Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới Nhân trắc học là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về các phương pháp đo đạc hình thể, kích thước, cấu trúc cơ thể người và sử dụng
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chu Th ị Mai Hương
SINH NAM TU ỔI TỪ 15-16 TẠI HÀ NỘI
Công ngh ệ vật liệu dệt may
Hà N ội, 2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chu Th ị Mai Hương
NAM TU ỔI TỪ 15-16 TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công ngh ệ vật liệu dệt may
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tr ần Bích Hoàn
Hà N ội, 2008
Trang 3MỤC LỤC
Trang LỜI CÁM ƠN
1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới 9
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới 9
1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học ở Việt Nam 13 1.2 Ứng dụng nhân trắc học vào ngành may tại Việt Nam 16 1.3 Đặc điểm sinh lý và tăng trưởng của trẻ em tuổi dậy thì
và các y ếu tố ảnh hưởng đến phát triển dậy thì
19
Trang 4CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
46
2.3 Xây dựng chương trình kỹ thuật đo và thời gian đo 50
2.3.1 Xác định số lượng các thống số kích thước cần đo 50
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ QUẦN ÁO BẰNG
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU THỐNG KÊ SINH HỌC
72
3.2 Xác định các kích thước chủ đạo và bước nhảy để xây
dựng cỡ số quần áo
74
3.2.1 Chứng minh số lượng mẫu đo được đảm bảo tính chất đại
diện cho tổng thể đối tượng nghiên cứu
76
Trang 53.2.2 Chứng minh việc xác định kích thước chủ đạo và bước
nhảy là phù hợp và chính xác bằng phương pháp kiểm định giả
thiết thống kê dùng tham số cơ bản
3.3.2 Đề xuất số lượng cỡ số quần áo học sinh nam tuổi 15 -16 85
3.3.3 Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính để xác định các
kích thước phụ thuộc của từng cỡ số
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1: Ý nghĩa sử dụng của các kích thước nhân trắc phục
vụ thiết kế công nghiệp sản xuất quần áo đồng phục
52
Bảng 2.3: Phương pháp đo cơ thể học sinh nam tuổi 15 -16 63
Bảng 3.1: Các đặc trưng thống kê của kích thước chiều cao
đứng và vòng ngực II học sinh nam
74
Bảng 3.2: Phân nhóm chiều cao đứng nam tuổi 15-16 75
Bảng 3.4: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu của nam sinh
theo chiều cao đứng
77
Bảng 3.5: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu của học sinh
nam theo vòng ngực II
77
Bảng 3.6: Xét quy luật phân phối chuẩn cho hai kích thước
chủ đạo ở học sinh nam tuổi 15-16
80
Bảng 3.7: So sánh các phương sai và kích thước trung bình
của hai kích thước chủ đạo
82
Bảng 3.8: Hệ số tương quan giữa hai kích thước chủ đạo và
các kích thước khác của học sinh nam tuổi 15-16
Bảng 3.12: Bảng phân bố các cỡ số cơ thể học sinh nam tuổi
15 -16 theo phương án chiều cao cách 6, vòng ngực cách 4
92
Bảng 3.13: Bảng thông số kích thước thiết kế công nghiệp
quần áo học sinh nam tuổi 15 -16
97
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ Trang
Hình 2.4: Minh hoạ phương pháp đo các kích thước chiều cao 67
Hình 2.5: Minh hoạ phương pháp đo các kích thước vòng 68
Hình 2.6: Minh hoạ phương pháp đo các kích thước dài 69
Hình 2.7: Minh hoạ phương pháp đo các kích thước chiều rộng 70
Hình 3.1: Sơ đồ đường cong phân phối lý thuyết và thực nghiệm
chiều cao đứng và vòng ngực II nam
81
Trang 8MỞ ĐẦU
Khi kinh tế ngày một phát triển nhu cầu làm đẹp ngày càng một phát triển, ngày càng gia tăng Đến nay dân số nước ta gần 84 triệu người chính là một thị trường tiêu dùng hết sức thuận lợi Năm 1994, tiêu chuẩn Việt Nam – 5782 về “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” đã được ban hành đánh dấu bước phát triển trong ngành may mặc Việt Nam Năm 1999 “xây dựng hoạch định chiến lược để chiếm lĩnh thị trường trong nước” là mục tiêu mới của Tổng công ty dệt may Việt Nam Năm 2010 là“ Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” mục tiêu của của Đảng và nhà nước
Hiện nay hệ thống cỡ số đã được tiêu chuẩn hóa hầu hết ở các quốc gia có công nghiệp may phát triển Việc nghiên cứu thu thập số đo nhân trắc nhằm xây dựng hệ thống cỡ số quần, áo…phục vụ cho sản xuất công nghiệp
Sự thay đổi về kích cỡ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về giới tính, tuổi, chủng tộc…
Xây dựng hệ thống cỡ số phục vụ thiết kế trang phục luôn là yêu cầu thiết thực trong đời sống và đặc biệt trong ngành công nghiệp may Nhằm đáp ứng nhu cầu thiết kế, sản xuất các sản phẩm may sẵn với số lượng lớn
và đảm bảo sự vừa vặn cho người mặc việc xây dựng hệ thống cỡ số là bước
đi quan trọng đầu tiên cho ngành công nghiệp may
Sản phẩm dệt may phải cạnh tranh gay gắt với hàng dệt may nhập khẩu của các nước trong khu vực như Thái lan, Trung quốc, Nhật bản…
Hệ thống cỡ số từ trước năm 2000 đều đã lạc hậu do tốc độ phát triển kinh tế cao, điều kiện sống thay đổi dẫn đến sự thay đổi lớn về kích thước cơ thể người Việt Nam Chưa có hệ thống cỡ số mới xây dựng thỏa mãn đại đa
số người sử dụng
Một số doanh nghiệp cũng đã xây dựng và sử dụng hệ thống cỡ số cho một số sản phẩm chủ lực của mình Tuy nhiên các hệ thống cỡ số này
Trang 9thường dựa trên số liệu của khách hàng cung cấp chưa hoàn toàn phù hợp với thị trường nội địa khiến người tiêu dùng lúng túng trong việc lựa chon
cỡ số
Mấy năm gần đây sản phẩm may sẵn và đồng phục đã thu hút người tiêu dùng tương đối lớn đặc biệt là đồng phục học sinh đang là một thị trường lớn mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp may Đồng phục học sinh ngoài mục đích xây dựng môi trường học tập chuyên nghiệp mà còn hiệu quả kinh tế cho các bậc phụ huynh học sinh giảm được sự phân cấp giàu nghèo Vấn đề khó khăn là không có hệ thống cỡ số để thỏa mãn đại đa
số các dạng cơ thể của học sinh Vì vậy để xây dựng hệ thống cỡ số cho lứa tuổi học sinh là công việc phức tạp, tốn kém nhân lực và kinh phí đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nhà chuyên môn Vì điều kiện thời gian, kinh phí và đặc biệt là kiến thức về lĩnh vực này của bản thân còn hạn chế không thể thực hiện được lúc này Với mục đích học hỏi để trở thành nhà khoa học thực
hiện trong lĩnh vực nghiên cứu tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng
hệ thống cỡ số quần áo đồng phục học sinh nam tuổi 15 -16 tại Hà Nội”
Trang 10CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
Trang 111.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới
Nhân trắc học là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về các phương pháp đo đạc hình thể, kích thước, cấu trúc cơ thể người và sử dụng các công thức toán học để phân tích các kết quả đo được nhằm tìm hiểu các quy luật
về sự phát triển hình thái con người đồng thời ứng dụng các qui luật đó vào việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học, kỹ thuật, thiết kế sản xuất các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho con người [17]
