1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thất bại của Uber khi thâm nhập thị trường Đông Nam Á

23 787 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU.................................................................................................................1PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ UBER......................................................................21.1 Quá trình hình thành ......................................................................................21.2 Quy mô hoạt động............................................................................................31.3 Đặc điểm doanh nghiệp...................................................................................41.3.1 Lĩnh vực hoạt động...................................................................................41.3.2 Mô hình kinh tế chia sẻ ............................................................................4PHẦN II: PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐÔNG NAM Á 72.1 Phân tích môi trường kinh doanh khu vực Đông Nam Á .............................72.1.1 Nhân khẩu học và văn hóa .......................................................................72.1.2 Chính trị và luật pháp ..............................................................................82.1.3 Kinh tế ....................................................................................................102.1.4 Công nghệ ..............................................................................................112.1.5 Cạnh tranh..............................................................................................122.2 Lựa chọn phương thức thâm nhập...............................................................132.2.1 Phương thức cung ứng dịch vụ ..............................................................132.2.2 Phương thức thâm nhập thị trường Đông Nam Á..................................15PHẦN III: THẤT BẠI CỦA UBER TẠI ĐÔNG NAM Á...............................163.1 Nguyên nhân..................................................................................................163.2 Kết quả............................................................................................................183.3 Bài học kinh nghiệm......................................................................................19KẾT LUẬN...........................................................................................................21TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................22

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ UBER 2

1.1 Quá trình hình thành 2

1.2 Quy mô hoạt động 3

1.3 Đặc điểm doanh nghiệp 4

1.3.1 Lĩnh vực hoạt động 4

1.3.2 Mô hình kinh tế chia sẻ 4

PHẦN II: PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐÔNG NAM Á 7 2.1 Phân tích môi trường kinh doanh khu vực Đông Nam Á 7

2.1.1 Nhân khẩu học và văn hóa 7

2.1.2 Chính trị và luật pháp 8

2.1.3 Kinh tế 10

2.1.4 Công nghệ 11

2.1.5 Cạnh tranh 12

2.2 Lựa chọn phương thức thâm nhập 13

2.2.1 Phương thức cung ứng dịch vụ 13

2.2.2 Phương thức thâm nhập thị trường Đông Nam Á 15

PHẦN III: THẤT BẠI CỦA UBER TẠI ĐÔNG NAM Á 16

3.1 Nguyên nhân 16

3.2 Kết quả 18

3.3 Bài học kinh nghiệm 19

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong quá trình kinh doanh quốc tế, thâm nhập vào những thị trường mới là điều tất yếu Việc này đóng vai trò như một cánh cửa giúp doanh nghiệp mở ra những cơ hội mới để có thể tiếp cận tới nhiều thị trường hơn Tuy nhiên, từng thị trường lại có những yêu cầu đặc thù, do đó việc một doanh nghiệp có thể thành công thâm nhập và đứng vững

ở một thị trường hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Đã có không ít những doanh nghiệp vấp phải thất bại cay đắng khi đặt chân đến những vùng đất mới và đó đều là những bài học đắt giá cho người đi sau Lý do đằng sau những sự thất bại đó cũng rất đa dạng, có doanh nghiệp vì quy mô quá nhỏ nhưng lại mơ mộng quá lớn, có doanh nghiệp còn non về kinh nghiệm nhưng đã vội vàng muốn đi xa

và cũng có những doanh nghiệp dù đã là những kẻ lão làng nhưng vẫn gặp quá nhiều trở ngại để thành công khi đến những thị trường mới

Thất bại của Uber khi thâm nhập vào thị trường Đông Nam Á cũng là một trong những câu chuyện điển hình mà người ta thường nhắc đến Đây là câu chuyện về một gã khổng lồ lão làng nhưng lại chào thua trước một start-up bé nhỏ và ít kinh nghiệm Nhận thấy đây là một case study đem lại nhiều kinh nghiệm bổ ích, nhóm chúng em đã lựa chọn

để đi vào nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, dù đã cố gắng hoàn thiện nhưng những sai sót là không thể tránh khỏi, vì vậy nhóm chúng em xin nhận mọi ý kiến đóng góp để hoàn thiện bài báo cáo Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến cô ThS Nguyễn Hồng Hạnh đã hướng dẫn giúp đỡ định hướng đề tài nghiên cứu này

