1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Bai 6 Truyen Kieu cua Nguyen Du Nghe thuat trong truyen Kieu

23 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 48,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Không chi tiết như khi tả Thuý Vân ,tả Kiều tác giả chỉ tập trung đặc tả đôi mắt.Đôi mắt đẹp như làn nước mùa thu được điểm tô bằng đôi mày thanh nhẹ ,tươi tắn như dáng núi mùa xuân.Ph[r]

Trang 1

A NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN ĐỜI SỐNG CỦA NGUYỄN DU:

I Tả cảnh thiên nhiên:

-Bút pháp của đại thi hào Nguyễn Du được coi là điêu luyện, tuyệt bút trong đó nghệ thuật tả cảnh tả tình được người đời sau khen ngợi “như máu chảy ở đầu ngọnbút” và “thấu nghìn đời”

-Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du nói chung rất đa dạng, tài tình và phong phú Chính nghệ thuật tả cảnh này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều

-Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một không gian với chân trời rộng Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời ( Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống, mờ xa tít tắp với vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu Ngưng Bích) Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn , bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông

-Ngoài ra, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều ngôn từ vũ trụ thi

ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù khơi, màu của rừng thu phải là màu quan san, khung trời thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa, đến túp lều cỏ bên song Tiền Đường cũng phải là “Một gian nước biếc mây vàng chia đôi” Bên cạnh

đó còn có những dặm vi lô hiu hắt, những bờ liễu loi thoi, những rừng phong quan tái Rồi đến cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu , gió cây trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong Truyện Kiều những giờ phút chia phôi, những lúc bước chân ngập ngừng, những lúc tâm hồn phân tán… Dường như nhà thơ muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong hình ảnh non phơi bóng vàng, cái nhìn

đo lường kích thước cuộc sống hằng ngày để xác định vị trí,tầm sống của mình trước cuộc đời

-Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật chính hoặc phụ ẩn chứa trong đó Nói một cách khác, Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luônđem cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật Điều này khiến chocảnh vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào

Trang 2

đó Chính Nguyễn Du đã tự thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua hai câu thơ:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Trong khuynh hướng này, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn các thi nhân khác, kể cả những thi sĩ Tây Phương, vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngụ tình Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều, nghĩa là chỉ tìm những cảnh vậtnào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào , còn Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh , tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời giữa cảnh và người, giữa cái vô tri và cái tâm thức

để tuy hai mà một, tuy một mà hai

-Ví dụ: +Khi chị em Kiều đi lễ Thanh Minh về , tới bên chiếc cầu bắc ngang một dòng sông nhỏ gần mả Đạm Tiên , thì cả người lẫn cảnh đếu cảm thấy nao nao tấc dạ trong buổi chiều tà :

“Nao nao dòng nước uốn quanh Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

“Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lững lờ của dòng nước trôi dưới chân cầu.

+Khi Thuý Kiều và Kim Trọng phải tạm xa nhau thì dòng sông kia bỗng sao trở thành kẻ khắt khe để chia rẽ duyên tình:

“Sông Tương một giải nông sờ Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia”

+Hay khi Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì cảnh nhà bây giờ thật sa sút :

“ Một sân đất cỏ dầm mưa

Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường”

Sân ngoài cỏ hoang mọc dại, ướt dầm dưới cơn mưa, tiêu điều như nỗi buồn tênh trong lòng chàng.

Trang 3

+Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm, tâm trạng nàng lại khác:

“ Buồn trông cửa biển chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Lúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri, thì lòng nàng cũng chẳng thực sự

là vui mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:

“ Gió chiều như giục cơn sầu

Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu”

Lúc thất vọng não nề , muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần, tâm sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn , chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:

“ Mảnh trăng đã gác non đoài Một mình luống những đứng ngồi chưa xong”

+Khi chị em Kiều đi viếng mộ Đạm Tiên, thì cảnh vật cũng theo đó đìu hiu

ảm đạm, cơn gió lay động một vài cành lau trên vùng cỏ mờ nhạt theo sương chiều :

“Một vùng cỏ áy bóng tà Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.”