Trong suốt những năm dài lịch sử, con người mới chỉ làm nhân trắc tùy hứng tự phát chứ nhân trắc chưa trở thành môn khoa học Đến đầu thế kỷ
XX, từ khi R.A Fisher, một trong những người sáng lập môn di học quần thể, đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào y học thì nhân trắc mới thực sự trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và đầy đủ tính chính xác của nó Trong mấy chục năm nay nhân trắc đã có những bước tiến đáng kể với sự áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các ngành khoa học khác nhau với số người chuyên nghiên cứu vấn đề này trên thế giới ngày càng tăng
Người đầu tiên nghiên cứu ứng dụng phương pháp nhân trắc học là một nhà giải phẫu người Pháp nổi tiếng Pola Broma (1824 -1881)
Vào những năm 20 của thế kỷ XX Rudolf Martin nhà nhân trắc đi tiên phong người Đức đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ
để đo đạc kích thước cơ thể con người Ông đã xuất bản cuốn sách “ Giáo trình về nhân học” (1919) Đó là cuốn sách đầu tiên trình bầy một cách đầy
đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học với sự xâm nhập của toán học, đặc biệt là thống kê sinh học Năm 1942 ông đã cho ra đời cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Cuốn sách của Rudolf Martin được
Trang 12coi là kim chỉ nan cho môn khoa học này và ông được coi là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại
Từ đó đến nay trên thế giới có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này, các tài liệu nhân trắc học liên tiếp được xuất bản và tùy theo điều kiện mỗi nước, phương pháp Martin ngày càng được bổ sung và hoàn thiện
cả về hai mặt lý luận và thực tiễn
Năm 1960 nhà nhân trắc học người Pháp Olivier với nhiều năm kinh nghiệm về nhân trắc một số nước ở Châu Á, Châu Phi…đã cho ra đời cuốn
“Thực hành nhân trắc “ và được ứng dụng rộng rãi
Năm 1961, Graef và Cone đã tập hợp nhiều số liệu chứng tỏ tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng của các kích thước
cơ thể đặc biệt là chiều cao và cân nặng
Năm 1962, Baskirop đã cho ra đời cuốn “ Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” bàn luận về các qui luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống
Năm 1964, nhà nghiên cứu nhân trắc học BaLan đã nhận định khi đi sâu nghiên cứu sự liên hệ giữa hình thể cơ thể và chức năng cơ thể tỉ lệ thuận với nhau, quá trình hình thành phát triển cơ thể chịu ảnh hưởng của lao động Đó chính là giá trị cơ bản hình thành quan điểm ngành may khi nghiên cứu các dạng hình thể cơ thể người Các kích thước cơ bản, các kích thước phụ thuộc và các dạng hình thái cơ thể
Năm 1964, F.Vandervael, một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về nhân trắc học, đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển theo thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng
thống kê trung bình (tb) và độ lệch chuẩn ( σ) [10]
Trang 13Hình dáng bên ngoài và các kích thước cơ thể người được xác định bằng kích thước khung xương và mấu chuyển của xương, sự phát triển của bắp thịt cũng như sự phát triển của các cơ quan chức năng trong cơ thể và sự phân bố của mỡ Khi nghiên cứu về sự phát triển hình thể người, nhiều tác giả đã chỉ rõ cơ thể người thay đổi rất nhanh theo thời gian đặc biệt là nữ giới
Giáo sư Bunak, giáo sư nhân chủng học Nam Tư và nhà nhân chủng học người Nga Galant đã có nhiều công trình nghiên cứu về các dạng hình thể người với sự phát triển đa dạng phần cơ bắp khác nhau trên từng dạng cơ thể người để ứng dụng thiết kế quần áo
Đặc biệt là những nghiên cứu bổ sung mới đây của các nhà nhân chủng học người Rumani trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc ứng dụng hình thể con người để thiết kế các sản phẩm tiêu dùng
Nhìn chung ở thế kỷ 19 các công trình còn hạn chế về số lượng và về kích thước đo đạc, phương pháp nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất
và các tính toán thống kê còn đơn giản
Bước vào thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của các môn khoa học khác thì môn nhân trắc học cũng được đẩy mạnh Những hội, ban, ngành, viện nghiên cứu về nhân trắc học được thành lập, trong đó có những bộ phận chuyên theo dõi về phát triển cơ thể và tầm vóc sinh học Chỉ trong vòng 50 năm, riêng Liên Xô đã có hàng trăm công trình Ở các nước Đức, Hungarri, Rumani, Tiệp Khắc, Ba Lan, Anh, Pháp, Mỹ, Bỉ, Nhật…số lượng và chất lượng công trình đều vượt xa thời gian trước đó và đã đề cập đến một vấn đề sau: Sự tăng trưởng các kích thước tổng thể và phát triển cơ thể sinh học không giống nhau ở các lứa tuổi do ảnh hưởng sự hoạt động của các cơ quan nội tiết
Trang 14Chương trình đo đại trà dân cư với mục đích thiết kế công nghiệp quần áo may sẵn là một thành công lớn của Viện nghiên cứu tổng hợp nhân trắc học thuộc trường tổng hợp Lômônôxốp Các kết quả trên đã xây dựng thành tiêu chuẩn nhà nước hệ thống cỡ số cơ thể người để thiết kế công nghiệp các sản phẩm trang phục
Năm 1971, với mục đích thống nhất hệ thống cỡ số phục vụ cho sản xuất quần áo may sẵn, các khối Sev đã mở rộng chương trình đo Kết quả nghiên cứu trên của khối Sev đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cỡ số cơ thể nam giới, nữ giới và trẻ em
Các nước Liên Xô cũ, Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan kể cả các nước Châu
Á như Hồng Kông v.v…đều dựa vào kích thước cơ bản để đo nhân trắc và thiết kế công nghiệp sản phẩm may mặc
Ở các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Côngv.v… cũng
đã có những chương trình nghiên cứu nhân trắc ứng dụng từ khảo sát lấy số liệu đến xây dựng thành hệ thống cỡ số cơ thể người…
Năm 1941 Theo tác giả Bunak, tất cả các kích thước trên cơ thể người
có kích thước cơ bản, có kích thước phụ thuộc, chính vì vậy đây không còn
là sự nghiên cứu của ngành y nữa mà còn là nghiên cứu của các nhà nhân trắc ứng dụng Tác giả đã phân chia: “nam giới theo chiều cao cong của cột sống có 7 dạng hình thể người, mà trong đó có 3 dạng cơ thể là: Gù, bình thường và ưỡn
Tất cả các quan điểm trên không chỉ là quan điểm của nhà nghiên cứu nhân chủng học, y học mà còn cả của các chuyên gia may mặc đều chấp nhận Ngoài hình thể của cơ thể người còn có nhiều yếu tố quan trọng hình thành cấu trúc cơ bản bên ngoài cơ thể
Các nhà nghiên cứu thiết kế công nghiệp may mặc chấp nhận phân loại dạng cơ thể người theo phương pháp thẳng đứng của tác giả Nicolaiev
Trang 15phân ra làm 5 dạng: Bình thường, thẳng đuỗn, gù lưng, ưỡn lưng và phưỡn bụng
Đại đa số người bình thường có số đo tuân theo quy luật phân bố chuẩn và chiếm tỷ lệ lớn, còn các dạng người khác chiếm tỷ lệ ít, không áp dụng trong ngành may sẵn công nghiệp
