn chế
Kemp và cộng sự (2019) đã phân tích mô hình chấp nhận công nghệ và phát triển phép phân loại các nhân tố hình thành nhận thức đối với việc sử dụng công nghệ giáo dục của sinh viên hoặc giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học Phép phân loại bao gồm bảy nhân tố chính: a) thái độ, xúc cảm và động lực; b) các nhân tố xã hội; c) tính hữu dụng và khả năng hiển thị; d) các thuộc tính hướng dẫn; e) kiểm soát hành vi nhận thức, f) tương tác có nhận thức, và g) thuộc tính
hệ thống Mặc dù tất cả các nhân tố trên đều có tác động đến quá trình áp dụng công nghệ, tuy nhiên nghiên cứu này sẽ chỉ tập trung vào các nhân tố chủ yếu liên quan đến hành vi hoặc thái độ của sinh viên Các nhân tố sẽ được nghiên cứu bao gồm thái độ, xúc cảm, và động lực; kiểm soát hành vi nhận thức; và tương tác có nhận thức
Các nhân tố tập trung vào giảng viên (thuộc tính hướng dẫn), thiết kế công nghệ (tính hữu dụng và khả năng hiển thị, và thuộc tính hệ thống), hoặc các nhân
tố xã hội sẽ không được nghiên cứu Sự chuyển đổi bất ngờ sang học trực tuyến
đã khiến các giảng viên và các chuyên gia không đủ thời gian để lập kế hoạch giảng dạy trực tuyến phù hợp Hơn nữa, quá trình cách ly xã hội trong COVID-
19 đã tạo ra một thực tế xã hội mới nằm ngoài phạm vi của nghiên cứu này
1.2.1.1 Thái độ, xúc cảm và động lực
Thái độ
Thái độ hướng tới hành vi (TRA, TPB) có vai trò quan trọng đối với thái
độ và là một yếu tố ảnh hưởng đến hành vi Sơ đồ TAM ban đầu của Davis (“TAM-O” - Thái độ hướng tới sử dụng) (1986) đã xem nó như tiền thân của ý định hành vi Tuy nhiên, Davis đã sửa đổi TAM (TAM-R) (1989) vì “thái độ
Trang 2626
không hoàn toàn làm cầu nối cho tác động của yếu tố nhận thức tính hữu dụng và yếu tố nhận thức mức độ dễ sử dụng lên hành vi” (Davis, 1989, trang 335) Tương
tự như vậy, các mô hình TAM2 (Venkatesh & Davis, 2000), TAM3 (Venkatesh
& Bala, 2008) và UTAUT (Venkatesh và cộng sự, 2003) không cho rằng thái độ
là một cấu trúc trung gian vì nó không ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại của tính hữu ích và tính dễ sử dụng Ngoài ra, Teo (2009) còn chứng minh được rằng thái
độ không ảnh hưởng đến bất kỳ biến thể nào của ý định hành vi Nistor và Heymann (2010) cũng đồng ý với nhận định này trong các bài nghiên cứu theo sau Tuy nhiên, López-Bonilla & López- Bonilla (2011) lại cho rằng thái độ có ảnh hưởng như một yếu tố trung gian nổi bật trong bối cảnh tự nguyện và khi PLS-SEM được sử dụng làm phương pháp phân tích (López-Bonilla & López-Bonilla, 2017; Yang & Su , 2017) Chau cũng chứng minh “những tác động tích cực đáng kể” (Chau, 2001, trang 30) khi thái độ là tiền đề cho cả tính hữu ích và tính dễ sử dụng Teo và cộng sự, (2017) nhận thấy rằng kinh nghiệm của giảng viên có thể tác động trực tiếp đến thái độ của sinh viên Thái độ có thể liên quan đến giá trị cá nhân thay vì hướng trực tiếp đến mục tiêu tiếp cận công nghệ, và Hao cùng cộng sự đã cho thấy ảnh hưởng đáng kể của sự đổi mới cá nhân (“một
cá nhân sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thử dùng một công nghệ mới”) (Hao, Dennen, & Mei, 2017, trang 107) đối với tính dễ sử dụng và từ đó ảnh hưởng đến mục đích hành vi Do đó, thái độ có thể được gộp chung với các yếu tố khác, nhưng ở một số tình huống cụ thể, khi được đánh giá theo những cách nhất định,
nó có thể trở thành một nhân tố nổi bật
Xúc cảm
Nói chung, xúc cảm không tác động nhiều đến ý định hành vi như các yếu
