CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên tác giả luận văn: Hoàng Quỳnh Phương Đề tài luận văn: Áp dụng cơ chế h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho nhà máy điện năng lượng tái
tạo trong thị trường bán buôn điện
cạnh tranh tại Việt Nam
HOÀNG QUỲNH PHƯƠNG Ngành: Quản trị kinh doanh
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Giang
Viện: Kinh tế và Quản lý
HÀ NỘI, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện
trực tiếp cho nhà máy điện năng lượng tái
tạo trong thị trường bán buôn điện
cạnh tranh tại Việt Nam
HOÀNG QUỲNH PHƯƠNG Ngành: Quản trị kinh doanh
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Giang
Viện: Kinh tế và Quản lý
HÀ NỘI, 2020
Chữ ký của GVHD
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: Hoàng Quỳnh Phương
Đề tài luận văn: Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho
nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số SV: CA190237
Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày 30/10/2020 với các nội dung sau:
- Ưu nhược điểm của DPPA, điều kiện áp dụng cơ chế DPPA
- Nhấn mạnh vai trò vị trí của các bên tham gia cơ chế DPPA
- Lộ trình áp dụng cơ chế DPPA
- Trích dẫn nguồn tại các thông tin đưa ra
- Làm rõ hơn về mẫu hợp đồng mới so với những hợp đồng trước đó ở điểm nào
Hà Nội, Ngày 10 tháng 11 năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung được trình bày trong luận văn này là
trung thực, là sản phẩm trí tuệ của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bình Giang Các tài liệu, số liệu thực tế đều được thu thập từ Trung tâm Điều độ hệ
thống điện Quốc gia Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm mọi vấn đề liên quan đến tính trung thực của luận văn này
Người cam đoan
Hoàng Quỳnh Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài "Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện
trực tiếp cho nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện
cạnh tranh tại Việt Nam" em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy
giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo, TS Nguyễn Bình Giang Thầy đã
hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài
Em xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện đào tạo sau đại học, Viện Kinh tế và Quản lý đã tạo điều kiện trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình học tập của khóa học
Em xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ, kỹ sư Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, tạo điều kiện về tài liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Do vậy tác giả mong nhận được sự góp ý kiến của các cô giáo, thầy giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Hoàng Quỳnh Phương
Trang 6M ỤC LỤC
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU .1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN TRỰC TIẾP 9
1.1 Khái niệm về cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) 9
1.2 Các dạng hợp đồng mua bán điện trực tiếp 10
1.2.1 DPPA vật lý (Physical PPAs) 10
1.2.2 DPPA tài chính (Synthetic/Virtual PPA) 12
1.3 Điều kiện để thực hiện cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp 14
1.3.1 Chính sách và khung pháp lý 14
1.3.2 Mức độ phát triển thị trường điện cạnh tranh 14
1.4 Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế trong thực hiện cơ chế DPPA 16
1.4.1 Tổng quan về tình hình DPPA toàn cầu 16
1.4.2 Kinh nghiệm áp dụng DPPA của các nước trên thế giới 20
1.4.3 Bài học kinh nghiệm áp dụng DPPA cho Việt Nam 30
1.5 Vai trò của cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp 32
1.5.1 Khách hàng 34
1.5.2 Nhà đầu tư phát triển dự án NLTT 35
1.5.3 Chính phủ và nền kinh tế xã hội 35
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN TRỰC TIẾP CHO NHÀ MÁY ĐIỆN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TRONG THỊ TRƯỜNG BÁN BUÔN ĐIỆN CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM 37
2.1 Hiện trạng phát triển của các nguồn NLTT tại Việt Nam 37
2.1.1 Các dạng năng lượng tái tạo tại Việt Nam 37
2.1.2 Tình hình phát triển các nguồn NLTT tại Việt Nam 39
2.1.3 Tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 41
2.2 Thực trạng khung chính sách và pháp lý áp dụng cơ chế DPPA cho các nguồn NLTT khi tham gia vào thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam 46
Trang 72.2.1 Các quy định pháp lý về khuyến khích phát triển Năng lượng tái tạo
46
2.2.2 Các quy định về thị trường điện 52
2.2.3 Các quy định về giá và các loại phí dịch vụ trong hệ thống điện 54
2.2.4 Các quy định khác liên quan 56
2.3 Đánh giá mức độ phát triển của thị trường điện Việt Nam 57
2.3.1 Định hướng phát triển thị trường điện của Chính phủ Việt Nam 57
2.3.2 Mức độ phát triển thị trường bán buôn điện tại Việt Nam 59
2.3.3 Lợi ích đạt được khi đưa các nhà máy điện NLTT tham gia trực tiếp VWEM 74
2.4 Đánh giá chung về khả năng áp dụng cơ chế DPPA cho nguồn NLTT trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam 77
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG CƠ CHẾ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN TRỰC TIẾP CHO NHÀ MÁY ĐIỆN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TRONG THỊ TRƯỜNG BÁN BUÔN ĐIỆN CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM 80
3.1 Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho nhà máy điện NLTT 80
3.1.1 Lộ trình áp dụng cơ chế DPPA 80
3.1.2 Đối tượng tham gia DPPA 80
3.1.3 Nguyên tắc vận hành cơ chế DPPA 81
3.1.4 Cơ chế thanh toán theo hợp đồng CfD 88
3.2 Đề xuất, kiến nghị 90
3.2.1 Đề xuất sửa đổi khung chính sách, pháp lý 90
3.2.2 Đề xuất các nội dung về sửa đổi Thông tư quy định vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh 91
3.2.3 Đề xuất hướng dẫn về mẫu hợp đồng với nguồn điện NLTT 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
BOT Nhà máy điện xây dựng theo hình thức Kinh doanh – Vận hành –
Chuyển giao CAN Giá công suất thị trường
CBP Chào giá theo chi phí
CDP Dự án công khai về khí hậu
CfD Hợp đồng mua bán điện dạng sai khác
COD Ngày vận hành thương mại
DPPA Hợp đồng mua bán điện trực tiếp
EPTC Công ty mua bán điện
ERAV Cục Điều tiết Điện lực
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
FIT Biểu giá cho NLTT
FMP Giá thị trường điện toàn phần
GENCO Đơn vị phát điện
NLTT Nhà máy năng lượng tái tạo
REC Chứng chỉ năng lượng tái tạo/Năng lượng xanh
SMO Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện
SMP Giá điện năng thị trường
USAID Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VLEEP Chương trình giảm khí thải Năng lượng tại Việt Nam
WB Ngân hàng thế giới
VWEM Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam
Trang 9DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Tiềm năng năng lượng gió tại Việt Nam ở độ cao 65m 42
Bảng 2 2: Các nhà máy/trang trại điện gió đang vận hành 42
Bảng 2 3: Các nhà máy/trang trại điện gió đang xây dựng 43
Bảng 2 4: Tổng hợp giá điện đối với các loại hình năng lượng tái tạo 48
Bảng 2 5: Đánh giá lợi ích đạt được khi đưa các nhà máy điện NLTT tham gia trực tiếp Thị trường bán buôn điện cạnh tranh 76
Trang 10DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 1: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng trong DPPA 11