-Màu sắc trong Truyện Kiều còn là màu sắc của tình cảm Đó là những màu quan

san, màu quan tái, màu khơi trêu , màu của nỗi nhớ “Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà” Hay “Trời cao trông rộng một màu bao la” Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nắm bắt sắc màu của sự vật mà còn nắm bắt

và diễn tả cả sắc màu tình cảm nhuốm đậm lên cảnh vật, không gian làm cho

phong cảnh trở nên sinh động, có hồn …

II.Ngôn ngữ:

1)Ngôn ngữ bác học:

-Tính chất ước lệ trong ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều có phần là do cách điệu

hoá của loại hình thơ lục bát, với số chữ và vần điệu chặt chẽ Nhưng chủ yếu nó là

Trang 4

một đặc điểm có tính chất loại biệt trong nghệ thuật biểu hiện của văn học phongkiến.

Khá nhiều trường hợp trong Truyện Kiều, tính chất cách điệu hoá của ngôn ngữ

nhân vật được đẩy lên rất xa, mà chúng ta không thể nào tìm thấy trong ngôn ngữcủa đời sống hàng ngày

- Chúng ta gặp khá nhiều điển cố trong lời nói nhân vật: Thuý Kiều nói với Kim

Trọng việc nhân duyên của nàng là do cha mẹ định đoạt, đã dùng điển tích “lá thắm chỉ hồng”, khi nàng khuyên cha để nàng bán mình, Kiều lại nhắc đến tích

“nàng Oanh ả Lý” Có nhiều điển cố khác nữa trong ngôn ngữ nhân vật.

Dùng điển cố có tác dụng làm cho ngôn ngữ súc tích, bác học hơn Nó mở ranhững cuộc đời nhiều khi phong phú đằng sau vài ba chữ, nhưng mặt khác nó khóhiểu và có thể làm giảm sức rung cảm ở người đọc.Ngòi bút tài năng và sáng tạocủa Nguyễn Du thường đã vượt qua được những trở ngại ấy, và chúng ta vẫn cónguyên vẹn những cảm giác và xúc động khi lắng nghe tiếng nói của nhân vật Bởi

vì những điển cố Nguyễn Du được chọn lọc rất chu đáo, có khi nó trở thành phổbiến trong đời sống văn học Việt Nam, có khi do tương quan về văn cảnh nênchúng ta vẫn có ý niệm đầy đủ về nó, mặc dù chưa thật hiểu hết nó

-Bên những điển tích, các nhân vật Truyện Kiều còn nói nhiều câu lấy ý trong các

bài thơ cũ Thuý Vân khuyên chị nối lại tình xưa với chàng Kim đã nói:

“Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời.”

Chính là những lời lấy trong bài “Phiếu hữu mai” của Kinh Thi

-Một đặc điểm về tu từ của việc dùng từ ngữ Hán Việt là làm tăng phần trang

trọng, tạo một không khí cổ kính Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều có nhiều

yếu tố Hán Việt Nhưng phổ biến hơn cả là việc sử dụng các hình thức ẩn dụ,

hoán dụ Hình thức đơn giản nhất của hoán dụ trong Truyện Kiều là dùng

những từ ngữ có tính chất quy phạm thay thế những từ ngữ thông tục: như

dùng “khuôn thiêng” chỉ trời; “lượng xuân”, “cỗi xuân” chỉ bố mẹ; “bóng tùng quân” chỉ người chồng; “thân cát đằng” chỉ phận lẽ mọn; “mảnh hồng nhan”, “hồng quần” chỉ người phụ nữ… Và cao hơn, là một hệ thống ẩn dụ:

“Nàng rằng: chiếc bách sóng đào, Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may?

Chút thân quằn quại vũng lầy, Sống thừa, còn tưởng đến rầy nữa sao?

Cũng liều một giọt mưa rào,

Trang 5

Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!