tố khác, và vì lý do này, nó không được đưa vào mô hình UTAUT (Venkatesh và cộng sự, 2003) Tuy nhiên, sự thích thú của người dùng (“Số lần người dùng cảm thấy thật sự hài lòng khi sử dụng máy tính” Martinez-Torres và cộng sự, 2008, trang 498) đã được chứng minh là có “ảnh hưởng đáng kể đến ý định” (Davis, Bagozzi, & Warshaw, 1992, trang 1111) và vì vậy Kemp và cộng sự (2019) quyết định giữ lại nhân tố này Sự hài lòng của người dùng được định nghĩa là “mức độ
mà người dùng cảm thấy hài lòng với các hệ thống thông tin họ đã sử dụng” (Lee
& Lehto, 2013, trang 195) chỉ đơn giản là một trạng thái xúc cảm, và do đó Kemp
và cộng sự đặt sự hài lòng vào nhân tố xúc cảm
Trang 2727
thúc đẩy ảnh hưởng đa phương và vì vậy Kemp và cộng sự đã đặt động lực của
người học và định hướng mục tiêu học tập vào một nhóm gọi là “Động lực nội
tại” - ảnh hưởng song song Khi nhận ra khía cạnh “Hài lòng” tiềm ẩn trong động
lực nội tại (Vallerand, 1997), Kemp và cộng sự cho rằng động lực phải gắn liền
với xúc cảm, mặc dù yếu tố định hướng của nó là một đặc điểm khác biệt Dựa
trên những cân nhắc này, Kemp và cộng sự sửa đổi nhóm phân loại chính “Thái
độ & Xúc cảm” từ các phân loại gốc trong Bảng 2 thành “Thái độ, Xúc cảm &
Động lực” (Bảng 3)
Bảng 2 Các phân loại gốc xuất hiện từ sự liên kết ngữ nghĩa của các lý thuyết
hành vi cơ bản, mô hình TAM của Davis và mô hình UTAUT của Venkatesh cùng
cộng sự
Nhóm phân loại
bậc 1
Nhóm phân loại bậc 2
Nhóm phân loại bậc 3
Thái độ hướng tới
sử dụng (TAM) Xúc cảm Động lực nội tại
Xúc cảm về việc
sử dụng
Động lực nội tại (MM)
Xúc cảm về việc
sử dụng (MPCU) Xúc cảm (SCT)
Bảng 3 Sửa đổi các nhân tố “Thái độ và xúc cảm”
Thái độ, Xúc cảm
và Động lực
hành vi (TRA, TPB)
Thái độ hướng tới
sử dụng (TAM) (Yếu tố trung gian) Sáng tạo cá nhân
Động lực nội tại Động lực của
người học
Trang 2828
(Yếu tố trung gian) Định hướng mục
tiêu học tập Xúc cảm Thái độ hướng tới
sử dụng
Xúc cảm trong việc sử dụng (MPCU) Xúc cảm (SCT) Cảm giác thích thú
Sự hài lòng của người dùng
Sự lo ngại Sự lo ngại (SCT)
[Neg]
1.2.1.2 Nhận thức về kiểm soát hành vi
Abdullah & Ward (2016) đã chứng minh rằng, kinh nghiệm là khái niệm
đo lường quan trọng thứ năm, và họ cho rằng giữa sự tiến bộ trong các kỹ năng của người dùng và các kinh nghiệm trước đó của họ có mối liên kết với nhau Điều đó có nghĩa là những kinh nghiệm trước đó của người dùng đã phần nào tác động đến nhận thức về tính dễ sử dụng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc học trực tuyến hoặc mức độ tin cậy vào khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của bản thân, làm cho họ có những thay đổi về thái độ đối với việc ứng dụng công nghệ trong việc học trực tuyến Có nghiên cứu chỉ ra rằng, trên thực
tế, việc sử dụng hệ thống nhúng (Wiki) có ảnh hưởng tích cực đến việc người dùng tin tưởng và tiếp tục sử dụng cơ sở hạ tầng số trong việc học trực tuyến (Yueh, Huang, & Chang, 2015) Có nhiều bằng chứng tin cậy cho rằng kinh nghiệm trước đó của người dùng có liên quan mật thiết đến sự tiến bộ trong các
kỹ năng của họ Vì vậy trong phạm vi của nhóm phân loại tính dễ sử dụng (Ease
of use taxonomy group), Kemp và cộng sự đã xem chúng như là một nhân tố kết hợp của nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived ease of use)
Trang 2929
Bảng 4 Mô hình phân loại nhóm “thuộc tính hướng dẫn”
Thuộc tính
hướng dẫn Thuộc tính giảng viên Đặc điểm giảng viên
Kiến thức về nội dung, phương pháp và công nghệ (TPACK) Thuộc tính nội dung Đặc điểm nội dung giảng dạy
Tính phong phú của nội dung
giảng dạy Thiết kế nội dung học tập
sinh viên Phối hợp
Bài đánh giá cho thấy rằng, mức độ tin cậy vào khả năng ứng dụng CNTT