Hình 1 2: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng trong DPPA môi giới 12
Hình 1 3: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng 13
Hình 1 4: Khối lượng DPPA toàn cầu phân theo khu vực tính đến năm 2019 (%) 17
Hình 1 5: Khối lượng DPPA toàn cầu theo vùng và lũy kế (%) 18
Hình 1 6: Mười nhà phát triển DPPA hàng đầu trên thế giới 19
Hình 1 7: Mô hình Sleeved PPA tại Úc 21
Hình 1 8: Mô hình Synthetic PPA (Virtual PPA) tại Úc 22
Hình 1 9: Mô hình Modified Virtual PPA 23
Hình 1 10: Mô hình cơ chế mua bán điện tiếp cận trực tiếp tại Mỹ 27
Hình 1 11: Mô hình cơ chế mua bán điện ảo kết hợp tại Mỹ 29
Hình 2 1: Cơ cấu công suất đặt nguồn điện theo loại hình công nghệ 41
Hình 2 2: Tổng quan về cấu trúc thị trường bán buôn điện cạnh tranh 59
Hình 2 3: Các thành viên tham gia thị trường bán buôn điện 60
Hình 3 1: Phương án vận hành DPPA 81
Hình 3 2: Cơ chế thanh toán theo hợp đồng CfD 90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành điện của các quốc gia trên thế giới truớc đây hầu hết đều theo mô hình độc quyền tích hợp dọc: một tập đoàn hoặc công ty thuộc sở hữu nhà nước
sẽ nắm giữ toàn bộ các khâu phát điện - truyền tải điện - phân phối, bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng Theo quan điểm truớc đây của các nhà kinh tế, quản lý,
mô hình này tận dụng được ưu thế về mặt quy hoạch phát triển, quản lý vận hành ngành điện một các tập trung
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, các thành tựu vượt bậc của hệ thống cơ sở hạ tầng ngành điện (công nghệ phát điện, công nghệ điều khiển, đo đếm từ xa), các quan điểm về mô hình tổ chức ngành điện cũng
dần dần có sự thay đổi rõ rệt Theo đó, một số khâu trong ngành điện, bao gồm: phát điện, bán buôn điện, bán lẻ điện hoàn toàn có thể áp dụng các cơ chế thị trường cạnh tranh để nâng cao hiệu quả; còn các khâu truyền tải điện, phân phối điện thì nên giữ theo mô hình độc quyền tự nhiên để khai thác tối ưu mạng luới truyền tải- phân phối điện, tránh phải đầu tư trùng lặp gây lãng phí
Trong giai đoạn trước năm 2000, ngành điện Việt Nam được tổ chức theo
mô hình độc quyền tích hợp dọc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn là nhà cung cấp điện chính trong cả nước EVN vận hành và kinh doanh toàn bộ hệ thống điện, từ sản xuất đến truyền tải và phân phối điện năng Buớc sang thế kỷ 21 khâu phát điện đã đuợc cởi mở hơn, có nhiều đơn vị phát điện nằm ngoài EVN Tuy nhiên, EVN vẫn giữ vai trò chi phối khâu phát điện (hơn 60% tổng công suất phát điện toàn hệ thống thuộc các công
ty phát điện do EVN sở hữu 100% hoặc nắm giữ cổ phần chi phối); khâu phân
phối bán lẻ (hơn 90% thị phần); và độc quyền trong các khâu truyền tải điện Cũng chính trong giai đoạn này, ngành điện Việt Nam đã phải đối mặt với một
loạt những thách thức về việc đảm bảo cung ứng đủ điện cho nhu cầu phụ tải cũng như nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2010 - 2019, tốc độ tăng trưởng phụ tải điện hàng năm ở Việt Nam nằm trong khoảng từ 12% đến 15%/năm Ðể đáp ứng nhu cầu điện tăng cao sẽ đòi hỏi
một lượng vốn đầu tư rất lớn vào nguồn và lưới điện, ước tính sơ bộ khoảng 4 tỉ USD/năm (cho giai đoạn 2015-2020) Ðây sẽ là một áp lực rất lớn cho ngành
Trang 13điện nếu giữ nguyên cơ cấu tổ chức theo mô hình độc quyền tích hợp dọc Kinh nghiệm thực tế trên thế giới cho thấy, chỉ có thúc đẩy cạnh tranh trong các hoạt động điện lực mới có thể giải quyết đuợc vấn đề tăng hiệu quả sản xuất và kinh doanh điện, thu hút các nguồn vốn đầu tư cũng như sử dụng vốn đầu tư một cách
hiệu quả
Thị trường điện Việt Nam hiện nay đã có những bước thay đổi đáng kể Tuy nhiên, với xu hướng nền kinh tế trong những năm gần đây, nguồn cung đáp ứng không kịp sự tăng trưởng mạnh mẽ của phụ tải Theo đó, chính phủ đã có
những cơ chế khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) cụ
thể như: Quy trách nhiệm mua điện và ưu tiên huy động công suất từ nguồn năng lượng tái tạo, thực hiện các cơ chế hỗ trợ về giá điện và các cơ chế, chính sách khuyến khích khác Phát triển năng lượng tái tạo từ nước, nắng, gió, sinh khối, địa nhiệt đang trở thành xu thế toàn cầu, vì đây là nguồn năng lượng sạch, ít gây tác hại đến môi trường, giúp giảm khí thải nhà kính, góp phần chống biến đổi khí hậu cũng như giúp các nước trên thế giới giảm khai thác và phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch tự nhiên Đầu tư vào NLTT không chỉ tích cực cho môi trường, mà nó còn có thể là một trong những cơ hội đầu tư đầy triển vọng,
do đó được xem là đầu tư vào một tương lai bền vững Điều này khiến cho đầu tư vào NLTT đã phát triển mạnh mẽ đáng kinh ngạc trong thời gian qua
Trên thế giới, việc phát triển ngày càng tăng của các dự án kí kết hợp đồng mua bán điện trực tiếp DPPAs trong thời gian qua là do cơ chế này đem lại lợi ích cho cả người sử dụng điện năng lượng tái tạo, nhà đầu tư phát triển dự án năng lượng tái tạo và cho nền kinh tế của các nước trong việc đạt được mục tiêu
về thúc đẩy phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo
Trong thời gian qua, tại Việt Nam cơ chế khuyến khích hỗ trợ về giá (FIT)
đã mang lại những kết quả tích cực, tuy nhiên đây chỉ là một cơ chế mang tính
chất ngắn hạn Xuất phát từ những thực tế trên, đề tài này nhằm hướng tới mục tiêu là nghiên cứu việc áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) cho nhà máy điện năng lượng tái tạo khi tham gia vào thị trường bán buôn điện
cạnh tranh tại Việt Nam
Trang 142 T ổng quan tình hình nghiên cứu
Phát triển năng lượng tái tạo đang được triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch đang dần
cạn kiệt, đồng thời nhằm mục tiêu giảm phát thải khí CO2 ra môi trường Tại nhiều quốc gia, sự phổ biến ngày càng tăng nhanh chóng của các DPPA được
phản ánh trong những năm gần đây Đồng thời, tại Việt Nam, với xu hướng nền kinh trong những năm gần đây, nguồn cung không đáp ứng kịp sự tăng trưởng
mạnh mẽ của phụ tải Chính phủ đã có những Chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo thông qua thu hút đầu tư tư nhân mà còn góp
phần quan trọng đáp ứng nhu cầu của nhiều doanh nghiệp hàng đầu có cam kết
về môi trường đang muốn mở động hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam Các chính sách hỗ trợ về giá FIT cho các nguồn NLTT của Chính phủ trong thời gian qua chỉ là cơ chế mang tính ngắn hạn về mặt dài hạn cần xây dựng một cơ
chế mới để khuyến khích phát triển các nhà đầu tư phát triển dự án đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam
Vì thế mà việc nghiên cứu một cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho các nguồn NLTT khi tham gia vào thị trường điện được các quốc gia và đặc biệt
là chính phủ Việt Nam cùng các tổ chức liên quan rất quan tâm Những năm qua,
đã có nhiều bài báo và đề tài nghiên cứu về vấn đề này
Bài báo, đề tài nghiên cứu quốc tế
- Đề tài nghiên cứu “Đánh giá về tiềm năng và khả năng thâm nhập thực tế
của điện mặt trời tại Việt Nam - Review of Potential and Actual Penetration of solar power in Vietnam” của nhóm tác giả Eleonora Riva Sanseverino, Phạm
Mạnh Hải, Lê Thị Thúy Hằng, Maria Lusia Di Silvestre Trong đó nhóm tác giả