Công trình nghiên cứu của các nhà nhân chủng học Liên Xô và một số nước tiên tiến, đặc biệt là các nhà nhân trắc học Balan, Đức, Mỹ… đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu nhân trắc ứng dụng vào thiết kế các sản phẩm tiêu dùng Các phương pháp đo được áp dụng trên toàn thế giới và Liên Xô đã đạt gần đến mức hoàn thiện, xây dựng thành tiêu chuẩn quốc gia các hệ thống cỡ số cho sản xuất công nghiệp các sản phẩm tiêu dùng
Sự tăng trưởng của kích thước tổng thể và phát triển cơ thể học sinh không giống nhau ở các lứa tuổi, mạnh nhất ở tuổi dậy thì do ảnh hưởng của
sự hoạt động các cơ quan nội tiết trong thời ký chín sinh dục Điều kiện kinh
tế có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cơ thể trẻ em Theo Solovier V.S (1964) nhận thấy nam 14 tuổi đã chín sinh dục về kích thước, hình thái và chức năng sinh lý [11] Thời kỳ sinh dục của thiếu niên cũng sớm hơn 2 năm
so với 100 năm trước [1]
1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc học ở Việt Nam
Nhân trắc bắt đầu được chú ý ở Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ
20 bằng một số công trình về đo đạc một số kích thước như chiều cao, cân nặng và vòng ngực Trong thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một số bác sĩ người Pháp và người Vỉệt Nam thực hiện tại “Ban nhân học” thuộc viện Viễn đông Bác Cổ (Elcole d’Ẻtême Orent) và tại Viện Giải Phẫu Học thuộc trường Đại Học Y Khoa Hà Nội
Năm 1936-1944, những kết quả nghiên cứu về các kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam như dân tộc kinh, Hơmông, Êđê, Chăm,
Trang 16Thượng…được đăng rải rác trong 9 tạp chí “Công trình nghiên cứu Viện Giải Phẫu Học trường Đại học Y Khoa Đông Dương” do P.Hurad làm chủ biên
Những công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đóng góp tài liệu cho việc tìm hiểu các đặc điểm nhân trắc học và hình thái học nói chung của người Việt Nam và một số dân tộc ít người ở nước ta Mặt khác, những điều
đó bước đầu cũng góp phần vào việc tìm hiểu nguồn gốc của dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên, các công trình đó còn lẻ tẻ, chưa hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu lúc bấy giờ còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học chưa triệt để, chính xác bởi vậy các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế
Năm 1945-1954, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc Giáo sư Đỗ Xuân Hợp nhà nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam, đã cùng với một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên phục vụ cho việc tuyển quân và may quần áo, giầy mũ cho bộ đội
Năm 1954, hòa bình lặp lại và đặc biệt trong thời gian 30 năm nay do nhu cầu khôi phục và phát triển của nền kinh tế quốc dân, công tác điều tra
cơ bản về con người đã được đẩy mạnh Việc nghiên cứu nhân trắc học không còn bó hẹp và chỉ tập trung ở một vài bác sĩ của trường Đại học Y Khoa mà còn được thực hiện ở các trường Đại học khác Nhiều đối tượng hầu hết các lứa tuổi đã được điều tra nghiên cứu Thông số kích thước và thông số đo đạc cho mỗi đối tượng lên tới hàng trăm các chỉ số thể lực và các thông số sinh học dần dần được thiết lập Toán thống kê cũng được vận dụng tối ưu để nhận định và đánh giá kết quả
Bước đầu sau thời gian dài nghiên cứu, các tác giả đã quy định được một số tiêu chuẩn về thang phân loại các kích thước cơ thể, một số quy luật
Trang 17phát triển cơ thể người Việt Nam Các đề tài nghiên cứu cũng được mở rộng
ra theo nhiều chiều hướng như hướng nghiên cứu nhân trắc chủ yếu nhằm phục vụ y học, hướng nghiên cứu nhân trắc phục vụ điều tra cơ bản con người Việt Nam, các đặc điểm nhân chủng học của các dân tộc Việt Nam được thực hiện chủ yếu tại bộ môn sinh học người, trường Đại Học tổng hợp
Hà Nội, Viện Khảo Cổ học, Viện Bảo tàng lịch sử và trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, Viện KHKT, Viện bảo hộ lao động, Viện vệ sinh dịch tễ….là các đơn vị đi sâu nghiên cứu nhân trắc phục vụ lao động – nhân trắc học ecgônômic
Năm 1967 và 1972 hai hội nghị hằng số sinh học người Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của giáo sư Nguyễn Tấn Di Trọng Hằng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc học đã được tập hợp để báo cáo trong hai hội nghị đó và được đăng lại trong cuốn “ Hằng số sinh học ở Việt Nam” _1975 và coi như đó là hằng số sinh thái của người Việt Nam bình thường
Năm 1974, PGS Bác sĩ Nguyễn Quang Quyền, người đã cùng với giáo sư Đỗ Xuân Hợp cho xuất bản cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” tập hợp những công trình nghiên cứu nhân trắc học của tác giả và các đồng nghiệp khác Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học hiện nay
và nêu lên các số liệu cùng các nhận định tiến hành nghiên cứu trên người Việt Nam Đối với tất cả những người nghiên cứu nhân trắc học ở nước ta
đó là một tài liệu rất bổ ích [6]
Năm 1982, cũng chính tác giả Nguyễn Quang Quyền, trong cuốn sách
“ Những thông số sinh học người Việt Nam” đã đề xuất chỉ số đánh giá thể lực với QVC, dùng các đường vòng để thay thế cân nặng, thay thang phân loại Đối với hầu hết các chỉ số thể lực ở nam giới lứa tuổi 18-22, xây dựng
Trang 18công thức tính khối mỡ, khối nạc cơ thể, công thức tính diện tích da…Đó là kết quả rút ra từ những công trình nghiên cứu của tác giả với cộng tác của PTSKH Y Dược Thẩm Thị Hoàng Điệp, Lê Gia Vinh và một số đồng nghiệp khác tiến hành trong thời gian từ năm 1975-1980
Cuối năm 1986, nhờ những cố gắng bền bỉ của tập thể nhiều nhà khoa học cuốn “altlas nhân trắc học người Việt Nam trong các lứa tuổi lao động”
do Võ Hưng làm chủ biên đã được xuất bản Cuốn sàch này lần đầu tiên đã cung cấp khá đầy đủ các số liệu về hình thái cơ thể của người Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau và sống ở các vùng sinh thái khác nhau [15]
Năm 1987, Trịnh Hữu Vách đã nghiên cứu các đặc điểm hình thái thể lực người Việt Nam từ tuổi 18-55, tác giả tiến hành đo đạc nhiều thông số trên 1670 nữ, 3972 nam và đưa ra được những kết luận như so thế giới nhìn chung người Việt Nam thuộc người thấp bé, nhẹ cân [16]
1.2 Ứng dụng nhân trắc học vào ngành may tại Việt Nam
Việc ứng dụng nhân trắc học không chỉ dừng lại trong các lĩnh vực y học, trong quân đội, trong y tế học đường, trong kiến trúc, mỹ thuật,… mà nhân trắc học còn được ứng dụng trong ngành may Mặc dù các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng nhân trắc học vào ngành may còn hạn chế nhưng nó cũng có một ý nghĩa quan trọng nhất định trong sự phát triển của ngành may mặc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Ngoài các công trình nghiên cứu ứng dụng nhân trắc học theo hướng ergonomics cho lứa tuổi lao động trong ngành dệt may, để thiết kế các thiết bị sản xuất, môi trường làm việc trong ngành dệt may phù hợp với người lao động, giúp nâng cao năng suất lao động cho ngành dệt may thì hầu hết nhân trắc học được ứng dụng để xây dựng hệ thống cỡ số trang phục cho các lứa tuổi và giới tính khác nhau Đây là một ứng dụng có ý nghĩa thiết thực nhất của nhân trắc học vào ngành may Vì muốn tạo ra các sản phẩm may mặc hàng loạt,