là yếu tố cần được tập trung hàng đầu, khái niệm này đề cập đến cách một người
sử dụng khả năng vốn có của bản thân để đánh giá chính những khả năng mà người đó đang sở hữu (Bandura, 1981) Chẳng hạn như ‘mức độ tin tưởng vào khả năng sử dụng máy tính của một người’ được định nghĩa là “mức đánh giá của người đó về khả năng sử dụng máy tính của chính bản thân họ” (Teo, 2009b, p 304), khái niệm này khác với khái niệm về mức độ tự tin vào năng lực của bản thân trong việc học trực tuyến (trích “sự tự tin của bản thân trong việc tìm kiếm thông tin và trao đổi với giáo viên hướng dẫn thông qua nền tảng giáo dục trực tuyến và những kỹ năng cần thiết khi sử dụng”, Park, 2009, tr 152).Vì sự đa dạng của mục tiêu công nghệ, Kemp và cộng sự đã chỉnh sửa nguồn gốc của nhóm phân loại (Taxonomy) để gộp 3 tính đa dạng về hình thức của việc tin vào năng lực sử dụng công nghệ của bản thân vào trong khái niệm mà bài đánh giá đã đưa ra Tương tự như mức độ tin tưởng vào năng lực bản thân trong việc học trực tuyến, người học cũng cần phải có khả năng tiếp cận công nghệ số (“mức độ dễ dàng tiếp cận đến hệ thống giáo dục trực tuyến do nhà trường cung cấp như một yếu tố
Trang 3030
tổ chức” Park, 2009, tr 153) và tính cơ động (“khả năng sử dụng các ứng dụng đám mây (hệ các ứng dụng thuộc điện toán đám mây) thông qua điện thoại di
động mà bị giới hạn về không gian và thời gian”, Yadegaridehkordi cùng cộng
sự, 2019, tr 85) Kemp và cộng sự xem những nhân tố này là những nhân tố góp
phần tạo nên nhóm phân loại cơ hội (the opportunity taxonomic group) và đào tạo (“nỗ lực của giáo viên nhằm trang bị cho người học các kỹ năng khi thao tác trên nền tảng giáo dục trực tuyến”, Alenezi, Karim, & Veloo, 2011), Kemp và cộng
sự cũng đồng thời liệt kê những nhân tố đó vào nhóm điều kiện cơ sở vật chất (Bảng 5)
Bảng 5 Mô hình cải tiến “điều khiển hành vi nhận thức”
Điều khiển hành
vi nhận thức
Khả năng và nỗ lực
Tính dễ sử dụng Tính phức tạp
(MPCU, IDF) [tiêu cực]
Tính dễ sử dụng(AITI) Nhận thức về tính dễ
sử dụng(TAM)
Kỳ vọng nỗ lực (UTAUT) Kinh nghiệm Mức độ tự tin
vào năng lực của bản thân
Mức độ tự tin vào năng lực của bản thân (SCT) (hình thức đa dạng)
Môi trường và tình huống
Điều kiện cơ sở vật chất
Điều kiện cơ sở vật chất (MPCU, của Triandis)
Đào tạo
Cơ hội Bối cảnh của cơ hội
(của Sarver) Khả năng thử nghiệm (IDF)
Khả năng tiếp cận Tính cơ động
Trang 3131
1.2.1.3 Sự tương tác có nhận thức
Bài đánh giá của Kemp và cộng sự đã nêu ra những ảnh hưởng của tiếp
nhận nhận thức (“a state of deep involvement” Saade & Bahli, 2005, p.320) và
trạng thái dòng chảy (“trạng thái của một người khi họ tham gia vào một hoạt động một cách hăng say” Saade & Bahli, 2005, tr 318) tác động lên thái độ, và mức độ tập trung của người học (“mức độ tập trung của một người vào việc gì đấy” Liu, Liao, & Pratt, 2009, tr 602) Kemp và cộng sự nhận thấy những tác động trên có liên quan đến vị trí trong một nhóm phân loại “tiếp nhận” Cũng theo
đó, khái niệm “sống động” (“khả năng của công nghệ tạo ra môi trường trung gian sống động” Steuer, 1992, tr 80), khái niệm này được đem ra bàn luận về khía cạnh giác quan phong phú, liên hệ nó đến quá trình nhận thức và nhờ đó nó được tách ra từ nội dung phong phú, nội dung này liên quan đến sự đa dạng của phương
tiện truyền thông Lee cùng cộng sự (2009) cho rằng, “tính không nghiêm túc” xét
về khía cạnh tập trung sự chú ý và tăng cường tính tò mò đã được sử dụng như là
một công cụ đo lường của trạng thái dòng chảy Cùng với đó, sự tiếp nhận