đã đưa ra được thực trạng phát triển và đánh giá tiềm năng phát triển của các nguồn Năng lượng tái tạo tại Việt Nam; các chính sách, khung pháp lý khuyến khích điện mặt trời phát triển, đồng thời đánh giá các vướng mắc, khó khăn trong phát triển NLTT tại Việt Nam
- Australia Department of Industry Innovation and Science, 2017, Facilitating End User Deployment Of Off‐Site Renewable Generation, Low Carbon Living Trong báo cáo đưa ra được tình hình phát triển thị trường điện, sự
Trang 15tham gia của các nguồn năng lượng tái tạo và các loại hình hợp đồng mua bán điện trực tiếp áp dụng cho các nguồn năng lượng tái tạo tại Úc
- Bloomberg New Energy Finance 2018, Corporate PPA Global Data Base Trong báo cáo Bloomberg New Energy Finance 2018 đã đưa ra được tổng quan
về thị trường điện trên thế giới và sự phổ biến của DPPA toàn cầu
- Bloomberg New Energy Finance 25 Oct 2016, What’s the Growth Opportunity for US Corporate PPAs – Tại báo cáo Bloomberg New Energy Finance 25 Oct 2016, đã trình bày Cơ hội phát triển DPPA tại Hoa Kỳ
Bài báo, đề tài nghiên cứu trong nước
- Tạp chí Năng lượng Việt nam (2019), Tổng quan tiềm năng và triển vọng phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam Trong đó tác giả đã đánh giá được tiềm năng và triển vọng phát triển của các nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu “Phát triển thị trường năng lượng tái tạo ở Việt Nam”
của PGS.TS Phạm Thị Thu Hà và NCS Nguyễn Ngọc Anh Trong đề tài nghiên
cứu, tác giả đã trình bày thực trạng phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam, đánh giá các rào cản cho sự phát triển cho các nguồn năng lượng tái tạo, từ đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng tái tạo
- Bài báo nghiên cứu về “Cơ chế DPPA: xu hướng và lợi ích góp phần phát triển năng lượng tái tạo” của tác giả Nguyễn Hải Hồ (8/2020) Trong bài viết tác
giả đã đưa ra định nghĩa về cơ chế DPPA, các lợi ích của cơ chế DPPA và các
dạng hợp đồng DPPA hiện hữu
- Báo cáo nghiên cứu của các chuyên gia chương trình VLEEP (Tư vấn Deloitte) cùng với Bộ Công Thương bao gồm:
• Báo cáo về nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế áp dụng mô hình DPPA
• Báo cáo đánh giá khảo sát nhu cầu thị trường tham gia trong cơ chế DPPA
• Báo cáo về đề xuất mô hình DPPA áp dụng cho Việt Nam
• Báo cáo về thiết kế tổng thể chương trình thí điểm cơ chế DPPA
Trong các báo cáo trên, các chuyên gia đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng mô hình DPPA, khảo sát nhu cầu thị trường tham gia cơ chế DPPA từ đó đánh giá, đề xuất và thiết kế mô hình DPPA áp dụng cho Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể về việc áp dụng cơ
chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho các nguồn năng lượng tái tạo Đề tài
Trang 16“Áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt nam”, tác giả chọn cách
tiếp cận phân tích các mô hình hợp đồng mua bán điện trực tiếp, các điều kiện áp
dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp; đồng thời dựa trên những hiện
trạng phát triển nguồn năng lượng tái tạo và nhu cầu sử dụng điện, cũng như hiện
trạng vận hành thị trường điện tại Việt Nam Xây dựng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp áp dụng cho các nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh và đưa ra những đề xuất, kiến nghị những điều kiện cần thiết để áp dụng cơ chế đó Từ đó, thúc đẩy phát triển, sử dụng các nguồn điện năng lượng tái tạo, góp phần thu hút các nguồn đầu tư quốc tế đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài dự kiến thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
• Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) cho các nguồn năng lượng tái tạo
• Phân tích điều kiện áp dụng, đánh giá khả năng áp dụng của cơ chế DPPA cho các nguồn năng lượng tái tạo
• Xây dựng cơ chế hợp đồng DPPA cho các nguồn năng lượng tái tạo
• Đề xuất, kiến nghị giải pháp để áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về cơ chế hợp đồng và các điều kiện để áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam
- Ph ạm vi về nội dung
Năng lượng tái tạo (hay năng lượng sạch, năng lượng tái sinh) là năng lượng từ những nguồn liên tục gần như là vô hạn như năng lượng mặt
trời, gió, mưa, thủy triều, sóng, địa nhiệt và năng lượng sinh khối Nguyên tắc cơ
bản của nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo là tách một phần năng lượng từ các quá trình diễn biến liên tục trong môi trường và đưa vào trong các hệ thống
kỹ thuật và chuyển đổi thành điện năng Quy mô nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo có thể lên đến hàng trăm, hàng trăm MW (các trang trại điện gió, điện mặt
trời…) bán điện lên lưới truyền tải hoặc chỉ vài kW phục vụ cấp điện tại chỗ cho tòa nhà hay các chương trình điện khí hóa nông thôn
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng tái tạo (thủy điện, điện gió, điện mặt trời, sinh khối, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học…) Ngoài thủy điện đã gần như phát triển hết, trong giai đoạn tới, điện mặt trời và điện gió là
trọng tâm phát triển để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ điện của hệ thống Theo Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, khuyến khích ưu tiên phát triển điện mặt trời và điện gió là mục tiêu để phát triển nhanh và bền vững ngành
Trang 18điện, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tỷ trọng công
suất các loại hình năng lượng tái tạo này sẽ ngày một tăng dần trong tương lai
gần cùng những bước phát triển của thị trường điện
Do vậy, trong luận văn này chỉ đề cập đến các nguồn năng lượng tái tạo và
sẽ tập trung nghiên cứu và đưa ra cơ chế áp dụng hợp đồng mua bán điện trực
tiếp cho các nhà máy điện năng lượng tái tạo khi tham gia vào thị trường bán
buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu
5.1 Quy trình nghiên c ứu
Để thực hiện đề tài này, việc nghiên cứu được thực hiện qua các bước: (i) Nghiên cứu về cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp, các điều kiện
để thực hiện cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp
(ii) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về việc áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp
(iii) Đánh giá hiện trạng, tiềm năng phát triển nguồn năng lượng tái tạo và nhu cầu khách hàng sử dụng điện lớn tại Việt Nam
(iv) Rà soát, đánh giá các quy định, thiết kế thị trường điện và các quy định
hiện hành khác có liên quan đến việc áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực
tiếp cho nhà máy năng lượng tái tạo khi tham gia thị trường điện
(v) Xây dựng và áp dụng phương án hợp đồng mua bán điện trực tiếp phù
hợp nhất với khách hàng doanh nghiệp, nhà phát triển dự án NLTT và các đơn vị tham gia thị trường điện tại Việt Nam
(vi) Đề xuất, kiến nghị
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
P hương pháp thu thập dữ liệu bàn giấy: được dùng để thu thập thông tin
thứ cấp về DPPAs toàn cầu trên thế giới, thực trạng sử dụng nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam, các điều kiện để áp dụng cơ chế hợp đồng mua bán điện trực
tiếp cho các nguồn NLTT
5.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: Là phương pháp sử dụng các
nguồn tài liệu đã thu thập để tính toán các thông số làm số liệu đầu vào để tính