Xót vì cầm đã bén dây, Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta…”

Và để thích ứng với một đối tượng phản ánh như vậy, mỹ học phong kiến chọncho nó một phương thức biểu hiện thiên về tính chất ước lệ, tượng trưng Nó đemcái trang trọng, hài hoà, có tính chất quy phạm thay thế cho sự sinh động, sắc cạnh,độc đáo trong việc nhận thức và tái hiện cuộc sống

->Chúng ta có thể nêu lên một kết luận ở đây là: ngôn ngữ có nhiều tính chất ước

lệ trong Truyện Kiều chủ yếu được sử dụng cho các nhân vật chính diện.

2) Ngôn ngữ bình dân:

-Nhân vật chính diện chỉ có một số đặc điểm chính nhưng nhân vật phản diện thìtrái lại, nó “muôn hình nghìn vẻ”, các phương tiện hạn chế của nghệ thuật biểuhiện có tính chất ước lệ không thể dung nạp hết được, nó đòi hỏi phải được miêu tả

“dưới hình thức của bản thân đời sống” Đó là lý do tại sao khi miêu tả các nhânvật phản diện, Nguyễn Du lại miêu tả trần trụi, rõ nét với các từ ngữ rất bình dân

-Các nhân vật phản diện trong Truyện Kiều, so với các nhân vật phản diện trong

những truyện Nôm đương thời có bộ mặt hiện thực rõ rệt hơn

+ Khi Mã Giám Sinh đến nhà Thuý Kiều, theo sau có cả một lũ tôi tớ lau nhau:

“Trước thầy sau tớ lao xao Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng Buồng trong mối đã giục nang kíp ra”

Chính hành động y“ngồi tót sỗ sàng” lên ghế giữa đã bộc lộ một con người

không biết một tí lịch sự tối thiểu, xé tan cái mặt nạ giả dối của một kẻ có học thức, là học sinh trường Quốc Tử Giám trở về đúng bản chất- ông chủ lầu xanh

-Ở các nhân vật phản diện thuộc tầng lớp trên, nhà thơ quả có nể nang hơn, nhưng chúng ta cũng biết được mụ mẹ Hoạn Thư trong cái tư thế:

Ban ngày thắp sáp hai bên, Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Và viên quan “tổng đốc trọng thần” Hồ Tôn Hiến trong cái dáng điệu:

Nghe càng đắm, ngắm càng say,

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình…

Trang 6

-Khi bản chất của các nhân vật phản diện càng bộc lộ rõ rệt chừng nào thì ngônngữ của chúng càng hiện thực, càng sinh động chừng ấy Như đoạn mụ Tú Bàmắng Thuý Kiều đã bộc lộ bản chất của mụ rõ nét hơn:

Này này! Sự đã quả nhiên, Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.

Bảo rằng đi dạo lấy người, Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.

Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân, Buồn tình trước đã tần mần thử chơi!

Mầu hồ đã mất đi rồi, Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!

Con kia đã bán cho ta, Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây.

Lão kia có giở bài bây, Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe.

Cớ sao chịu tốt một bề, Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

Phải làm cho biết phép tao.

Qua những từ ngữ mụ dùng; những từ lắp lại “này này”, “thôi thôi”; những từ chửi mắng “con kia”, “lão kia”, “chẳng văng vào mặt”, “gái tơ mà

đã ngứa nghề sớm sao”; những từ có tính chất nghề nghiệp “đem về rước khách kiếm lời mà ăn” hay “thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma”, và cả câu sáu kết thúc đoạn nói một cách đột ngột, cả cái giọng đay nghiến, chì chiết trong toàn đoạn, chúng ta hình dung rất rõ con người lẫn tính khí của mụ Chúng ta như thấy mụ ngồi xếp bằng tròn trên giường đang hả hê với món buôn hời của Mã Giám Sinh thì bỗng nghe Thuý Kiều nói nàng lấy lẽ Mã Giám Sinh và