(absortion), sự sống động (vividness) và thiếu nghiêm túc (playfullness) có liên quan đến trọng tâm, sự tập trung và việc tiếp nhận của người học Do đó, Kemp
và cộng sự đã xây dựng nên nhóm phân loại sơ cấp “tăng cường tính nhận thức” (Bảng 6)
Bảng 6 Mô hình phân loại nhóm “tăng cường nhận thức”
Tăng cường nhận thức Sự tiếp nhận Tiếp nhận nhận thức
Sự tập trung
Trạng thái dòng chảy
Tính thiếu nghiêm túc Nhận thức tính không
nghiêm túc Tính sống động Tính sống động
Trang 3232
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VÀ CHẤP NHẬN HỌC TRỰC TUYẾN CẤP BÁCH CỦA SINH VIÊN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
2.1 Tiến hành nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng
đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên
Mục đích nghiên cứu; Nội dung nghiên cứu; Phương pháp tiến hành; Cách thức tiến hành nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của giai đoạn này là xây dựng cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu của đề tài, từ khung lý luận, xác lập quan điểm chủ đạo của đề tài trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên
Nội dung nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên Từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong các công trình này để tiếp tục tiến hành nghiên cứu
- Xác định các khái niệm công cụ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài như: học trực tuyến, chấp nhận học trực tuyến, học trực tuyến cấp bách…
Phương pháp tiến hành
Để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa khái quát hóa các tài liệu đã được đăng tải ở sách báo, tạp chí và trên hệ thống thông tin toàn cầu Internet bàn về những vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến nhận
thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên
Cách thức tiến hành nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập, lựa chọn các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân
tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của
sinh viên… Từ đó phân tích, tổng hợp và đánh giá tổng quát các nghiên cứu về
vấn đề này, xây dựng cơ sở lý luận, thiết kế công cụ nghiên cứu và lấy tư liệu sử dụng trong quá trình phân tích, lý giải, đánh giá kết quả thu được từ thực tiễn
2.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và
chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
Mục đích nghiên cứu; Nội dung nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu
Trang 3333
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của giai đoạn này là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm
ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm ba khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN Ngoài ra, thông qua khảo sát định lượng, tìm hiểu những tác động tích cực của quá trình cách ly tại nhà; đồng thời xác định những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 Kết quả nghiên cứu định lượng hỗ trợ chứng minh, làm rõ mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức
sử dụng và chấp nhận học trực tuyến
Phương pháp tiến hành
Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp sau để thực hiện các nội dung ở giai đoạn này: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp phân tích dữ liệu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu kết hợp ba phương pháp: phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính:
a) Mục đích sử dụng
Albert Einstein – Không phải mọi thứ đều có thể đếm được số lần và không phải mọi thứ đều có thể đếm được Mục đích của nghiên cứu định tính là trả lời các câu hỏi nghiên cứu bằng các dữ liệu mang tính chất giải thích, minh chứng cho kết quả mà chúng tôi tìm ra Đồng thời, hỗ trợ cho phương pháp nghiên cứu định lượng về mặt những nhân tố, ý kiến cá nhân có tính đại diện