Trang 19để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách hiệu quả thì chúng ta phải có được một hệ thống cỡ số cơ thể người chuẩn, được xây dựng trên cơ
sở nền tảng của các mốc đo nhân trắc học trên cơ thể người, nhằm phục vụ cho việc thiết kế công nghiệp các sản phẩm may mặc Và một khi chúng ta
có được một hệ thống cỡ số cơ thể người chuẩn xác, sẽ đem đến nhiều thuận tiện cho các nhà sản xuất may công nghiệp cũng như người tiêu dùng trong việc chọn lựa sản phẩm may mặc phù hợp với cơ thể, góp phần cho ngành may công nghiệp ngày một phát triển hơn
Các nước trên thế giới như Ý, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật bản,… đã sớm ứng dụng nhân trắc học vào việc nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số trang phục (quần áo, giày, mũ, găng tay,…)
Nước ta trước năm 1954 cũng đã biết ứng dụng nhân trắc học vàongành may đó là GS Đỗ Xuân Hợp cùng với một số bác sĩ và sinh viên đã tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục
vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội Đây là một trong những công trình ứng dụng nhân trắc học đầu tiên ở Việt Nam vào nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang phục vụ ngành may Sau một thời gian dài chiến tranh, nền kinh tế kiệt quệ, nhu cầu “ăn no” cấp thiết hơn nhu cầu “mặc đẹp” dẫn đến ngành May công nghiệp cũng vì thế mà chậm phát triển, việc ứng dụng nhân trắc cho ngành may bị bỏ ngỏ Khi kinh tế ngày càng phát triển con người không chỉ ăn no, mặc ấm mà còn phải mặc đẹp nên nhu cầu làm đẹp ngày càng được chú ý Mãi đến 1994, tiêu chuẩn VN-
5782 về “hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” đã được ban hành đánh dấu một bước phát triển cho ngành may mặc Việt Nam [20] Từ đó các cơ sở, công ty may công nghiệp nở rộ, mặt hàng quần áo may sẵn với kiểu dáng phong phú, chủng loại đa dạng tràn ngập thị trường và một số thương hiệu dệt may Việt Nam đã có một vị trí nhất định, đã tạo được uy tín đối với
Trang 20người tiêu dùng trong nước và tạo được dấu ấn trên thị trường xuất khẩu Đứng ở thời điểm này ngành dệt may Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành công trên thương trường quốc tế, nhiều năm qua dệt may là ngành “tiên phong” trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho đất nước nguồn ngoại tệ khá lớn và cũng đứng ở thời điểm này tốc độ phát triển kinh tế của nước ta cũng rất cao, điều kiện sống và môi trường sống thay đổi, dẫn đến sự thay đổi các thông
số kích thước của cơ thể người Việt Nam Tuy nhiên, chưa có một hệ thống
cỡ số mới được xây dựng theo tiêu chuẩn hóa nhà nước ở các lứa tuổi của người Việt Nam và gây khó khăn cho nhà sản xuất là không thể thiết kế công nghiệp chuẩn xác để phục vụ cho việc sản xuất may hàng loạt và đáp ứng được các dạng cơ thể khác nhau, thoả mãn nhu cầu người sử dụng trong nước, hệ thống cỡ số quần áo của nước ta được xây dựng từ năm 1994 đã trở nên lạc hậu Hầu hết, các công ty may lớn nhỏ khi thiết kế quần áo hoặc dựa trên hệ thống cỡ số riêng của công ty được xây dựng từ kinh nghiệm sản xuất, hoặc vay mượn từ các hệ thống cỡ số của một số nước sau đó về chỉnh sửa lại một số kích thước để phù hợp cho sản xuất
Năm 1987-1990, theo kết quả nghiên cứu nhân trắc của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo, giầy mũ, găng tay”, những kích thước chủ đạo của người Việt Nam để xây dựng hệ thống cỡ số
là chiều cao, vòng ngực, đối với nam thêm kích thước vòng bụng, đối với nữ thêm kích thước vòng mông Tuy nhiên những nghiên cứu của các nhà y học không đầy đủ thông tin và dữ liệu biểu hiện hình thể người Việt Nam phục
vụ cho thiết kế công nghiệp sản phẩm may mặc
Năm 2001, trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân
trang theo phương pháp nhân trắc học”, TS Nguyễn Thị Hà Châu cùng các
cộng sự đã tiến hành xây dựng thành công hệ thống cỡ số quân trang và
Trang 21được ứng dụng may quân trang cho cả nước Đề tài đã cho kết quả triệt để và chính xác do ứng dụng hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu hiện đại, xử lý thống kê toán bằng phần mềm chuyên dụng, đánh dấu một bước chuyển vượt bậc của việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu nhân trắc học phục vụ ngành may tại Việt Nam [7]
Cùng năm 2001, KS Trần Thị Hường và PGS TS Nguyễn Văn Lân
cũng ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào đề tài cấp cơ sở “ Thống kê
cỡ số và thiết kế cơ bản trang phục nữ Việt Nam “ Đề tài này cũng đã xây
dựng được hệ thống cỡ số của phụ nữ chưa sinh con và phụ nữ đã sinh con thông qua việc kiểm định các giả thiết trong quá trình xây dựng hệ thống cỡ
số bằng cơ sở toán thống kê sinh học Sau đó, kết quả nghiên cứu đã được đưa vào kiểm nghiệm trong thực tiễn Đề tài này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành may công nghiệp [14] Việc ứng dụng nghiên cứu nhân trắc học để xây dựng hệ thống cỡ số nước ta còn hạn chế vì chưa có thiết bị
đo hiện đại, vẫn sử dụng phương pháp đo trực tiếp.Trong khi đó, ở các nước phát triển trên thế giới, việc ứng dụng nhân trắc để xây dựng hệ thống cỡ số
đã có những bước tiến vượt bậc, là nhờ sự hỗ trợ của thiết bị đo cơ thể người 3D, ứng dụng công nghệ chụp hình toàn bộ cơ thể bằng tia hồng ngoại hiện đại, thực hiện tính toán xử lý số liệu các kích thước bằng máy tính trong một chu trình khép kín cho kết quả rất nhanh và chính xác Phương pháp này còn được gọi là phương pháp đo gián tiếp
1.3 Đặc điểm sinh lý và tăng trưởng của trẻ em tuổi dậy thì và các yếu
tố ảnh hưởng đến phát triển dậy thì
Dậy thì là qua thời kỳ trẻ em để trở thành người lớn Đó là giai đoạn biến hoá lớn nhất, thay đổi cơ quan sinh dục, thay đổi kích thước cũng như hình thái cơ thể
Trang 22Thời kỳ tiền dậy thì kéo dài khoảng hai năm Đặc biệt thời kỳ này sức lớn về chiều cao tăng vọt lên trong khi cân nặng không tăng lên nhiều Chiều cao tăng chủ yếu là do chi dưới dài ra rất nhanh, trong khi đó thân như bé và ngắn lại làm cho trẻ có dáng rất gầy, mảnh khảnh, trông lêu đêu, vụng về Đây là tuổi tác mà các bậc cha mẹ thường đánh giá con em mình là “ đoảng” Về mặt sinh lý, do phát triển quá nhanh vệ bề dọc mà ít về bề ngang nên ngực hẹp Trong khi đó, tim to ra nhanh chóng đó là thời kỳ “tim to sinh lý” Chính ở thời kỳ này trẻ em dễ thổn thức, cảm động, đồng thời cũng là giai đoạn dễ phát sinh ra các tật của cột sống như gù, vẹo
Thời kỳ dậy thì tiếp theo là thời kỳ tiền dậy thì Ở nữ, phát triển tuyến
vú là dấu hiệu đầu tiên, nó phản ánh hoạt tính Estrogen của buồng trứng, tiếp theo là sự xuất hiện lông mu, lông nách, mụn trứng cá, thay đổi hình thái âm