đã thất thân với hăn, thế là mụ đứng phắt dậy như bật lò xo, rồi nhảy tót xuống đất; tiếc tiền, mụ mắng nhiếc, xỉa xói hết Thuý Kiều đến Mã Giám Sinh…

->Tóm lại, chúng ta có thể nêu lên ở đây một kết luận thứ hai: ngôn ngữ có nhiềuthành phần hiện thực chủ nghĩa trong “Truyện Kiều” được sử dụng nhiều hơn chocác nhân vật phản diện Đối với các nhân vật chính diện, thì thành phần ước lệ

Trang 7

trong ngôn ngữ bị phá vỡ dần và thành phần hiện thực chủ nghĩa được tăng cườngkhi con người đi sâu vào cuộc sống nhiều xung đột.

-Và trải qua nhiều song gió thì ngôn ngữ của Kiều cũng thay đổi

+Lần đầu tiếp xúc với Kim Trọng, một người từng làm xao xuyến trái tim non trẻ của Thuý Kiều:

“Người đâu gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không”

Thuý Kiều đã ăn nói duyên dáng tình tứ biết bao! Cái ngôn ngữ của nàng thể hiệnrất đúng tâm lý của nàng.Nó đầy trang nhã đúng cách của một tiểu thư có cuộcsống “êm đềm”

Về sau, bước chân vào sóng gió, tính cách của Thuý Kiều có biến chuyển.Từ khidấn thân vào cuộc đời ô nhục, Kiều luôn luôn phải chống đỡ lại, không phải với

một con người nào, mà với cả một xã hội bất nhân tàn bạo Ở đây, lời nói của Kiều không còn hồn nhiên như trước, mà thường pha lẫn chua chát, mỉa mai:

Nhưng tôi có sá chi tôi, Phận tôi đã vậy vốn người để đâu.

Thân lươn bao quản lấm đầu, Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

Một đặc điểm nữa trong ngôn ngữ Thuý Kiều là rất tinh tế, chính xác trongviệc vận dụng từ ngữ Thuý Kiều là một cô gái rất tinh tế Việc dùng từ này màkhông dùng từ khác, đối với Kiều, nhiều khi có một ý nghĩa sâu sắc

Nhiều người đã phân tích từ “cậy” và từ “chịu” trong lời nói của Kiều khi nàngnhờ Thuý Vân thay mình lấy Kim Trọng: “cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên chochị lạy rồi sẽ thưa…”

Cũng là tình yêu cả, nhưng khi nói đến tình yêu của nàng đối với Thúc Sinh, Kiều chưa bao giờ gọi đó là “tình”, mà Kiều gọi đó là “nghĩa”:

Đôi ta chút nghĩa đèo bòng, Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.

hay là:

Nàng rằng: nghĩa trọng ghìn non, Lâm Truy người cũ chàng còn nhớ không?

Trang 8

Và điều ấy không lạ Bởi vì ngay từ đầu, Kiều chỉ yêu cầu trong mối quan

hệ của nàng với Thúc Sinh một “tình thương”, chứ không phải là một “tình yêu”:

Thương sao cho vẹn thì thương, Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng.

Còn trái lại, đối với Kim Trọng, thái độ của Kiều khác hẳn Kiều gọi Kim Trọng là “người tình chung”, là “người yêu” Khi thất thân với Mã Giám Sinh, Kiều nghĩ:

Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

Và khi tái hồi Kim Trọng, Kiều thốt lên:

Người yêu, ta xấu với người, Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.

Chúng ta còn thấy cái tinh tế, chính xác ấy cả khi nàng cay đắng và tự hào nói với Kim Trọng:

Chữ trinh còn một chút này, Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan…

Nhìn chung, việc vận dụng ngôn ngữ nhân vật để góp phần cá thể hoá nhânvật là một đặc điểm trong Truyện Kiều, ở nhân vật chính diện cũng như nhân vậtphản diện; nhưng sắc sảo hơn là ở các nhân vật phản diện

Về tính cách Hoạn Thư, Thuý Kiều đã nhận xét khá chính xác:

Người đâu sâu sắc nước đời…

Khi bị xử tội trước toà án Thuý Kiều, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu” mà nói nămg vẫn bình tĩnh, mực thước, không tỏ vẻ gì sợ sệt:

Rằng: tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,

Nghĩ cho khi các viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng riêng những kính yêu, Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

Trót lòng gây việc chông gai,

Trang 9

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng…

B BÚT PHÁP MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN

I Nh ận xét chung:

1 Miêu tả

- Miêu tả là bút pháp khá quen thuộc đối với rất nhiều nhà văn, nhà thơ.