toán mô phỏng
Trang 19Phương pháp trình bày dữ liệu bằng bảng và biểu đồ: Dữ liệu định lượng
sau khi được xử lý được tổng hợp dưới dạng các bảng và các biểu đồ
- Chương 2: Đánh giá khả năng áp dụng Hợp đồng mua bán điện trực tiếp
cho nhà máy điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh
tại Việt Nam
- Chương 3: Áp dụng cơ chế Hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho nhà máy
điện năng lượng tái tạo trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN TRỰC TIẾP 1.1 Khái ni ệm về cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA)
Cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa khách hàng sử dụng điện và đơn vị phát điện năng lượng tái tạo (DPPA – Direct Power Purchase Agreement) là cơ chế cho phép khách hàng sử dụng điện có cam kết hoặc mục tiêu sử dụng năng lượng
sạch, phát triển bền vững (điển hình là khách hàng công nghiệp hoặc thương mại, sau đây viết tắt là “Khách hàng”) tiếp cận và mua trực tiếp một lượng điện được
từ một đơn vị phát điện năng lượng tái tạo (sau đây viết tắt là “Đơn vị phát điện”) thông qua một hợp đồng song phương dài hạn có giá và thời hạn hợp đồng do hai bên thỏa thuận và thống nhất
- Khách hàng s ử dụng điện
Theo Luật Điện lực năm 2004, khách hàng sử dụng điện lớn ở Việt Nam được định nghĩa là khách hàng có công suất tiêu thụ lớn và lượng điện tiêu thụ
lớn do Bộ Công Thương quy định phù hợp với từng giai đoạn phát triển của hệ
thống điện Theo Thông tư 39/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015 của Bộ Công Thương, các khách hàng lớn sử dụng lưới phân phối bao gồm: (i) đơn vị phát điện có công suất từ 3 MW trở lên; (ii) khách hàng sử dụng điện có sản lượng bình quân từ 1.000.000 kWh/tháng trở lên
- Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo
Theo Khoản 13 Điều 3 Thông tư 25/2016/TT-BCT quy định hệ thống điện truyền tải, đơn vị phát điện được định nghĩa như sau: Đơn vị phát điện là đơn vị điện lực được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện, sở hữu
một hoặc nhiều nhà máy điện đấu nối với lưới điện truyền tải hoặc nhà máy điện
có công suất đặt trên 30 MW đấu nối vào lưới điện phân phối Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo là các đơn vị phát điện có năng lượng điện được sản xuất từ nguồn các nguồn năng lượng tái tạo như: Mặt trời, gió, sinh khối, địa nhiệt…
- H ợp đồng song phương
Hợp đồng song phương (Bilateral Contract): là hợp đồng được thỏa thuận
và ký kết giữa bên mua và bên bán Do bên bán và bên mua tự đàm phán trực
tiếp và thống nhất về giá và sản lượng cam kết qua hợp đồng trên cơ sở tự nguyện Thông thường hợp đồng song phương trong thị trường điện là hợp đồng
Trang 21tài chính dạng sai khác (Contract for Difference, CfD – nhằm tính toán thanh toán cho lượng điện năng sai khác với giá tham chiếu là giá thị trường)
1.2 Các d ạng hợp đồng mua bán điện trực tiếp
Có hai dạng điển hình của cơ chế DPPA là DPPA vật lý (Physical PPAs) và DPPA tài chính (Financial PPAs) Trong đó, DPPA vật lý được biết tới với 2 cấu trúc là PPA có đường dây riêng (Private Wired PPA) và PPA môi giới (Sleeved PPA); trong khi DPPA tài chính thường được biết đến với tên gọi PPA tổng hợp (Synthetic PPA) hoặc PPA ảo (Virtual PPA)
1.2.1 DPPA v ật lý (Physical PPAs)
Hợp đồng mua bán điện trực tiếp dạng vật lý thường được áp dụng trong trường hợp dự án điện năng lượng tái tạo được xây dựng gần hoặc tại địa điểm tiêu thụ điện của khách hàng và không đấu nối vào lưới truyền tải điện quốc gia,
dựa trên việc giao nhận vật lý điện trực tiếp DPPA vật lý được biết tới với 2 cấu trúc là PPA có đường dây riêng (Private Wired PPA) và PPA môi giới (Sleeved PPA)
- PPA có đường dây riêng
Trường hợp khách hàng có thể kết nối vật lý với các tài sản hoặc nhà máy
của Đơn vị phát điện (cùng hoặc gần vị trí địa lý), các bên thường tham gia một PPA vật lý bằng cách sử dụng một đường dây truyền tải kết nối trực tiếp (do tư nhân đầu tư) để cung cấp một lượng điện xác định tới khu vực của Khách hàng
sử dụng điện Hợp đồng này còn được gọi là DPPA có đường dây riêng (Direct Private Wire PPA) hay DPPA sau công tơ (Behind The Meter PPA) Trong khi các PPA đường dây tư nhân trực tiếp là một dạng hợp đồng khá đơn giản, cơ quan điều tiết điện vùng sẽ phải đưa ra quyết định xem liệu Đơn vị phát điện có
thể bán điện thừa vào lưới điện hay không Tương tự như vậy, vì nhu cầu của Khách hàng hoặc biểu đồ phụ tải không phù hợp với quy mô sản xuất của GENCO, Khách hàng sẽ cần phải duy trì kết nối với Đơn vị bán lẻ điện Các điểm cơ bản của cấu trúc này được mô tả ở Hình 1.1
Trang 22Hình 1 1: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng trong DPPA
có đường dây riêng
Ngu ồn: VLEEP - USAID
- PPA môi giới
Trường hợp khách hành không thể kết nối vật lý với các tài sản hoặc nhà máy của Đơn vị phát điện, các bên có thể thực hiện các giao dịch theo cấu trúc PPA môi giới (Sleeved PPA) hoặc PPA tổng hợp / ảo (Synthetic/Virtual PPA) PPA môi giới (Sleeved PPA) là mô hình cung cấp cho Đơn vị phát điện khả năng bán điện chắc chắn thông qua một thỏa thuận mua bán với Khách hàng có uy tín
và cả hai bên phải dựa vào một Đơn vị bán lẻ và cung cấp dịch vụ lưới điện tương ứng để truyền tải, phân phối điện, đồng thời bù đắp cho Đơn vị bán lẻ điện thông qua một "phí dịch vụ" Có nhiều cách để thực hiện cấu trúc này, nhưng
một trong những phương pháp phổ biến nhất là phương thức "PPA giáp lưng" (back-to-back PPA) Trong đó, Khách hàng trước tiên tham gia vào một PPA với Đơn vị phát điện để mua một lượng điện xác định với mức giá cố định; để đổi lấy
mức giá cố định đó trong dài hạn, Đơn vị phát điện bán điện vào lưới qua SMO
Trang 23với giá trên thị trường cạnh tranh và Đơn vị phát điện ngay lập tức chuyển giao
lại giá hoặc doanh thu bán điện đó cho Khách hàng Khách hàng tiếp sau đó sẽ tham gia một PPA giáp lưng (Back-to-back PPA) với một Đơn vị bán lẻ Điện (đơn vị cung cấp điện thực tế cho Khách hàng) theo giá bán điện quy định tại điểm phụ tải của khách hàng cộng với chi phí cho các dịch vụ truyền tải, phân
phối điện và cân bằng hệ thống điện (phí dịch vụ) Các giao dịch cơ bản của mô hình này được thể hiện tại Hình 1.2
Hình 1 2: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng trong DPPA môi giới
Ngu ồn: VLEEP - USAID
1.2.2 DPPA tài chính (Synthetic/Virtual PPA)
Hợp đồng mua bán điện dạng tài chính thường được áp dụng trong trường
hợp vị trí dự án điện năng lượng tái tạo và vị trí tiêu thụ điện của khách hàng năm cách xa nhau và phải sử dụng hệ thống truyền tải điện quốc gia, dựa trên cơ
chế thanh toán về tài chính thông qua thị trường điện có tổ chức
DPPA tài chính giống như các DPPA vật lý, được giao dịch trực tiếp giữa Đơn vị phát điện và Khách hàng, nhưng sự khác biệt quan trong là không có sự giao nhận điện năng vật lý trong cấu trúc này Theo mô hình này, Đơn vị phát điện sẽ bán điện trực tiếp vào lưới điện theo giá của thị trường điện giao ngay, đồng thời ký kết trực tiếp với Khách hàng một hợp đồng tài chính song
Trang 24phương dạng chênh lệch (Contract for Differences) với sản lượng và giá hợp đồng do hai bên thỏa thuận, xác định trước cho một khoảng thời gian nhất định
Hợp đồng tài chính song phương này hoạt động như một công cụ giúp các bên