b) Cách thức tiến hành
Sinh viên trả lời các câu hỏi mở được đính kèm với bảng hỏi nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến, khó khăn ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên và những khía cạnh tích cực mà sinh viên trải qua sau khi cách ly tại nhà vì COVID-19
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
a) Mục đích sử dụng
Phương pháp này nhằm cung cấp những tri thức ban đầu về vấn đề nghiên cứu, làm nền tảng cho việc xây dựng đề cương cho đề tài Đồng thời, các thông tin thu thập cũng được sử dụng xuyên suốt, làm cơ sở xây dựng bảng hỏi điều tra trong quá trình phân tích và viết báo cáo
b) Cách thức tiến hành
Trang 3434
Thu thập, lựa chọn các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân
tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên Từ đó phân tích, tổng hợp và đánh giá tổng quát các nghiên cứu về vấn đề này, xây dựng cơ sở lý luận, thiết kế công cụ nghiên cứu và lấy tư liệu sử dụng trong quá trình phân tích, lý giải, đánh giá kết quả thu được từ thực tiễn nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến của sinh viên Từ đó kiến nghị các biện pháp hướng đến việc cải thiện, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên
2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Như đã đề cập trong phần trước, bảng hỏi được chọn làm phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu Khi đưa ra quyết định này, chúng tôi đã phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa những ưu điểm và nhược điểm của loại công cụ này Sự phổ biến của việc sử dụng bảng câu hỏi trong nghiên cứu là do tính dễ xây dựng, tính linh hoạt cao và khả năng thu thập một lượng lớn thông tin một cách nhanh chóng
Về hiệu quả thời gian, Dornyei (2003) kết luận rằng bảng câu hỏi có thể được sử dụng “để thu thập một lượng lớn thông tin trong vòng chưa đầy một giờ” (tr.9) Hơn nữa, với sự hỗ trợ của phần mềm máy tính hiện đại, thời gian và chi phí xử
lý dữ liệu có thể được giảm thiểu Do đó, công cụ này là phương pháp thu thập phù hợp nhất theo quan điểm của chúng tôi
Tuy nhiên, bảng câu hỏi có một số hạn chế và đôi khi chúng dẫn đến dữ liệu không thể kiểm chứng và không hợp lệ do những sai sót trong quá trình xây dựng bảng hỏi Những hạn chế của phương pháp này bao gồm sự đơn giản và thiếu chiều sâu (Moser & Kalton, 1971), câu trả lời không đáng tin cậy (Hopkins, Stanley, & Hopkins 1990), khuynh hướng mong muốn xã hội (Oppenheim, 1992)
và hiệu ứng hào quang Do đó, các bảng câu hỏi được sử dụng trong bài nghiên cứu đã được thiết kế cẩn thận để giảm thiểu những điểm yếu này
a) Mục đích sử dụng
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp quan trọng của đề tài, được sử dụng với mục đích tìm hiểu các vấn đề: các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên; khó khăn và thuận lợi trong quá trình học trực tuyến cấp bách của sinh viên năm ba; đồng thời
có những đánh giá sơ bộ về năng lực công nghệ số của sinh viên năm 3 khoa tiếng Anh trường ĐHNN-ĐHĐN
b) Cách thức tiến hành
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành thông qua các bước sau:
Trang 35Bước 2 Xây dựng bảng hỏi