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ UBER

1.1 Quá trình hình thành

Theo nhiều nguồn tin, ý tưởng cho sự ra đời của Uber nảy ra khi cả hai người sáng lập là Garrett Camp và Travis Kalanick không thể gọi taxi trong một đêm mưa tuyết tại Paris Khi đó, họ đang tham dự hội nghị công nghệ LeWeb hàng năm tại châu Âu Trong thời điểm lên ngôi của các thiết bị di động tại hội nghị, Camp đã bắt đầu mong muốn xây dựng một ứng dụng trên điện thoại thông minh giúp đơn giản hóa quá trình tìm kiếm xe

Sau khi trở về San Francisco, Camp đã suy nghĩ về ý tưởng này rất nhiều để rồi đi đến quyết định mua lại tên miền UberCab.com và mời người bạn thân của mình là Kalanick cùng thực hiện ý tưởng Tuy nhiên, dù đặt ra trước mắt Kalanick là những món hời từ thị trường xe công nghệ, anh không vội vàng đồng ý ngay mà phải mất đến gần 2 năm để suy nghĩ về đề nghị trở thành giám đốc điều hành của Uber Lý do là bởi sự thất bại trong 2 start-up đầu tiên đã làm Kalanick có phần ngần ngại khi một lần nữa dấn thân vào lĩnh vực này

Cuối cùng, Uber được thành lập dưới cái tên UberCab vào tháng 3 năm 2009 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2010 Khởi đầu chỉ với một chiếc taxi và vài nhân viên, UberCab đã tạo ra một trang mới trong cho nền dịch vụ vận tải Ban đầu, dịch

vụ hướng chủ yếu vào đối tượng phục vụ là khách hạng sang như các giám đốc điều hành tại thung lũng Silicon và xung quanh khu vực San Francisco Khi ấy, khách hàng muốn

sử dụng dịch vụ phải gửi email cho Kalanick để nhận mã truy cập vào ứng dụng Sau khi nhập thông tin thẻ tín dụng của họ trên ứng dụng, khách hàng có thể đặt một chiếc xe chỉ bằng một nút bấm Chi phí đi xe được tự động trừ vào tài khoản tín dụng của khách hàng Uber giữ 20% tổng cước phí, tài xế giữ phần còn lại

Nhưng khi số lượng khách hàng ưa chuộng ứng dụng tăng lên chóng mặt, UberCab đã phải bỏ đi những thao tác này, họ chỉ cần nhập thông tin tài khoản ứng dụng, ngay lập tức dịch vụ đặt xe hiện ra cho phép họ gọi taxi chỉ bằng một phím chạm trên màn hình Khi đó điện thoại cũng đồng thời sở hữu vai trò như chiếc Pos di động Khi bấm nút, tài khoản tín dụng của khách hàng tự động bị trừ đúng chi phí đặt hàng và GPS

sẽ định vị trí của khách hàng để đến điểm đón ngay sau đó

Trang 4

1.2 Quy mô hoạt động

Những khoản đầu tư thường xuyên nhanh chóng đến từ các triệu phú đã góp phần nâng cao giá trị của Uber lên đáng kể Tháng 1/2011, hãng xe này gọi vốn thành công với con số 11 triệu USD trong vòng Series A để tăng trưởng và 37 triệu USD vào cuối năm

đó Chưa dừng lại ở đó, Shervin Pishevar - được biết đến là nhà đầu tư mạo hiểm khác của Uber nhận được tiềm năng phát triển mạnh mẽ đã quyết chí đầu tư vào hãng xe với tổng giá trị trên 20 triệu USD Tháng 8/2013, Vòng kêu gọi vốn trong Series C đã mang lại cho Uber số tiền khoảng 258 triệu USD và phát triển rộng ra các quốc gia Nam Á và châu Phi Đến Giữa tháng 6 năm 2014,vòng Series D chính là cơ hội hốt bạc tiếp tục của Uber khi hãng xe thành công trong việc kêu hội gọi vốn tốt lên đến 1.2 tỷ USD Cuối cùng, chỉ trong vòng 3 năm từ 2011 đến 2014, giá trị của Uber đã đã có một bước nhảy vọt từ 60 triệu lên mốc khoảng 17 tỷ USD