- Có rất nhiều bút phát miêu tả: có thể là tả cảnh, tả người … tả trực tiếp, gián

tiếp, …

2 Miêu tả thiên nhiên

- Miêu tả thiên nhiên vốn không phải là chủ đề riêng của Nguyễn Du mà nó là

chủ đề chung của thi sĩ muôn đời

- Miêu tả thiên nhiên giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm,

tính chất nổi bật của sự vật, phong cảnh, hiện tượng tự nhiên … xung quanh

ta, làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe

 Mỗi bài văn, bài thơ thêm cụ thể hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn

3 Thiên nhiên trong “Truyện Kiều”

- Là một bức tranh chân thực, góp phần trang trí, làm cho đời sống bớt khô

khan, sinh động hơn

- Với Nguyễn Du, thiên nhiên không phải mục đích chính, nhưng nó cũng là

một yếu tố góp phần vào thành công của kiệt tác truyện Kiều

II Bi ểu hiện:

1 Miêu tả thiên nhiên đ ể làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên :

- Lối tả trực tiếp (tả chân) đây là cách tả thực, tả thuần tuý với những bức hoạ

xinh đẹp, tươi tắn hoặc có khi buồn hiu hắt nhưng không ngụ tình, được viết

Trang 10

theo lối văn tinh xảo, chỉ cần một vài nét phác hoạ với những điểm chính hiệnhữu.

- Thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân

Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng

 Chỉ với đôi nét chấm phá, qua ngòi bút tài hoa của nhà nghệ sĩ, cả một bức tranh xuân bừng sáng hiện lên.

 Cảnh mùa thu:

“Long lanh đáy nước in trờiThành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.”

hơi nước toả lên như những sợi khói lam trong hoàng hôn hắt bóng

Bức tranh thiên nhiên trong “Truyện Kiều” khá phong phú: Khi tả cảnh bốn mùa, ông tập trung vào cảnh vật, từ đó nêu ra nét đặc trưng của từng mùa

b Cảnh chiều tà:

Trang 11

“Một vùng cỏ áy bóng tàGió hiu hiu thổi một vài bông lau”

- Màu cỏ úa vàng trải trên diện rộng “một vùng”

- Cơn gió đìu hiu lay động một vài cành lau.

 Nỗi buồn thấm đượm cả không gian, lan sang cây cỏ

2 Miêu tả thiên nhiên g ắn với con người, làm nền cho tâm trạng con người:

a Khi người vui, cảnh vui:

 Khi chị em Kiều du xuân

“Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân, Ngừa xe như nước áo quần như nêm.”

 Lễ hội mùa xuân nhộn nhịp nam thanh nữ tú, trai thanh gái lịch vai sánh vai,chận nối chân nhịp bước, tưng bừng, tấp nập ngựa xe như dòng nước cuốn, áoquần đẹp đẽ, thướt tha đống đúc "như nêm" trên các nẻo đường

 Khi Kim Trọng đến

“Dưới cầu nước chảy trong veoBên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.”

- Nước dưới cầu trong veo như phản chiếu sắc sáng của trời xuân, hàng liễu

buông tơ như muốn níu lại bóng chiều và bóng chiều như quấn quýt không muốn rời xa ánh sáng

b Khi buồn, cảnh buồn theo:

 Chị em Kiều gặp mộ Đạm Tiên trong buổi chiều tà

“Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Ngày đăng: 07/12/2021, 02:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w