Đối với các câu hỏi về nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách: sau khi xem xét lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận, chấp nhận và sử dụng hình thức học trực tuyến cấp bách của Patricia Aguilera Hermida và phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng công nghệ giáo dục dựa trên nền tảng các mô hình chấp nhận công nghệ của nhóm tác giả Andrew Kemp, Peter Strelan và Edward J Palmer, chúng tôi đã xây dựng hệ thống bảng hỏi tập trung vào 3 nhân tố nổi trội để khám phá vấn đề
Nhằm tìm hiểu tổng quan về năng lực công nghệ số của sinh viên, chúng tôi quyết định sử dụng một số câu hỏi trích từ bảng hỏi đánh giá năng lực công nghệ số của tác giả TS Jeong-Bae Son Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi này được trình bày bằng tiếng Anh nên chúng tôi đã sử dụng các kiến thức dịch thuật chuyên môn, công cụ dịch thuật và sự hỗ trợ của giảng viên khoa tiếng Anh nhằm biên dịch bảng hỏi từ tiếng Anh sang tiếng Việt mà vẫn đảm bảo được giá trị khoa học cần thiết, không làm trở ngại đến quá trình nghiên cứu của chúng tôi
Bước 3: Khảo sát thử
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thử để thử nghiệm bảng hỏi Mục đích của bước này là xác định câu hỏi nào khó hiểu ở ngôn ngữ diễn đạt khiến người tham gia khó trả lời trung thực Thái độ trả lời của người tham gia như thế nào: nghiêm túc hay không nghiêm túc, có trả lời theo suy nghĩ thực của họ hay không? Thời gian cần thiết để hoàn thành các câu trả lời là bao nhiêu? Thu thập ý kiến góp ý, nhận xét của người tham gia về nội dung và hình thức bảng hỏi Và đặc biệt là kiểm tra bảng hỏi đã đủ độ tin cậy hay chưa
Bước 4: Khảo sát chính thức
Sau khi sửa đổi bổ sung, đảm bảo về độ tin cậy Cronbach’s Alpha của bảng hỏi, chúng tôi chính thức tiến hành khảo sát 250 sinh viên tham gia nghiên cứu theo hình thức biểu mẫu online vì số lượng mẫu khảo sát lớn không thuận lợi để thực hiện điều tra trực tiếp
Trang 3636
2.3 Mô tả công cụ nghiên cứu
Chúng tôi đã thực hiện xây dựng bảng hỏi nhằm mục đích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học tập trực tuyến sau khi chuyển đổi từ các khóa học trực tiếp sang học trực tuyến cấp bách
Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách bao gồm
2 câu hỏi mở bổ sung về những thách thức và những thay đổi tích cực trong trải nghiệm học tập của sinh viên sau lệnh cách ly tại nhà do COVID-19 Sinh viên trả lời hai câu hỏi mở: “Quá trình học tập của bạn đã gặp phải những khó khăn gì trong suốt thời kỳ dịch bệnh Covid 19 (các yếu tố môi trường học tập, tài chính, cảm xúc, …)?” và “Hãy cho biết những khía cạnh tích cực và/hoặc những thay đổi mà bạn đã trải qua kể từ khi trải qua cách ly tại nhà vì COVID-19.” Tổng số
173 sinh viên trả lời câu hỏi các khó khăn liên quan và 169 câu phản hồi những khía cạnh tích cực liên quan đến COVID-19 Dữ liệu được phân tích bằng Dedoose 8.3, một phần mềm định tính để mã hóa Sau đó, các câu trả lời được nhóm lại thành các nhân tố lớn cấu thành thách thức và thuận lợi của việc học trực tuyến
Trước tiên, chúng tôi tiến hành khảo sát những câu hỏi mang tính tự đánh giá năng lực công nghệ số Câu hỏi đầu tiên sẽ kiểm tra khả năng, kiến thức và trải nghiệm của sinh viên với các thiết bị và ứng dụng công nghệ số Sinh viên sẽ đánh giá 1 = có và 2 = không cho các yếu tố: Bạn có sử dụng máy tính cho mục đích học tập không?; Bạn có cảm thấy dễ dàng để học một kiến thức mới bằng cách đọc trên màn hình máy tính không?; Bạn có cảm thấy dễ dàng để học một kiến thức mới bằng cách xem trên màn hình máy tính không?; Bạn cảm thấy bản thân có năng lực sử dụng các nền tảng hỗ trợ học trực tuyến không? (Zoom Cloudy Meeting, Skype, Google Classroom; MS Teams, LMS, Moodle) và; Bạn có sử dụng ứng dụng di động nào cho mục đích học ngoại ngữ không?