quản lý rủi ro tài chính, cụ thể, nếu giá bán điện của Đơn vị phát điện trên thị trường điện giao ngay tại thời điểm giao dịch lớn hơn giá điện hợp đồng cam kết thì Đơn vị phát điện sẽ thanh toán cho Khách hàng số tiền vượt mức do chênh
lệch giá tương ứng với sản lượng cam kết của hợp đồng và ngược lại Ngoài ra, Khách hàng vẫn sẽ ký kết với Đơn vị bán lẻ điện để mua điện cho nhu cầu tiêu
thụ thực tế của mình với giá điện bằng với giá điện năng mua trên thị trường điện giao ngay cộng với các chi phí cung cấp dịch vụ (truyền tải, phân phối, dịch vụ
phụ trợ và điều hành hệ thống điện) Các giao dịch trong mô hình DPPA tài chính được thể hiện tại Hình 1.3
Hình 1 3: Dòng tài chính, điện năng và hợp đồng
trong DPPA tài chính
Ngu ồn: VLEEP - USAID
Trong số các cấu trúc DPPA điển hình nêu trên, cấu trúc DPPA tài chính có
độ linh hoạt cao hơn so với các cấu trúc khác nên thu hút nhiều tập đoàn, công ty tham gia hơn, vì: Ở các khu vực chịu điều tiết khách hàng có thể cố định giá hợp đồng dài hạn ở mức dưới giá thị trường; khách hàng có nhiều điểm phụ tải xuyên
Trang 25suốt lưới điện có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng tái tạo với ít giao dịch hơn; các khách hàng tham gia DPPA có thể giảm được ảnh hưởng tới các Đơn vị cung cấp điện hiện hữu (utilities) và chỉ giao dịch trên thị trường điện bán buôn hoặc thực
hiện các giao dịch tài chính trực tiếp với Đơn vị phát điện Tuy nhiện, việc lựa
chọn áp dụng mô hình nào còn tùy thuộc vào đánh giá mức độ phù hợp của từng
mô hình với bối cảnh, mục tiêu, tình hình phát triển và khung pháp lý cụ thể của
từng quốc gia
1.3 Điều kiện để thực hiện cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp
1.3.1 Chính sách và khung pháp lý
Nhìn chung, cơ chế hỗ trợ về giá (FIT) là một cơ chế mang tính chất ngắn
hạn Vì vậy, cơ chế DPPA sẽ là có một cơ chế tài chính mới, dài hạn hơn để giúp Chính phủ Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển các nguồn năng lượng
mới, năng lượng tái tạo gắn với phát triển bền vững Tuy nhiên, Chính phủ cần
có ban hành những khung chính sách, pháp lý phù hợp để có thể áp dụng cơ chế DPPA khi các nguồn NLTT tham gia vào thị trường điện bao gồm:
- Luật Điện lực và các văn bản pháp luật khác liên quan để tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng cơ chế DPPA
- Khung mẫu hợp đồng DPPA, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa các bên tham gia, xác định các giá/chi phí thành phần của chi phí dịch vụ DPPA trên
một đơn vị điện năng
- Cơ chế mua bán và nhận chứng chỉ NLTT/Năng lượng xanh
- Công tác quản lý quy hoạch phát triển điện, quản lý đầu tư, quy hoạch và
kế hoạch sử dụng đất nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển các dự án năng lượng tái tạo
- Cơ chế vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh để các nhà máy điện năng lượng tái tạo có thể tham gia trực tiếp vào thị trường điện
- Đảm bảo huy động tối đa nguồn năng lượng tái tạo, đồng thời vận hành ổn định và an toàn hệ thống
1.3.2 M ức độ phát triển thị trường điện cạnh tranh
Việc nghiên cứu thực tiễn mức độ phát triển thị trường đang ở giai đoạn nào
là một căn cứ tốt để xác định mô hình thực hiện cơ chế hợp đồng mua bán điện
Trang 26phù hợp và đánh giá được khả năng áp dụng một mô hình thực hiện cơ chế DPPA đã có thể tiến hành được ở một thị trường nhất định
Mức độ phát triển thị trường điện được xác định thông qua khung như sau: (1) Số lượng các đơn vị mua và bán điện tham gia thị trường và các đặc trưng của các đơn vị như mức độ đảm bảo về chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện cho khách hàng kể cả khi chuyển đổi sang đơn vị bán lẻ điện khác,
do việc vận hành lưới điện và cấp điện đến khách hàng tiêu thụ điện vẫn do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (01 đơn vị độc lập với các bên) đảm nhận
(2) Cơ chế vận hành trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh với đặc điểm
về cơ chế hợp đồng, cơ chế dịch vụ phụ trợ, cơ chế thanh toán
Một thị trường điện cạnh tranh sẽ bao gồm: Thị trường của các hợp đồng song phương và thị trường cân bằng Các thị trường này được phân biệt bằng các
thời kỳ quá độ khác nhau, như sau:
• Thị trường của các hợp đồng dài hạn Trên thị trường này, các bên bán
và bên mua ký với nhau các hợp đồng mua bán cho giai đoạn tương lai (ví dụ cho
tuần, tháng, hoặc năm tới)
• Thị trường “ngày tới” Trên thị trường này, các bên bán và bên mua ký
với nhau các hợp đồng mua bán cho các ngày tiếp theo
• Thị trường cân bằng Đây là thị trường được sử dụng để khớp nối cung
và cầu về điện (“cân bằng” của hệ thống) trong thời gian thực của ngày hiện tại
Với thị trường này, ban đầu, những người dùng điện sẽ lập kế hoạch đáp ứng nhu cầu tiêu dùng điện của mình thông qua việc mua điện trên “thị trường
của những hợp đồng dài hạn” Điều này sẽ diễn ra một lần, hoặc nhiều lần liên
tục (tùy theo mức độ) cho đến khi thị trường “ngày tới” bắt đầu hoạt động
Bằng cách chuyển sang mua điện trên “thị trường ngày tới”, người dùng điện có cơ hội khớp nhu cầu dùng điện trong ngày mai với hợp đồng mua - bán điện ký hôm nay một cách chính xác hơn Còn thị trường cân bằng sẽ được sử
dụng để cân bằng cung và cầu trực tiếp trong ngày cung cấp
Thị trường “các hợp đồng song phương” sẽ xem xét cấp điện hiện vật được
ký giữa nhà sản xuất điện với nhà cung cấp điện trung gian, hoặc với người tiêu dùng cuối cùng Hợp đồng này sẽ xem xét việc cấp các lượng điện năng theo phụ
Trang 27tải “nền” hoặc “đỉnh” hoặc kết hợp cả hai, phù hợp với một biểu đồ phụ tải nhất định và phù hợp với các nhu cầu khác của người mua điện
Thị trường các hợp đồng song phương và thị trường “một người mua” có nhiều điểm chung, nhưng cũng có sự khác biệt đáng kể Các bên tham gia thị trường “các hợp đồng song phương” sẽ ký kết hợp đồng hiện vật Sau khi hợp đồng song phương được ký kết, trên cơ sở “tự điều độ”, các công ty sản xuất điện
sẽ chủ động đảm bảo sản xuất ra các lượng điện năng đã được giao kết theo hợp đồng Trong các hợp đồng song phương sẽ xác định giá điện, sản lượng điện và chúng khác nhau đối với những bên khác nhau Cơ quan “Vận hành hệ thống” sẽ
có trách nhiệm đảm bảo sự cân bằng trên thị trường trong thời gian thực bằng cách lựa chọn các tổ hợp các đơn hàng (mua hoặc bán) của các bên tham gia phù
hợp với yêu cầu giảm, hoặc tăng sản lượng điện cần cung cấp Tổ hợp các đơn hàng được xem xét theo cả hai tiêu chí về kinh tế - “chi phí thấp hơn” và, về kỹ thuật - “lợi hơn về mặt kỹ thuật”
Trong thị trường điện “một người mua”, việc điều độ hệ thống không thực
hiện theo các hợp đồng song phương của các bên tham gia, mà được thực hiện
bởi một cơ quan vận hành hệ thống Sản lượng điện sản xuất được xác định theo
biểu đồ điều độ, còn giá sẽ được áp dụng như nhau cho tất cả các nhà sản xuất điện và người mua điện Giá này được xác định ở mức giá tối đa của hệ thống -
tức là giá chào bán của tổ máy phát đã được đưa vào biểu đồ phụ tải ngày và đêm
mà có giá cao nhất
1.4 Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế trong thực hiện cơ chế DPPA
1.4.1 T ổng quan về tình hình DPPA toàn cầu
Theo báo cáo mới nhất của Bloomberg New Energy Finance (BNEF) – Tổ