hộ và cuối cùng là xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên Đây là mốc chắc chắn,
rõ ràng nhất của dậy thì nữ Ở nam, việc tăng thể tích tinh hoàn là dấu hiệu đầu tiên báo hiệu dậy thì, kế đến là dương vật phát triển, lông mu, lông nách, lông mặt, thân cũng phát triển kèm theo giọng nói trầm, mụn trứng cá, tăng khối cơ, phát triển tiền liệt tuyến, quầng vú, cuối cùng sự xuất tinh là dấu mốc quan trọng nhất đánh dấu tuổi dậy thì của trẻ nam
Tăng trưởng là một yếu tố hằng định trong dậy thì và biểu hiệu một đặc tính sinh dục phụ thực sự Đợt tăng trưởng dậy thì chia làm 03 giai đoạn liên tiếp
- Giảm chậm trước dậy thì tạo nên một trong những dấu hiệu đầu tiên của dậy thì với đợt tăng trưởng tối thiểu 4-5cm/năm chiều cao tối đa
- Giảm dần dần rồi sau ngừng tăng trưởng các chi kèm theo liền các đầu xương Đợt tăng trưởng này trẻ gái xuất hiện trước trẻ trai 02 năm, bắt đầu 11 tuổi ở trẻ gái và 13 tuổi ở trẻ trai Đỉnh nhọn tăng trưởng xuất hiện ở giữa thời kỳ dậy thì khoảng 12,5 tuổi ở nữ và 14 tuổi ở nam.[8]
Trang 23Ở trẻ trai, tốc độ tăng trưởng trung bình 7-8cm trong năm đầu dậy thì, 5-6 cm ở năm thứ 2, tốc độ lớn tối đa khoảng tuổi 15 Trong năm tăng trưởng tối đa chiều cao tăng 7-12cm Tăng trưởng kết thúc trung bình 5 năm sau khi bắt đầu dậy thì Tốc độ và thời gian của đợt tăng trưởng dậy thì khác nhau tuỳ theo từng người và tuỳ theo thời hạn bắt đầu đậy thì
- Tuổi xương cũng là một mốc đánh giá tuổi dậy thì, nghiên cứu xương cho thấy rõ sự trưởng thành chung của cơ thể hơn là tuổi thực, nó thường tiến triển song song với các đặc tính sinh dục phụ Ở trẻ trai phát động dạy thì tuổi xương khoảng 13 tuổi, trẻ gái khoảng tuổi 11 Ở trẻ gái kinh nguyệt đầu tiên thường xuất hiện ở tuổi xương khoảng tuổi 13
Lứa tuổi 15 -16 nằm trong giai đoạn giữa của thời kỳ dạy thì Sự phát triển thể chất của thời kỳ này hoàn thiện Vì vậy đặc điểm phát triển tương
tự thời kỳ trước Chiều cao tiếp tục tăng đối với nam nhưng chậm lại đối với nữ, sự tăng cân biến đổi và dần ổn định
Các yếu tố bên trong gồm:
Giới: Nam dậy thì chậm hơn nữ 02 tuổi
Gia đình: Tuổi dậy thì trong cùng một gia đình không hoàn toàn giống
nhau, chỉ giống nhau hoàn toàn khi sinh đôi một trứng
Di truyền: Người cùng điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường thì tuổi
kinh nguyệt bởi yếu tố di truyền
Chủng tộc, giống nòi: Trẻ em khác chủng tộc có dậy thì khác nhau
Trẻ gái Đức xuất hiện kinh nguyệt muộn hơn trẻ gái Rumani một năm
Các yếu tố bên ngoài:
Môi trường khí hậu: Trẻ em ở vùng cao dậy thì xuất hiện muộn hơn vì
giai đoạn phát triển dậy thì kéo dài hơn
Trang 24Các Stress: Những trẻ ở các gia đình li dị hoặc hay có mâu thuẫn thì ảnh hưởng tâm lý thông qua cơ chế thần kinh nội tiết dễ mắc stress hơn những trẻ ở gia đình bình thường
Điều kiện sống: Trẻ ở các gia đình có thu nhập cao thì dậy thì sớm
hơn Trẻ em ở thành thị dậy thì sớm hơn trẻ em ở nông thôn
1.4 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
1.4 1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra dọc
Phương pháp điều tra dọc hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu cá thể (longitudinal method)
Tiến hành nghiên cứu trên một nhóm người cùng tuổi và theo dõi các đặc điểm nghiên cứu của các đối tượng trong nhóm, theo từng năm một, trong suốt thời gian dài liên tục nhiều năm
- Ưu điểm của phương pháp này: Số lượng đối tượng nghiên cứu có thể ít hơn so với phương pháp nghiên cứu ngang và làm nổi bật ra được các đặc điểm của các quy luật phát triển cá thể, cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng trong quá trình lớn và phát triển từ lúc mới sinh ra cho đến lúc trưởng thành
- Nhược điểm của phương pháp này: Rất khó thực hiện vì mất thời gian dài trong nhiều năm để theo dõi, đòi hỏi người nghiên cứu phải kiên trì
và nhẫn nại
Ph ương pháp điều tra cắt ngang
Phương pháp điều tra cắt ngang hay còn gọi là phương pháp nghiên
cứu tổng quát (cross sectional method)
Tiến hành nghiên cứu trên các nhóm người có lứa tuổi khác nhau (mỗi một lứa tuổi là 1 nhóm) trong cùng một thời điểm nhất định
Trang 25- Ưu điểm của phương pháp này: Có thể thực hiện được nhanh, ít tốn thời gian, không cần đợi thời gian theo dõi
- Nhược điểm của phương pháp này: Số đối tượng nghiên cứu cần phải nhiều hơn phương pháp nghiên cứu dọc, để các nhận xét thống kê đủ độ tin cậy
Và trong ngành may thường lựa chọn phương pháp điều tra cắt ngang
Và trong luận văn này tôi lựa chọn phương pháp điều tra cắt ngang vì phương pháp này thực hiện nhanh và tốn ít thời gian
1.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Trước hết ta cần phải hiểu được mẫu là một tập hợp mẫu, hoặc gọi tắt
là mẫu Nó đại diện cho toàn bộ đối tượng cùng loại dùng trong nghiên cứu gọi là quần thể, tổng thể hay đám đông
Việc chọn mẫu nghiên cứu cực kỳ quan trọng, nó quyết định tính hiệu quả của công trình nghiên cứu Vấn đề cốt yếu là phải chọn mẫu thế nào để đảm bảo được tính đại diện của nó, cho nên mẫu được chọn phải tuân theo
những nguyên tắc cơ bản sau:
Mẫu đo phải tương đối thuần nhất, mức độ thuần nhất tùy theo tình hình nghiên cứu
Mẫu càng thuần nhất nếu càng đảm bảo các điều kiện sau:
- Cùng chủng: Như ta muốn đo chiều cao thanh niên Việt Nam, để có kết luận chính xác thì phải thống kê riêng các số đo ở người Kinh, và số đo từng dân tộc khác riêng như: Tày, Nùng, Thái…
- Cùng điều kiện xã hội, hoàn cảnh địa lý và nghề nghiệp
- Cùng giới tính
- Cùng tuổi: Vì sự phát triển về hình thái và thể lực ở các lứa tuổi không giống nhau Ở đây vấn đề cùng tuổi phải hiểu một cách tương đối như: Ở người trưởng thành, ngoài 25 tuổi trở đi, việc xếp vào từng nhóm
Trang 26năm một có thể không thật cần thiết, vì các kích thước tương đối đã ổn định nên xếp theo nhóm từng 10 năm một, từ 8 đến 25 xếp theo nhóm từng năm một Nhưng đối với các tuổi rất nhỏ từ 3 đến 7 tuổi, việc xếp theo nhóm từng năm một lại chưa đủ thuần nhất mà phải xếp nhóm từng 6 tháng một vì các kích thước thay đổi rõ ràng từng 6 tháng một Đối với trẻ từ 1 đến 3 tuổi thì lại có thể xếp theo nhóm 3 tháng một, đối với tuổi từ 1 tháng đến 1 năm thì phải sắp xếp theo nhóm từng 45 ngày một và đối với trẻ từ sơ sinh đến 1 tháng thì có thể lại phải xếp nhóm theo 15 ngày một
Đối tượng càng thuần nhất sẽ cho ta số liệu chính xác hơn, giúp ta càng kết luận được đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Có hai phương pháp chọn mẫu cơ bản là chọn mẫu xác suất và chọn mẫu phi xác suất
Chọn mẫu xác suất: Mỗi đơn vị chọn mẫu đều có cơ hội ngang nhau hay xác
suất bằng nhau để được chọn vào mẫu