Câu hỏi thứ hai với mục tiêu để sinh viên tự đánh giá kỹ năng sử dụng máy tính và ứng dụng trên nền tảng Internet (MS Word, Facebook, Google Drive, Youtube, v.v) dựa trên thang 6 mức độ: 6 = rất kém, 5 = kém, 4 = trung bình, 3 = tốt, 2 = rất tốt và 1 = chưa sử dụng
Cuối cùng, sinh viên sẽ đánh giá 1 = đồng ý và 2 = không đồng ý đối với những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ số phục vụ việc học ngôn ngữ Cụ thể bao gồm các yếu tố: thiếu thời gian; thiếu ngân sách; sinh viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức công nghệ số; sinh viên chưa thành thạo kỹ năng
sử dụng công nghệ số; thiếu sự quan tâm của giảng viên; sinh viên không hứng thú với môn học; thiếu tài liệu học tập
Đối với những câu hỏi định lượng đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức bao gồm các mục đánh giá thái độ đối với việc học trực tiếp so với học trực
Trang 3737
tuyến; động lực theo đuổi trường học và trạng thái xúc cảm; mức độ sử dụng công nghệ số phục vụ học tập; mức độ tự tin vào khả năng sử dụng công nghệ số; khả năng tiếp cận và mức độ tương tác có nhận thức Chúng tôi đã xây dựng bảng câu hỏi dựa trên các cấu trúc được trình bày trong bài nghiên cứu của Kemp và cộng
sự (2019) về các yếu tố hình thành nhận thức đối với việc sử dụng công nghệ giáo dục
Nhằm đánh giá thái độ và xúc cảm của sinh viên đối với việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến, chúng tôi đã liệt kê các yếu tố giả thuyết để xem xét hình thức học trực tiếp hay trực tuyến là lựa chọn hàng đầu của sinh viên Các yếu
tố giả thuyết bao gồm sở thích của tôi là học trực tiếp; tôi đã gặp nhiều khó khăn
để thích nghi với phương pháp dạy/học từ xa; sở thích của tôi là học trực tuyến và cuối cùng là nhìn chung, tôi hài lòng với các khóa học trực tuyến của mình Sinh viên sẽ đánh giá trên thang 5 mức độ: 5 = rất đồng ý, 4 = đồng ý, 3 = không có ý kiến, 2 = không đồng ý và 1 = rất không đồng ý
Đối với động lực ủa sinh viên, chúng tôi đã liệt kê một loạt các yếu tố học thuật và yêu cầu sinh viên tham gia khảo sát đánh giá nhận thức của họ về cách mỗi người thúc đẩy bản thân tiếp tục việc học trước khi thực hiện lệnh cách ly tại nhà Các yếu tố đánh giá bao gồm: trò chuyện với bạn bè; tương tác với giáo viên; được ra ngoài (ăn uống, trò chuyện, học tập…); tham gia các hoạt động ở trường; hoàn thành bài tập ở trường; hứng thú với môn học và hoàn thành chương trình học Sinh viên đánh giá mỗi nhân tố trên thang điểm bốn, trong đó 4 = rất mong muốn, 3 = mong muốn, 2 = bình thường và 1 = không mong muốn Sau đó, sinh viên tham gia đánh giá các yếu tố tương tự dựa trên nhận thức của họ về động lực thúc đẩy việc đến trường sau lệnh cách ly tại nhà
Đối với việc đánh giá nhận thức kiểm soát hành vi, chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá trên 3 phương diện: mức độ sử dụng, mức độ tự tin và khả năng tiếp cận công nghệ
Để đánh giá mức độ dễ dàng sử dụng công nghệ giáo dục, chúng tôi đã liệt
kê các nền tảng và các hoạt động giáo dục trực tuyến, đồng thời yêu cầu những sinh viên tham gia khảo sát báo cáo tần suất sử dụng của họ đối với từng nền tảng trước khi lệnh cách ly tại nhà được triển khai Các nền tảng công nghệ giáo dục
đó bao gồm: một nền tảng giáo dục trực tuyến (Lms, Moodle ); công cụ giao tiếp (Zoom, Teams, GoogleMeet); mạng xã hội (TikTok, Instagram,Twitter, Facebook…); video giảng dạy không đồng bộ (do giảng viên ghi hình từ trước)