chức nghiên cứu, tư vấn toàn cầu về lĩnh vực năng lượng sạch, có trụ sở lại London (Anh), các tập đoàn lớn trên thế giới đã mua hơn 50 GW năng lượng
sạch kể từ năm 2008 Được thúc đẩy bởi một số doanh nghiệp lớn nhất trên thế
giới – Google, Facebook, Amazon… Mỹ là quốc gia đầu tiên thử nghiệm và đầu
tư mạnh vào thị trường DPPA Do đó, tính đến cuối năm 2019, riêng Mỹ đã có
tới 36,1 GW trong các dự án DPPA – tương đương 69% tổng số dự án DPPA toàn cầu cho đến nay
Trang 28Hình 1 4: Kh ối lượng DPPA toàn cầu phân theo khu vực tính đến
năm 2019 (%)
Ta có thể thấy, khu vực Bắc, Trung, Nam Mỹ (AMER) chiếm gần ba phần
tư thị trường hiện nay Với sự nhiệt tình của các công ty lớn trong lĩnh vực RE cũng như thị trường và môi trường pháp lý thuận lợi, thị trường DPPA của Mỹ đã
mở rộng nhanh chóng và chứng minh tính khả thi của mô hình Dựa trên xu hướng và nhu cầu đáp ứng các mục tiêu về NLTT, tăng trường DPPA của Mỹ không có dấu hiệu chậm lại Ước tính rằng, các công ty Mỹ có kế hoạch ký kết DPPA lên tới 85 GW vào năm 2030
Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi (AEMA) và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC) hiện chiếm khoảng một phần tư thị trường DPPA, nhưng với sự tham gia của họ ngày càng tăng theo cấp số nhân và vẫn có khả năng phát triển
tiếp Singapore đã có tăng trưởng DPPA cho NLTT rất lớn, Úc đã nhận thấy nhu
cầu năng lượng rất cao của các công ty khai thác mỏ và Đài Loan đã bắt đầu thiết
lập khung pháp lý cho DPPA
Trang 29Hình 1 5: Kh ối lượng DPPA toàn cầu theo vùng và lũy kế (%)
Ngu ồn BNEF
Sự phổ biến ngày càng tăng của các DPPA được phản ánh trong sự gia tăng
mức độ tiếp nhận trên toàn thế giới trong những năm gần đây, như được thấy trong Hình 1.5 Công suất DPPA được tài trợ hàng năm được chia nhỏ theo từng khu vực và đường trong hình biểu thị tổng công suất DPPA được tài trợ tích lũy trên tất cả các vùng Vào năm 2019, một số lượng kỷ lục (19,5 GW) hợp đồng mua bán điện của công ty năng lượng sạch đã được ký kết bởi 100 công ty ở 23
quốc gia, tăng 40% so với kỷ lục của năm trước Chỉ riêng các công ty Hoa Kỳ
đã đăng ký 13,6 GW PPA của công ty vào năm 2019 Chỉ hơn 11 GW trong số
đó là PPA ảo 2,4 GW còn lại được giao dịch theo mức thuế xanh
Vì các DPPA đã nghiêng về các dự án năng lượng gió và mặt trời ở Hoa
Kỳ, nên chúng cũng bị chi phối bởi các tập đoàn công nghệ sử dụng nhiều năng lượng với thương hiệu quốc tế mạnh mẽ Trên thực tế, một nửa trong số 10 người tiêu dùng hàng đầu của DPPA là các công ty công nghệ lớn của Hoa Kỳ - Google, Amazon, Microsoft, Apple và Facebook (xem Hình 1.6) Điều này chủ
yếu là do sự thèm muốn của các công ty công nghệ lớn đối với điện để chạy các trung tâm lưu trữ dữ liệu của họ Ví dụ: vào năm 2019, Google là nhà cung cấp
Trang 30PPA đơn lẻ lớn nhất với chỉ hơn 2,7 GW được ký kết Điều này bao gồm một thông báo vào tháng 9 năm 2019 để mua 1,9GW năng lượng sạch ở sáu quốc gia
- thông báo duy nhất lớn nhất từ trước đến nay của một tập đoàn Google đã sử
dụng quy trình đấu giá ngược duy nhất để ký các hợp đồng này, với các nhà phát triển tham gia vào quy trình đấu giá công khai, trực tiếp Facebook (1,1 GW), Amazon (0,9 GW) và Microsoft (0,8 GW) là những người mua lớn nhất tiếp theo trên toàn cầu vào năm 2019 Facebook và Microsoft đều có các hợp đồng năng lượng mặt trời lớn ở Đông Nam Á
Tuy nhiên, sự quan tâm giữa các công ty công nghệ khác, nhà bán lẻ, nhà
sản xuất và những người khác đang tăng lên Ví dụ, ngày càng nhiều công ty dầu khí đang ký kết các hợp đồng năng lượng sạch: Occidental Petroleum, Chevron
và các Đối tác chuyển giao năng lượng đều đã ký hợp đồng năng lượng mặt trời vào năm 2019; ExxonMobil đã ký hai PPA trị giá 575 MW vào cuối năm 2018 Walmart là một ví dụ khác - đã ký hơn 10 PPA McDonald’s đã ký PPA ảo đầu tiên vào năm 2019 (220 MW)
Hình 1 6: Mười nhà phát triển DPPA hàng đầu trên thế giới
Ngu ồn BNEF
Xu hướng phát triển ngày càng tăng của các dự án DPPAs trong thời gian qua trên thế giới là do cơ chế này đem lại lợi ích cho cả người sự dụng điện năng lượng tái tạo, nhà đầu tư phát triển dự án năng lượng tái tạo và cho nền kinh tế
Trang 31của các nước trong việc đạt được mục tiêu về thúc đẩy phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo
1.4.2 Kinh nghi ệm áp dụng DPPA của các nước trên thế giới
1.4.2.1 Kinh nghiệm áp dụng DPPA tại Úc
Thị trường điện quốc gia Úc (NEM) đã được vận hành liên tục ở Úc từ ngày 12 tháng 12 năm 1998 đến nay Thị trường điện NEM đáp ứng 92% nhu
cầu phụ tải điện tại Úc Thiết kế mô hình thị trường NEM (thị trường điện giao ngay) là thị trường điện tập trung toàn phần (price –based pool) Toàn bộ điện năng của các đơn vị phát điện phải được chào bán qua thị trường giao ngay Thị trường NEM là thị trường chỉ giao dịch năng lượng, do đó không có cơ chế thanh toán phí công suất riêng Chu kỳ giao dịch trong thị trường điện Úc được xác định 5 phút một Các đơn vị phát điện chào giá nộp bản chào từ ngày hôm trước
Bản chào giá chào cho từng chu kỳ giao dịch (5 phút) với 10 cặp gồm giá chào
và công suất chào Công suất chào có thể thay đổi bất cứ lúc nào nếu cần thiết, nhưng giá chào không được thay đổi Giá thị trường giao ngay được xác định trước khi vận hành (ex-ante) cho từng 5 phút một Giá thị trường giao ngay của NEM là giá trung bình của giá thị trường giao ngay của 6 chù kỳ giao dịch (5 phút) liên tiếp trong chu kỳ tính giá (30 phút) Giá thị trường dùng để thanh toán
là giá vùng có xét đến tổn thất trên lưới và chi phí kết nối lưới tính cho từng bang (Zonal Pricing) Giá thị trường giao ngay dao động trong khoảng từ giá sàn đến giá trần Giá sàn là -1.000 AUD/MWh Giá trần do Ủy ban thị trường năng lượng
Úc (AEMC) quy định, điều chỉnh hàng năm phản ánh phù hợp với sự biến đổi
của chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Để vận hành linh hoạt và hiệu quả các nguồn NLTT trong thị trường điện
cạnh tranh, các nhà hoạch định chính sách đã xây dựng một số mô hình hợp đồng mua bán điện (PPA) giữa các bên mua điện (các khách hàng tiêu thụ điện) và đơn
vị phát điện NLTT với mức giá và thời hạn thỏa thuận, bao gồm các dạng hợp đồng điển hình như: hợp đồng PPA vật lý (Sleeved PPA), PPA trực tiếp hoặc bán sau công tơ (Direct PPA or Behind Meter) và PPA ảo hoặc tài chính (Virtual PPA hoặc Synthetic PPA) Trong đó áp dụng phổ biến nhất là hợp đồng Sleeved PPA và các hợp đồng Synthetic PPA
Trang 32(i) Hợp đồng Sleeved PPA (dạng hợp đồng vật lý): cơ chế hợp đồng này được thực hiện như sau:
- Khách hàng không thỏa thuận ký hợp đồng trực tiếp với đơn vị phát điện NLTT Thay vào đó, đơn vị bán lẻ điện sẽ có hợp đồng trực tiếp với một dự án năng lượng tái tạo cụ thể dưới dạng hợp đồng chênh lệch (CfD), hợp đồng này giúp đơn vị bán lẻ quản lý rủi ro về biến động giá thị trường giao ngay Ngoài
phần điện năng, đơn vị bán lẻ điện và đơn vị phát triển dự án (chủ dự án) còn
thống nhất về việc giao dịch Chứng chỉ năng lượng tái tạo cho phần sản lượng giao dịch
- Khách hàng vẫn tiếp tục mua điện từ đơn vị bán lẻ điện của mình thông qua hợp đồng bán lẻ Tuy nhiên các điều khoản của hợp đồng này phải phản ánh được các điều khoản của hợp đồng CfD Khách hàng sẽ phải trả một mức giá chung cho toàn bộ sản lượng tiêu thụ (bao gồm cả phần Greenpower – REC)