Chọn mẫu xác suất có những ưu điểm như: Không bị sai lệch trong việc lực chọn các đối tượng từ đó có thể đo lường được sai số do chọn mẫu Mặt khác cũng có nhược điểm là trong một số trường hợp khó thực hiện Ví dụ không thể có được danh sách tất cả đối tượng liên hệ, không đủ thời gian tiếp cận các đối tượng khi họ phân tán ở nhiều địa phương Sử dụng phương pháp này tốn kém thời gian và kinh phí
Chọn mẫu phi xác suất (hay chọn mẫu phi ngẫu nhiên): Là chọn các đối tượng theo một ý đồ hay mục đích nào đó đã quy định trước, khi chọn mẫu không dựa vào các danh sách thống kê tất cả các đối tượng nghiên cứu, các bảng số ngẫu nhiên để chọn như chọn mẫu ngẫu nhiên
Sử dụng phương pháp này có ưu điểm là trong cùng quy mô, điều kiện, cùng mức kinh phí thì khi chọn mẫu phi xác suất có sai số do chọn mẫu nhỏ hơn chọn mẫu xác suất Nhưng bên cạnh đó thì phương pháp này cũng có
Trang 27nhược điểm là không thể đo lường được mức độ chính xác của kết quả thu thập
Quyết định quy mô chọn mẫu hay cỡ mẫu là quyết định số lượng các đối tượng được chọn vào mẫu nghiên cứu
Trong thực tiễn khi cần thiết phải xác định đối tượng nghiên cứu sao cho đặc trưng trung bình của mẫu đại diện được đặc trưng cho tổng hợp tổng quát với một độ chính xác nhất định Tùy theo mỗi đối tượng nghiên cứu thì cách chọn mẫu đại diện và số lượng mẫu đại diện được ước lượng khác nhau
- Trong thống kê: Theo tính toán của các nhà thống kê thì số đối tượng mẫu
t m
σ
(1.1) Trong đó:
n: Là tập hợp mẫu cần xác định;
t: Đặc trưng xác suất;
σ: Độ lệch chuẩn:
m: Sai số của tập hợp
- Trong nghiên cứu Marketing: Người ta sử dụng công thức thích hợp để tính
quy mô mẫu [18]
Trang 28Sau quá trình nghiên cứu và so sánh giữa các phương pháp chọn mẫu khác nhau, ta thấy rằng với đối tượng sinh học và đối tượng Marketing thì kết quả ước lượng quy mô mẫu tương tự nhau cho nên đề tài này xác định quy mô mẫu theo đối tượng nghiên cứu sinh học chọn công thức (1.1) Vì đây là một phương pháp được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ
1.4.3 Phương pháp đo
Phương pháp đo trực tiếp
Tiến hành đo trực tiếp trên cơ thể người mẫu đã chọn bằng dụng cụ đo của quốc tế quy định đó là bộ thước đo Martin Trong đó bao gồm:
+ Thước đo chiều cao kiểu Martin sử dụng để đo chiều cao
+ Thước dây sử dụng để đo kích thước vòng và kích thước dài
+ Thước kẹp dùng để đo các kích thước rộng
+ Compa đo bề dày Kết hợp với việc sử dụng đúng dụng cụ đo cho từng kích thước là phải xác định đúng các mốc đo chuẩn cho từng vị trí đo trên cơ thể người
s2.z2
2ε
n =
Trang 29Việc đo các thông số kích thước trên cơ thể người, để phục vụ cho việc sản xuất hàng may công nghiệp thì chúng ta phải đo nhiều kích thước, để việc thiết kế rập mẫu được chuẩn xác, sản phẩm may ra phù hợp với cơ thể người mặc, đồng thời phải đo trên nhiều người để kết quả đo có độ tin cậy cao
Phương pháp đo gián tiếp
Không đo trực tiếp trên cơ thể người mà dùng các loại máy móc thiết
bị hiện đại để đo tất cả các kích thước trên cơ thể người
+ Phương pháp chụp ảnh tự động 3D bằng thiết bị điện tử, sử dụng tia hồng ngoại, thực hiện tính toán xử lý số liệu các thông số kích thước bằng máy tính trong một chu kỳ khép kín
+ Phương pháp nội soi cắt lớp hình dáng: Phương pháp này tạo ra một hình ảnh có thể đo được 3 loại kích thước hiện trên màn hình máy tính Một khe sáng quét qua cơ thể và máy quay phim truyền hình ghi nhận lại hình ảnh Những kích thước vòng và xuyên suốt cơ thể có thể được ghi nhận Các thiết bị hiện đại trên, giúp người nghiên cứu có được tất cả các thông số kích thước một cách chính xác trên cơ thể người mà không phải tốn nhiều thời gian, công sức và kinh phí như khi thu thập số liệu bằng phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể người
Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là giá thành của các thiết bị
đo trên rất đắt tiền Nhiều nước trên thế giới đã và đang được ứng dụng như Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,… Nước ta còn nghèo, nền kinh tế đang trên đà phát triển, còn nhiều loại máy móc thiết yếu cần phải đầu tư, cho nên các thiết bị đo điện tử bằng phương pháp đo gián tiếp ở nước ta chưa có Chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp nhân trắc học cho ngành may hiện nay ở nước ta vẫn sử dụng phương pháp
đo trực tiếp trên cơ thể người
Trang 301.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả khi xử lý số liệu có thể ảnh hưởng hoặc sai lạc do co những kết quả đo quá lớn hoặc quá bé khác biệt hẳn so với các kết quả đo còn lại Những số đo này có thể bị sai do đọc nhầm, ghi nhầm, hoặc một lý do bất thường của đối tượng đo, của dụng cụ đo hay môi trường đo Để tránh sự sai lạc này ta cần phải loại bỏ sai số thô trước khi tiến hành xử lý số liệu
Để tiến hành được loại bỏ sai số thô và tìm các đặc trưng cơ bản sử dụng hai phần mềm Excel và SPSS toán xác suất thống kê
- Số nhỏ nhất (Min)trong dãy phân phối
Công thức: Min = Min (number1, number2, ) (1.3)
- Số lớn nhất (Max) trong dãy phân phối
Côngthức: Max = Max(number1, number2, ) (1.4)
- Số trung bình cộng (M): Là đặc trưng biểu hiện khuynh hướng trung tâm
của sự phân phối
Công thức:
(1.5)
Trong đó: xi là trị số của từng số đo; fi là tần số của các trị số đo ; n là tổng các số đo n= f1 + f2 + f3 +…+ fn
- Số trung tâm hay số trung vị (Me): Là con số đứng giữa dãy phân phối
và chia dãy đo thành 2 phần bằng nhau Trên đồ thị biễu diễn phân phối tần
số, giá trị Me nằm trên trục hoành và ở vào vị trí chia đều dãy phân phối
- Cách xác định: Nếu dãy phân phối gồm một số lẻ (n= 2k + 1) giá trị thì con
số ở vị trí thứ k + 1 là số trung vị Nếu dãy phân phối gồm một số chẵn (n= 2k) giá trị thì số trung vị sẽ nằm giữa khoảng giá trị của con số thứ k và k +
1
n
x f n
x f x
f x f x f
M = 1 1+ 2 2+ 3 3+ + n n = ∑ i i
Trang 31+ (1.6)
- Số trội (Mo): Là giá trị phổ biến nhất, có tần số lớn nhất trong dãy phân
phối Trên đồ thị của dãy phân phối liên tục trị số của Mo ứng với đỉnh cao nhất của đường cong
Công thức:
(1.7)
- Độ lệch chuẩn (Std Deviation) – kí hiệu là (σ): Còn gọi là độ lệch trung
bình bình phương Độ lệch chuẩn là đặc trưng được dùng để đánh giá độ tản mạn của một phân phối thực nghiệm hay nói lên mức độ phân tán của các giá trị xi so với số trung bình tb
Công thức tính: σ =√ (∑f i (x i -M)2)/n với n>30 (1.8)
- Hệ số biến thiên (cv): Là tỷ lệ giữa độ lệch chuẩn và trung bình cộng Nó
thể hiện mức độ phân tán của các giá trị xi so với trung bình cộng
Công thức: Cv = 100 σ/M (1.9)
- Hệ số bất đối xứng (Skewness) – Kí hiệu (SK): Thể hiện mức độ bất đối
xứng của đồ thị phân phối của dãy số so với đường cong phân phối chuẩn (SK=0) Hệ số bất đối xứng của đồ thị phân phối chuẩn bao giờ cũng nhỏ hơn hệ số bất đối xứng giới hạn trên [S]
Công thức: SK = 3
) (
σ
n
X xi
(1.10) SK= skew({dãy số})
)212
f f fMo
f fMo K
x Mo
−
−
−+
Trang 32- H ệ số nhọn (Kurtosis) – Kí hiệu (KU): Thể hiện độ nhọn của đồ thị phân