và các buổi học đồng bộ (trực tuyến) Những người tham gia đánh giá từng nền tảng trên thang điểm 5, trong đó 5 = rất thường xuyên, 4 = thường xuyên (một lần mỗi tuần), 3 = thỉnh thoảng (một đến hai lần mỗi tháng), 2 = hiếm khi và 1 = Không bao giờ Sau đó, sinh viên sẽ tiếp tục cung cấp thông tin về tần suất sử
Trang 38xã hội tại nhà.” và chúng tôi đã liệt kê những kỹ năng học tập cần thiết Sinh viên trả lời theo thang điểm Likert, trong đó 5 = cải thiện đáng kể, 4 = có cải thiện, 3
= không thay đổi, 2 = ít cải thiện và 1 = không cải thiện
Khả năng tiếp cận là mức độ mà một người nhận thức được cơ hội và khả năng truy cập công nghệ giáo dục Trong bài nghiên cứu, sinh viên được yêu cầu lựa chọn các nhân tố sau: một thiết bị kỹ thuật số đáng tin cậy (ví dụ: máy tính, máy tính bảng, thiết bị di động); một dịch vụ internet đáng tin cậy; phần mềm/ công cụ truyền thông (Ví dụ: Skype, Zoom, Teams, GoogleClassroom) và dịch
vụ hỗ trợ giải quyết các vấn đề kỹ thuật Sinh viên sẽ đánh giá trên thang 5 mức độ: 5 = luôn luôn, 4 = hầu hết thời gian, 3 = thỉnh thoảng, 2 = không bao giờ và 1
= không cần thiết cho việc học
Nhân tố cuối cùng được nghiên cứu trong các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên đối với việc sử dụng và chấp nhận học trực tuyến chính là mức
độ tương tác có nhận thức Tương tác có nhận thức là trạng thái tích cực tham gia xây dựng bài học và tiếp thu kiến thức của người học (Kemp và cộng sự, 2019) Chúng tôi đã hỏi sinh viên “Nhìn lại chính bạn trước khi cách ly tại nhà vì COVID-
19, hãy mô tả những thay đổi trong quá trình học tập ở trường” và chúng tôi liệt
kê 6 yếu tố liên quan đến trường học Sinh viên trả lời theo thang điểm Likert trong đó 5 = cải thiện đáng kể, 4 = cải thiện, 3 = không thay đổi, 2 = giảm dần và
1 = giảm đáng kể
2.4 Kết quả nghiên cứu thực trạng và bàn luận
2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức sử dụng và chấp nhận học trực tuyến cấp bách của sinh viên
Trang 3939
Xúc cảm (Sự hài lòng đối với các khóa
Động lực – Trước cách ly 228 3.57 0.47 Động lực – Sau cách ly 228 2.75 0.58
Bàn về vấn đề thái độ của sinh viên đối với các phương pháp truyền tải kiến thức, chúng tôi hỏi sinh viên thích phương pháp nào hơn và liệu họ có gặp khó khăn trong việc thích nghi với việc học trực tuyến Việc sinh viên nhận định được
có hứng thú với phương pháp nào hơn cho thấy sinh viên có một thái độ tích cực đối với sự lựa chọn của mình trong quá trình làm khảo sát
Từ bảng số liệu có thể thấy sinh viên bày tỏ một niềm hứng thú mạnh mẽ đối với việc học trực tiếp hơn là học trực tuyến, t(228) = 14,78, p < 0.001 Hơn nữa, những sinh viên thích học trực tiếp thì càng gặp những khó khăn trong việc thích nghi với việc học trực tuyến Các câu trả lời nhận được chứng minh được một mối tương quan cao giữa việc thích học trực tuyến và khó khăn khi thích nghi với việc học trực tuyến rs(228) = 0.628, p < 0.001
Bảng 8 Nhận định của sinh viên về việc học tập trực tuyến
Có Bạn có sử dụng máy tính cho mục đích học tập không? 100 % Bạn có cảm thấy dễ dàng để học một kiến thức mới bằng cách
Bạn có cảm thấy dễ dàng để học một kiến thức mới bằng cách
Bạn cảm thấy bản thân có năng lực sử dụng các nền tảng hỗ trợ
học trực tuyến không? (Zoom Cloudy Meeting, Skype, Google
Classroom; MS Teams, LMS, Moodle)
Trang 4040
Bảng 9 Mối tương quan giữa năng lực công nghệ số và thái độ thích học trực
tiếp
Tự đánh giá năng lực công nghệ số
Thái độ - Thích học trực tiếp
Thái độ - Thích học trực tuyến
số và thái độ thích học trực tuyến Điều này chứng minh một điều rằng, sinh viên càng có năng lực kỹ thuật số, càng có khả năng thích học trực tuyến hơn