hoặc các mức giá riêng cho phần điện năng được tạo ra cộng với phần cung cấp
dịch vụ điện lưới thông thường Thông qua việc cam kết trách nhiệm pháp lý đối
với việc tiêu thụ REC, khách hàng cũng đã gián tiếp hỗ trợ phát triển các dự án NLTT
Hình 1 7: Mô hình Sleeved PPA t ại Úc
Thời hạn của hợp đồng Sleeved PPA thường là từ 10 đến 15 năm, trong khi
đó thời hạn của hợp đồng bán lẻ điện giữa khách hàng và đơn vị bán lẻ thường sẽ
Trang 33ngắn hơn (01 – 03 năm) Giá điện trong hợp đồng bán lẻ điện tùy thuộc vào giá
của thị trường bán buôn, trong khi giá điện năng lượng tái tạo theo hợp đồng Sleeved PPA sẽ phản ánh chi phí của nhà phát triển dự án NLTT và có thể được
cố định hoặc thay đổi theo thời hạn của PPA tùy thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên
(ii) Hợp đồng Synthetic PPA: là một dạng hợp đồng tài chính (nghĩa là không có bất cứ một giao dịch vật lý nào được thể hiện trong hợp đồng này)
nhằm hỗ trợ quản lý rủi ro hiệu quả cho bên bán và bên mua trước sự biến động
của giá thị trường điện
- Khách hàng ký hợp đồng mua bán điện trực tiếp với đơn vị phát triển năng lượng tái tạo (hợp đồng tài chính dạng chênh lệch) với sản lượng và giá thỏa thuận (giá cố định) Hợp đồng này cho phép đơn vị phát điện và khách hàng hoán đổi giữa giá cố định (do khách hàng trả cho đơn vị phát triển dự án) và giá thị trường điện giao ngay (được nhận bởi đơn vị phát triển dự án và trả lại cho khách hàng tương ứng với sản lượng thỏa thuận trong hợp đồng PPA);
- Khách hàng cũng nhận được chứng chỉ NLTT tương ứng với sản lượng
thỏa thuận trong hợp đồng PPA;
- Khách hàng tiếp tục mua điện để đáp ứng 100% nhu cầu sử dụng của mình từ đơn vị bán lẻ điện thông qua hợp đồng hiện hành với giá bán lẻ cố định;
- Đơn vị phát điện NLTT chào giá và bán vào thị trường giao ngay NEM theo quy định thị trường điện như các loại hình công nghệ khác và nhận doanh thu giao ngay từ thị trường tương ứng với sản lượng phát được vào thị trường
Hình 1 8: Mô hình Synthetic PPA (Virtual PPA) tại Úc
Trang 34Trong cơ chế hợp đồng này, khách hàng sẽ có thỏa thuận trực tiếp với đơn
vị phát triển dự án năng lượng tái tạo thông qua hợp đồng tài chính dạng chênh
lệch CfD mà không cần thông qua đơn vị bán lẻ điện, mô hình chi tiết của cơ chế này được thể hiện tại Hình 1.8 Nhược điểm của mô hình này là Khách hàng có
thể chịu rủi ro khi giá thị trường giảm thấp mà có thể không tương ứng với sự thay đổi của giá bán lẻ điện mà khách hàng phải mua từ đơn vị bán lẻ Để khắc
phục nhược điểm trên, tại Úc còn tồn tại một dạng cơ chế giao dịch tương đối
phổ biến được gọi là “Modified Virtual PPA” (hợp đồng Virtual hiệu chỉnh), với
một điểm điều chỉnh so với cơ chế hợp đồng “Virtual PPA” như sau:
Hình 1 9: Mô hình Modified Virtual PPA
Khách hàng mua điện để đáp ứng 100% nhu cầu sử dụng của mình từ đơn
vị bán lẻ điện thông qua hợp đồng hiện hành với một phần sản lượng theo giá bán
lẻ cố định và một phần sản lượng theo giá thị trường thay vì 100% sản lượng theo giá bán lẻ điện Các giao dịch khác không thay đổi so với cơ chế hợp đồng
“Virtual PPA” ở trên Với việc điều chỉnh này, khách hàng đã chuyển được một
phần rủi ro khi giá thị trường biến động giảm thấp sang đơn vị bán lẻ điện bằng
việc chi trả giá thị trường điện trong một phần sản lượng tiêu thụ của mình được
thể hiện trong hợp đồng bán lẻ Thời hạn của hợp đồng bán lẻ điện tại Úc thường
từ 01 – 03 năm, khách hàng và đơn vị bán lẻ có thể thỏa thuận điều chỉnh sản lượng tiêu thụ theo giá thị trường sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc
Trang 351.4.2.2 Kinh nghiệm áp dụng DPPA tại Singapore
Thị trường điện giao ngay NEMS là mô hình thị trường điện tập trung (gross pool) gồm các giao dịch về điện năng, chào giá theo chi phí toàn phần (price base), chu kì chào giá và điều độ là 30 phút, định giá trước vận hành (ex-ante) theo giá nút (LMP) Nguyên tắc lập lịch huy động là đồng tối ưu (Co-optimization) giữa điện năng trong thị trường năng lượng và công suất dự phòng quay và công suất điều tần
- Trong thị trường NEMS áp dụng dụng các loại giá sau:
+ Giá biên nút (nodal price): xác định cho 1000 nút trên lưới truyền tải,
phản ánh mức độ hạn chế công suất tải điện và tổn thất điện năng trên đường dây Giá nút được áp dụng để thanh toán cho lượng điện năng phát các công ty phát điện, và tạo tín hiệu địa điểm cho các nhà đầu tư
+ Giá bình quân hệ thống (Uniform Singapore Energy Price – USEP): giá
trị bình quân gia quyền của giá tại các nút phụ tải, áp dụng cho bên mua điện, đảm bảo tính bình đẳng cho tất cả các khách hàng của NEMS
+ Giá công suất dự phòng
+ Giá công suất điều tần
Các mức giá điện trên được xác định trên thị trường theo chu kỳ 30 phút,
dựa trên các bản chào giá của phía phát điện và nhu cầu phụ tải của hệ thống Giá công suất dự phòng và công suất điều tần được tính toán theo phương pháp đồng
kiến phát và nhận thanh toán theo giá thị trường điện
Cơ quan quản lý năng lượng của Singapore (EMA) đã tăng cường khung pháp lý để phù hợp với việc đưa các nguồn phát không liên tục (điện mặt trời)
Trang 36vào thị trường điện quốc gia của Singapore, song song với đó là việc phát triển
mạnh một vài loại hình hợp đồng mua bán điện năng lượng tái tạo dài hạn khác nhau Các thỏa thuận này không chỉ làm giảm rủi ro cung cấp năng lượng và biến động giá liên quan đến nhiên liệu hóa thạch, mà còn có thể giúp các tập đoàn tuân thủ các quy định về môi trường và giảm giá carbon
Với tình trạng khan hiếm đất, các dự án năng lượng tái tạo tại Singapore
chủ yếu là các dự án tích lũy năng lượng sạch từ những pin mặt trời áp mái nằm trên khắp hòn đảo cho phép khách hàng mua được nhiều năng lượng tái tạo hơn
so với nếu chỉ bị giới hạn trong phạm vi cơ sở của chính mình Do đó, việc cho thuê năng lượng mặt trời là mô hình PPA chiếm ưu thế được các nhà cung cấp
giải pháp năng lượng mặt trời có trụ sở tại Singapore áp dụng Chủ yếu có hai
loại cho thuê năng lượng mặt trời: tại chỗ và ngoài địa điểm
DPPA tại chỗ: Cho thuê năng lượng mặt trời PPA tại chỗ liên quan đến việc
lắp đặt hệ thống quang điện mặt trời ("PV") trên tầng thượng của tòa nhà tiêu dùng Người tiêu dùng chỉ được yêu cầu trả tiền cho năng lượng mặt trời được
tạo ra và tiêu thụ ở một mức giá thỏa thuận cố định hoặc tỷ lệ thay đổi dựa trên
mức chiết khấu cố định so với giá điện hiện hành PPA năng lượng mặt trời thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 25 năm Một mô hình như vậy đặc biệt phù hợp ở các thành phố đô thị dày đặc như Singapore, vì nó đòi hỏi sử
dụng đất tối thiểu
DPPA ngoài địa điểm: Khác với DPPA tại chỗ, việc cho thuê năng lượng
mặt trời ngoài khu vực không liên quan đến việc lắp đặt hệ thống PV năng lượng
mặt trời trên nóc nhà của các tòa nhà tiêu dùng Thay vào đó, năng lượng mặt trời được khai thác từ các trang trại trên tầng thượng mà nhà cung cấp năng lượng sở
hữu ở các khu vực khác của Singapore Một thỏa thuận cho thuê năng lượng mặt
trời ngoài khu vực phù hợp cho người tiêu dùng không muốn hoặc không thể lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà của chính họ
Bất kỳ lượng năng lượng mặt trời dư thừa nào đều được xuất khẩu vào lưới