phối của dãy số so với đường cong phân phối chuẩn (KU=0) Hệ số nhọn của đồ thị phân phối chuẩn bao giờ cũng nhỏ hơn hệ số nhọn giới hạn trên [K]
(1.11) Tính giới hạn trên [S] và [K]:
[S] =3*sqrt(6*(n-1)/(n+1)/(n+3)); (sqrt: lấy căn bậc 2) (1.12) [K] =3*sqrt(24*n*(n-2)*(n-3)/(n-1)^2/(n+3)/(n+5)) (1.13)
1.5 Hệ thống cỡ số
1.5.1 Tóm tắt lịch sử phát triển của hệ thống cỡ số trên thế giới và Việt Nam
* Tóm tắt lịch sử phát triển của hệ thống cỡ số trên thế giới
Cuối thế kỷ 18, hầu hết quần áo đều được thiết kế riêng biệt bởi các thợ may Cách họ đo và làm sản phẩm may vừa với khách hàng của họ khác nhau Trong thập niên 1920 nhu cầu sản xuất quần áo với số lượng lớn dẫn đến phải có một hệ thống cỡ số tiêu chuẩn Trong thập niên 1930 cửa hàng nhận đặt hàng và trả hàng qua bưu điện trở nên phổ biến khiến việc quần áo không vừa bị trả lại cũng tăng theo Do đó mục đích phát triển một hệ thống kích thước cho quần áo là rất cần thiết Cuối thập niên này, các số liệu cho những loại quần áo thông thường cũng như những loại trang phục và công
cụ cho quân đội cũng được thu thập Sự phát triển của nhân trắc học được
tóm tắt theo các mốc thời gian sau:
- 1945 Tổ chức đặt hàng tại nhà của Mỹ đề xuất tiêu chuẩn thương mại CS151 cho công nghiệp may
- 1947 Viện tiêu chuẩn Anh phát triển tiêu chuẩn cỡ số quần áo trong một loạt tiêu chuẩn sản phẩm như áo khoác của phụ nữ (BS 1345)
Trang 33- 1954 Tổ chức tiêu chuẩn Đan Mạch phát hành tiêu chuẩn quốc gia
DS 923 cho các cỡ số của phụ nữ
- 1955 - 1959 Viện khoa học Balan phối hợp với phòng thí nghiệm trung tâm công nghiệp may thực hiện cuộc điều tra nhân trắc để xây dựng một hệ thống cỡ số quốc gia
- 1957 - 1958 Đức ban hành bảng cỡ số cơ thể người đầu tiên
- 1958 Tiêu chuẩn Mỹ CS215-58 tên “ Số đo kích cỡ cơ thể cho quần
áo và mẫu phụ nữ được NBS phát hành dựa trên sự phân tích số liệu năm 1939- 1940
- 1963 Viện tiêu chuẩn Halan (NNI) ban hành hệ thống cỡ số cho quần áo nam
Với việc toàn cầu hóa thương mại, các hãng Thời trang Quốc tế luôn mong muốn sản phẩm của mình đáp ứng sự vừa vặn với khách hàng toàn cầu với tỉ lệ phục vụ cao nhất Năm 1968, Thụy Điển nước thành viên của tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ISO đã đề xuất thành lập một Ủy ban xây dựng hệ thống cỡ số Quốc tế cho trang phục lấy tên là ISO/TC 133 Hơn 30 nước đã tham gia là thành viên của Ủy ban Tuy nhiên năm 1969, sau nhiều nghiên cứu và hội thảo, hội đồng Ủy ban đã đưa ra kết luận: Việc xây dựng một hệ thống cỡ số Quốc tế cho quần áo là không thể thực hiện được do sự khác biệt lớn giữa đặc điểm nhân trắc của các chủng tộc người và vấn đề dân số, tôn giáo Do đó, nghiên cứu của ISO/TC 133 tập trung vào việc tiêu chuẩn hóa các thành phần của một hệ thống cỡ số và đề xuất các hướng dẫn cho việc xây dựng một hệ thống cỡ số hơn là xây dựng hệ thống cỡ số tiêu chuẩn Quốc tế Và kết quả của các cuộc nghiên cứu sau đó cho ra đời các tiêu chuẩn
và các hệ thống cỡ số:
- Hệ thống kích thước sản phẩm may của Mỹ PS42-70 được phát hành vào năm 1970
Trang 34- Nam Mỹ phát hành tiêu chuẩn SABA 039 “ Khoảng cỡ tiêu chuẩn cho quần áo nam”vào năm 1972
- Bảng kích thước cơ thể PC 3137 và PC 3138 được in tại Liên Xô cũ USR năm 1973
- Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) phát triển hệ thống ký hiệu nhãn
cỡ số với thông số chủ đạo và hình vẽ phác đồ giúp khách hàng chọn cỡ số
- Tiêu chuẩn ISO 3635:1981 – Ký hiệu cỡ số quần áo – Định nghĩa và qui trình đo
- Tiêu chuẩn ISO 8559:1989 - Cấu trúc quần áo, khảo sát nhân trắc- Các kích thước cơ thể
+ Tiêu chuẩn này chỉ ra rằng: Điều kiện tiên quyết cho việc quản
lí những cuộc khảo sát nhân trắc và chuẩn bị các kiểu quần áo cho mục đích sản xuất là một trong những kích thước cơ thể phù hợp mà được xác định một cách đầy đủ
+ Tiêu chuẩn quốc tế này được xem như tài liệu so sánh các định nghĩa và vị trí của những kích thước cơ thể được sử dụng cho kết cấu quần áo
Trang 35* Tiêu chuẩn quốc tế này xác định vị trí của những kích thước cơ thể lấy trong cuộc điều tra nhân trắc và để chuẩn bị các kiểu quần áo và những
tư thế đứng của quần áo và định ra một quy trình tiêu chuẩn để xác định kích thước cơ thể người
* Vị trí và việc lấy những kích thước cơ thể phù hợp với tất cả các mặt hàng quần áo và phụ trang cho toàn bộ những nhóm người được nêu ra trong tiêu chuẩn quốc tế này
* Việc dùng những chiếc compa và phép đo người theo mặt phẳng ngang để xác định các kích thước chiều rộng được loại trừ
* Không phải tất cả các kích thước cơ thể người trong tiêu chuẩn quốc tế này luôn luôn cần thiết trong suốt cuộc điều tra nhân trắc hoặc trong sản xuất quần áo
- Hệ thống cỡ số quần áo trẻ em BS 7231-1990 mục 2 được xây dựng tại Anh
* Hệ thống cỡ số này được chuẩn bị theo sự chỉ đạo của ủy ban Textilos Hệ thống đã xây dựng được số đo kích thước cơ thể của trẻ em nam và nữ độ tuổi từ 9-16
- Hệ thống cỡ số quần áo trẻ em JIS L 0103:1990 được xây dựng tại Nhật Bản năm 1990 và JIS L4004:2001 được bổ sung hoàn thiện năm 2001
- Năm 1991, ISO/TC 133 đã ban hành Bản báo cáo kỹ thuật ISO/TR 10652:1991 xác định những kích thước chủ đạo và qui trình xây dựng một
hệ thống cỡ số dựa trên dữ liệu nhân trắc của một nhóm dân số cụ thể Nhiều nước gồm Anh, Nhật bản, Hàn Quốc và Hungary đã soát xét lại hệ thống cỡ
số của họ theo những hướng dẫn của ISO/TR 10652:1991 Ví dụ như: tiêu chuẩn JIS L 4004:2001 của Nhật Bản, chuỗi tiêu chuẩn BS EN 13402:2004 của EU
Trang 36Và cũng năm đó hệ thống cỡ số quần áo trẻ em ISO/TR 10652:1991 – Phần 3 ra đời Hệ thống cỡ số này thiết lập một hệ thống kích thước cơ thể được sử dụng để tạo ra kích thước quần áo tiêu chuẩn cho trẻ vị thành niên -phần 2, nam giới (người lớn và trẻ em)- phần 3, nữ giới (người lớn và trẻ em)- phần 4
- Hệ thống tiêu chuẩn ký hiệu nhãn cỡ số được phát triển tại Hàn Quốc năm 1990
- Tiêu chuẩn cỡ số Trung Quốc GB1335-91 được phát triển sau cuộc thảo luận dài giữa các nhà nghiên cứu, nhà công nghiệp và chuyên gia trang phục năm 1991
- Hội thử nghiệm vật liệu Mỹ (ASTM) phát hành và cập nhật tiêu chuẩn D5585-94 Tiêu chuẩn này không được phát triển từ số liệu nhân trắc học mới mà từ kinh nghiệm của những nhà thiết kế quan sát thị trường Mỹ năm 1994
- Tiêu chuẩn cỡ số Trung Quốc được bổ sung cho bản mới GB
1335-97 với sự xem xét những yếu tố quốc tế năm 191335-97
- Hệ thống cỡ số quần áo trẻ em GB/T 1335.3-1997 được xây dựng tại Trung Quốc Cũng vào năm 1997 tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS L 4002.4003 Hệ thống cỡ số cho trang phục trẻ em nam và nữ ra đời Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản này định rõ những hệ thống kí hiệu và biểu diễn kích cỡ trên sản phẩm may sẵn của trẻ em nam
- Đối với dấu hiệu kích thước và phương pháp xác định của nó, tuân theo “Kí hiệu cỡ dựa trên Tiêu chuẩn ISO”
- Hệ thống cỡ số quần áo tiêu chuẩn ASTM F1731 – 2002 được xây dựng tại Mỹ
- Hệ thống cỡ số quần áo KS K 0050:2004 được xây dựng tại Hàn Quốc năm 2004
Trang 37- Hệ thống cỡ số quần áo BS EN 1:2001, BS EN 2:2002, BS EN 13402-3:2004 được xây dựng tại Châu Âu
13402-Hiện tại có rất nhiều nước đang tiến hành những cuộc điều tra nhân trắc để thay đổi cho phù hợp với thời cuộc hiện đại để nhằm hệ thống cỡ số được bổ sung thường xuyên đảm bảo sự vừa vặn của đồ may sẵn
* Tóm tắt lịch sử phát triển của hệ thống cỡ số ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có ngành công nghiệp nhẹ phát triển, ngành Dệt - May có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ngành cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động Ngay từ khi ngành công nghiệp may ra đời và phát triển, các nghiên cứu về nhân trắc để xây dựng hệ thống cỡ số quần áo đã được quan tâm
- Năm 1966, Ủy ban KH & KT Nhà nước đã ban hành 02 tiêu chuẩn
cỡ số đầu tiên có ứng dụng số đo nhân trắc, phân loại 15 cỡ áo sơ mi và 3
cỡ quần âu nam giới
- Năm 1970, Ủy ban KH & KT Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn: + Từ TCVN 371-70 đến TCVN 376-70 về cỡ số quần áo trẻ em nam
và nữ
+ TCVN 1267-72 và TCVN 1268-72 về cỡ số quần áo nữ giới
+ TCVN 1680-75 và TCVN 1681-75 về cỡ số quần áo nam giới
- Năm 1982, trong quân đội ban hành hệ thống cỡ số cho quân nhân
- Năm 1994, Tổng cục tiêu chuẩn ban hành các tiêu chuẩn:
+ TCVN 5781-1994: Phương pháp đo cơ thể người
+ TCVN 5782-1994: Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo
* Được xây dựng trên cơ sở kết quả đề tài cấp Bộ ‘Xây dựng cỡ số cơ thể người Việt Nam từ số liệu nhân trắc để thiết kế sản phẩm quần áo, giầy,
mũ, găng tay’ và một số tiêu chuẩn về cỡ số quần áo của Tiệp khắc, Liên Xô
Trang 38(cũ), Đức, Pháp, ISO và khối SEV
* TCVN 5782-1994 thay thế cho TCVN 1681-75, TCVN 372-70, TCVN 374-70, TCVN 376-70, TCVN 1268- 72
* TCVN 5782-1994 do Trung tâm nghiên cứu Công nghiệp may thuộc Liên Hiệp sản xuất xuất nhập khẩu May - Bộ công nghiệp nhẹ biên soạn Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đề nghị và được Bộ Khoa học công nghệ và môi trường ban hành
* Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo cho đối tượng từ trẻ sơ sinh; nam
và nữ tuổi học sinh; nam và nữ tuổi trưởng thành và các thông số kích thước
cơ bản để thiết kế quần áo, cỡ số tiêu chuẩn quần áo của các lứa tuổi đó sau khi đã nghiên cứu và phân loại rất chi tiết trong TCVN 5782 Hệ thống cỡ số
đó chỉ ra được rằng trong cùng một chiều cao nếu có nhiều dạng người khác nhau thì sẽ được ký hiệu bằng các chữ A(gầy), B(trung bình) và C (béo)
- Cuộc sống hiện đại ngày nay ảnh hưởng rất nhiều tới hình dáng cơ thể con người vì vậy hệ thống cỡ số quần áo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5782-1994 đã không còn phù hợp với đặc điểm cơ thể của người dân Việt Nam nói chung và trẻ em nói riêng; các đề tài khoa học xây dựng hệ thống
cỡ số khác trong nước đều tập trung nghiên cứu đối tượng là người Việt Nam đã trưởng thành
- Năm 1999, Đề tài KH " Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam nữ trong độ tuổi lao động trên cơ sở đo nhân trắc cơ thể người" – Đề tài cấp Tổng công ty Dệt May Bộ Công nghiệp
- Năm 2000-2003, Đề tài KH " Xây dựng hệ thống cỡ số quân trang bằng phương pháp đo nhân trắc" – Đề tài cấp Bộ Quốc phòng
- Năm 2007-2008, Đề tài KH " Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam,
nữ, trẻ em trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam", Viện Dệt May
- Năm 2009 Đề tài KH ‘ Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam, nữ
Trang 39và trẻ em trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam’ – Đề tài Viện Dệt may Việt Nam do TS Nguyễn Văn Thông làm chủ nhiệm
Theo thời gian, do sự phát triển của điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, hình dáng kích thước cơ thể của con người cũng thay đổi Do đó, hệ thống cỡ số quần áo phải được bổ sung thường xuyên đảm bảo sự vừa vặn
và tính tiện nghi của quần áo may sẵn
1.5.2 Các kích thước thiết kế quần áo công nghiệp cơ bản trong và ngoài nước
Việc lựa chọn các thông số kích thước cơ bản để thiết kế quần áo công nghiệp là một công việc hết sức quan trọng nó quyết định sự thành công của khâu thiết kế công nghiệp trong sản xuất quần áo công nghiệp Nếu đưa ra không đầy đủ thông số kích thước thì không thể thiết kế được kiểu dáng quần áo có kết cấu đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng thời trang đáp ứng cho người tiêu dùng Ngược lại nếu chọn lựa quá nhiều thông số kích thước, giúp cho việc thiết kế công nghiệp càng chính xác, càng thuận lợi và
đa dạng mẫu mã sản phẩm may, đồng thời thỏa mãn được yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng, nhưng nó lại tốn nhiều thời gian công sức, kinh phí nghiên cứu, thu thập số liệu bằng phương pháp đo trực tiếp, dẫn đến không
có hiệu quả kinh tế trong sản xuất may công nghiệp Vì vậy câu hỏi cần đặt
ra ở đây là phải chọn lựa bao nhiêu thông số kích thước nhân trắc để thiết kế công nghiệp có hiệu quả nhất, điều này nó phụ thuộc vào:
- Hình dáng cơ thể người;
- Kết cấu sản phẩm đa dạng mà nhà thiết kế đưa ra;
- Phương pháp thiết kế quần áo của mỗi nước
Chúng ta không chỉ lựa chọn các kích thước phục vụ cho thiết kế sản phẩm mà còn các kích thước phục vụ cho thiết kế chi tiết và so sánh tạo dáng sản phẩm Tổng hợp tất cả các yếu tố trên là cơ sở để chúng ta có thể đi
Trang 40đến quyết định lựa chọn số lượng thông số kích thước nhân trắc cần đo trên
cơ thể người Để hiểu rõ hơn việc chọn lựa số lượng thông số kích thước ta
có thể tham khảo một số kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp của các nước được xây dựng trên cơ sở hình dáng cơ thể, kết cấu từng loại sản phẩm
và phương pháp thiết kế riêng của từng nước
- Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Anh: Bao
- Các kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp sản xuất quần áo quân
trang cho Quân đội nhân dân Việt Nam: Bao gồm 52 kích thước [phụ lục 3]
1.5.3 K ích thước chủ đạo và bước nhảy
Kích thước chủ đạo:
Trước hết ta phải hiểu được kích thước chủ đạo là kích thước cơ bản nhất, đóng vai trò chính trong bảng hệ thống cỡ số, một khi kích thước chủ đạo thay đổi thì các kích thước khác thay đổi theo và nhờ có kích thước chủ đạo mà người tiêu dùng có thể lựa chọn được cỡ số phù hợp với vóc dáng của mình, còn nhà sản xuất hay nhà phân phối hàng có thể phân biệt được cỡ số không bị nhầm lẫn giữa các sản phẩm, vì vậy kích thước chủ đạo là cơ sở, là nền tảng để hình thành nên hệ thống cỡ số Cho nên việc xác định các kích thước chủ đạo trong số các kích thước được chọn phục vụ cho thiết kế công nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất để xây dựng hệ thống cỡ
số cơ thể người Chọn kích thước chủ đạo phải xuất phát từ thực tế sản xuất vì