với giá bán buôn và được bán ra cho khách hàng khác, nơi có cam kết sử dụng năng lượng sạch Đa phần mô hình DPPA được phát triển là dạng sleeved DPPA (DPPA môi giới) Các giao dịch chính trong một mô hình này như sau:
Trang 37- Khách hàng ký hợp đồng với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với giá
và sản lượng cố định, đồng thời được nhận chứng nhận năng lượng tái tạo (REC)
- Đơn vị phát năng lượng tái tạo ký hợp đồng với Cơ quan truyền tải để được phép sử dụng mạng lưới truyền tải điện tới khách hàng, đồng thời đăng ký
với Công ty thị trường năng lượng (EMC) để bán điện vào thị trường với giá nút
- Khách hàng ký hợp đồng với đơn vị bán lẻ điện để sử dụng năng lượng tái
tạo cũng như đảm bảo việc cân bằng nhu cầu của mình Đơn vị bán lẻ điện sẽ bán thêm điện cho khách hàng khi có nhu cầu với giá bán lẻ điện
1.4.2.3 Kinh nghiệm áp dụng DPPA tại California – Mỹ
Tiêu chuẩn danh mục đầu tư năng lượng tái tạo (RPS) đã trở thành chính sách cấp tiểu bang phổ biến nhất để hỗ trợ năng lượng tái tạo ở Hoa Kỳ Theo RPS, các đơn vị bán lẻ điện được yêu cầu mua số lượng hoặc phần trăm ngày càng tăng năng lượng tái tạo theo thời gian RPS là chính sách quan trọng nhất kích thích tăng thêm một lượng lớn các nguồn năng lượng tái tạo của Hoa Kỳ
Tại bang California thực hiện RPS với mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng tái
tạo của California lên 33% vào năm 2020, 50% vào năm 2030 và ít nhất là 75% năng lượng được sử dụng phải đến từ các nguồn tài nguyên bên trong - và/hoặc ở các tiểu bang liền kề với California Cơ chế RPS được Chính quyền California đưa ra từ năm 2002, được đẩy mạnh vào năm 2006 với mục tiêu RPS ban đầu là 20% vào năm 2010 và đã thành công đúng hướng
Các nguồn năng lượng tái tạo đóng góp vào mục tiêu RPS của California
tới năm 2018 chủ yếu là điện mặt trời, điện gió, địa nhiệt, thủy điện nhỏ, nhiên
liệu sinh học và pin lưu trữ năng lượng
Điện gió và điện mặt trời sẽ tiếp tục mở rộng nhanh chóng trong thời gian
tới ở Bang California theo chính sách giảm thiểu khí thải CO2 để chống biến đổi khí hậu của Chính phủ Hoa Kỳ California là bang đã đặt mục tiêu 100% không
có carbon vào năm 2050
Để đáp ứng được các cam kết về biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, các doanh nghiệp, tập đoàn/ công ty tại Mỹ không ngừng tìm kiếm các giải pháp để nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng tái tạo để có thể cung cấp 100% năng lượng tái tạo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình hoặc cho các đối tác trong chuỗi cung ứng (supply chain) của mình Trong nhiều cơ
Trang 38chế mua NLTT của các doanh nghiệp Mỹ, cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa doanh nghiệp (khách hàng) với các đơn vị phát điện NLLT được đánh giá là mang lại nhiều thành công trong giai đoạn gần đây, tính đến năm 2018 đã có 18.141 MW các dự án NLTT được giao dịch thành công thông qua cơ chế này và theo dự báo quy mô sẽ tăng lên khoảng 35.141 MW vào năm 2025
M ột số cơ chế hợp đồng điển hình như sau:
(i) Hợp đồng mua bán điện tiếp cận trực tiếp (Direct Access)
Hình 1 10: Mô hình cơ chế mua bán điện tiếp cận trực tiếp tại Mỹ
Theo cơ chế này, Khách hàng sử dụng một cơ chế do Chính phủ quản lý mang tên “Tiếp Cận Trực Tiếp” để cung cấp 100% năng lượng tái tạo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Khi kết hợp với một hợp đồng mua bán điện trực tiếp được đàm phán song phương với một đơn vị phát triển dự án, cơ chế này cho phép các bên mua là doanh nghiệp lớn mua năng lượng tái tạo từ một nguồn điện cụ thể trên lưới điện và theo dõi lượng điện gộp chung (bundled power) từ khâu sản xuất, truyền tải, cho đến giao tại điểm phụ tải điện của doanh nghiệp mua
Khách hàng thực hiện cơ chế giao dịch tiếp cận trực tiếp này thông qua hai
hợp đồng:
Hợp đồng mua bán điện trực tiếp giữa khách hàng và đơn vị phát triển dự
án, qua đó hai bên đồng ý việc mua sản lượng điện NLTT và quyền đối với các công bố về môi trường liên quan, thời hạn của hợp đồng thường từ 10-15 năm;
Trang 39Hợp đồng giữa khách hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ điện của tiểu Bang (đơn vị phân phối/ bán lẻ), qua hợp đồng này, đơn vị cung cấp dịch vụ mua và bán điện từ dự án vào thị trường thời gian thực thay mặt cho Khách hàng Việc quy định một giá hợp đồng không đổi với bên phát điện trong hợp đồng mua bán điện trực tiếp cho phép khách hàng thông qua đơn vị cung cấp dịch vụ phòng vệ
việc tăng giá điện khi bán trên thị trường bán buôn Về phần mình, đơn vị cung
cấp dịch vụ điện sẽ phối hợp với cơ quan cung cấp tiện ích /đơn vị vận hành hệ
thống điện truyền tải độc lập (ISO) để lập lịch giao điện theo thời gian thực đến công tơ điện của khách hàng, khách hàng thanh toán cho ISO phí truyền tải và cân đối Cuối cùng, khách hàng chấm dứt giấy nhận năng lượng tái tạo liên quan đến sản lượng điện của đơn vị phát điện NLTT (kể cả khi pháp luật có sự thay đổi trong thời hạn hợp đồng), tuy nhiên, chính quyền Bang có thể đưa năng lượng tái tạo trong chứng nhận năng lượng tái tạo của khách hàng vào mục tiêu
chứng nhận năng lượng tái tạo của Bang
(ii) Hợp đồng mua bán điện ảo (Virtual PPA)
Theo cơ chế này, bên mua điện (có thể là một hoặc nhiều khách hàng liên doanh với nhau, sau đây gọi là khách hàng) tham gia ký kết hợp đồng tài chính
dạng chênh lệch (CfD) bao tiêu với đơn vị phát triển dự án (có thể là 01 hoặc nhiều dự án NLTT) đối với các thuộc tính môi trường với giá cố định, thời hạn
hợp đồng thường từ 10 - 15 năm Hợp đồng này sẽ hỗ trợ việc phát triển và vận hành các dự án NLTT bằng cách cung cấp nguồn tài chính dài hạn dưới hình thức các khoản thanh toán hàng tháng cho đơn vị phát triển dự án (sau đây gọi là đơn
vị phát điện), theo các thuộc tính môi trường Còn trên thực tế, khách hàng không
nhận được nguồn điện nói trên từ dự án, bởi vì, hợp đồng mua bán điện ảo này
chỉ là một giao dịch tài chính thuần túy
Trang 40Hình 1 11: Mô hình c ơ chế mua bán điện ảo kết hợp tại Mỹ
Nguyên tắc giao dịch chính:
- Đơn vị phát điện tham gia trên thị trường điện giao ngay có tính thanh khoản cao và nhận doanh thu theo giá thị trường điện giao ngay cho 100% sản lượng điện phát lên lưới Đơn vị phát điện ký kết Hợp đồng CfD với khách hàng
và nhận doanh thu chênh lệch giữa giá thị trường điện giao ngay và giá cam kết
tại Hợp đồng CfD cho phần sản lượng điện được cam kết
- Thông qua hợp đồng CfD, nếu giá thị trường giao ngay vượt quá giá cố định trong hợp đồng, đơn vị phát điện sẽ bù đắp cho khách hàng phần chênh lệch giá (chuyển phần doanh thu vượt giá thị trường cho các bên bao tiêu); nếu giá thị trường giao ngay thấp hơn giá hợp đồng, khách hàng sẽ bù đắp cho đơn vị phát điện phần chênh lệch giá Hợp đồng mua bán điện ảo cho phép khách hàng bù đắp mức tăng giá hóa đơn tiền điện trong tương lai bằng doanh thu từ việc bán điện thuộc dự án trên thị trường giao ngay
- Khách hàng và các đơn vị bán lẻ của mình vẫn duy trì hợp đồng mua bán điện như hiện tại để cung cấp điện cho nhu cầu tiêu thụ của khách hàng;
- Các thuộc tính môi trường được tạo ra theo các dự án sẽ được đăng ký và chuyển giao cho khách hàng, khách hàng sẽ sử dụng các thuộc tính môi trường
để bù đắp cho điện từ các nguồn hỗn hợp được hòa mạng mua từ đơn vị bán lẻ
của khách hàng