Cùng với vị trí trung tâm của giới đầu tư, Uber không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động lẫn loại hình dịch vụ cung cấp Vài tháng sau khi gọi vốn thành công lần đầu tiên, Uber mở rộng phạm vi ra khỏi San Francisco, bắt đầu lấn sân sang địa bàn NewYork Tháng 11/2011, Uber tiếp tục mở rộng ảnh hưởng tới châu Âu với điểm thử nghiệm đầu tiên là Paris Vào giữa năm 2013, UberX - một dịch vụ khác của Uber ra đời và bắt đầu xuất hiện trên thị trường Luân Đôn

Từ những năm 2014 đến 2016, những cơn mưa đầu tư đã đổ dồn về Uber tiêu biểu như kêu gọi thành công trên 3 tỷ Đô la Mỹ trong vòng Series E qua các năm Quỹ đầu tư khổng lồ giúp Uber làm được vận mệnh và mở ra cơ hội phát triển của xe công nghệ tại các thị trường toàn thế giới Doanh nghiệp bắt đầu tiếp cận những thị trường tiềm năng nhất của châu lục đông dân nhất như Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á Uber Cardo cũng ra đời trong thời điểm này Với sự phát triển mạnh mẽ, Uber đã tạo ra ra làn sóng di chuyển bằng công nghệ dành cho đa dạng đối tượng

Tính đến cuối năm 2014, Uber đã có 8 triệu người dùng và 160.000 lái xe, có mặt tại trên 250 thành phố của 50 quốc gia và được các nhà tư bản định giá ở 40 tỷ USD Hiện nay, Uber là một trong số ít các công ty công nghệ trên thế giới được định giá hơn 80 tỷ

đô la Uber đã nhận được khoản tài trợ vốn chủ sở hữu là 25,2 tỷ đô la và có mặt ở 633

Trang 5

thành phố trên toàn thế giới với số lượng người sử dụng Uber chạm mốc 110 triệu người khắp thế giới

1.3 Đặc điểm doanh nghiệp

1.3.1 Lĩnh vực hoạt động

Về bản chất, Uber không cung cấp dịch vụ vận tải, vì họ chỉ tạo ra nền tảng để bên cung cấp dịch vụ vận tải và bên sử dụng dịch vụ vận tải gặp nhau Nhiều ý kiến cho rằng Uber là đơn vị kinh doanh về công nghệ, hoạt động như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thương mại điện tử chứ không phải kinh doanh vận tải Tuy nhiên, trên thực tế, công ty này lại không đơn thuần chỉ kinh doanh phần mềm, cung cấp giải pháp công nghệ, mà còn trực tiếp thực hiện những hoạt động của một doanh nghiệp kinh doanh vận tải như: lưu trữ, quản lí thông tin hồ sơ của lái xe; tiếp nhận nhu cầu của khách, thực hiện việc cung cấp thông tin hai chiều cho lái xe và khách hàng: điều động xe, quyết định hành trình của xe; quyết định giá cước khi kết thúc chuyến đi Bên cạnh đó, các nguồn doanh thu khác của Uber còn đến từ các dịch vụ như giao đồ ăn (UberEATS), giao hàng (UberFreight, UberElevate),…

Trên thực tế, UberCab ban đầu cũng đã được định hướng để trở thành một công ty taxi Nhưng đến tháng 10/2010, Cơ quan Vận chuyển của thành phố San Francisco và Ủy ban Tiện ích bang California ra lệnh cho công ty phải ngưng hoạt động với lý do công ty không có giấy phép hoạt động ngành taxi Điều này khiến họ phải bỏ chữ “Cab” và thay đổi ý tưởng ban đầu đó của mình để trở thành Uber như hiện nay

Do đó, có thể nói ngắn gọn rằng Uber là một công ty công nghệ hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ vận tải theo yêu cầu, hay nói cách khác là cung cấp các dịch

vụ giao thông vận tải thông qua một ứng dụng công nghệ

1.3.2 Mô hình kinh tế chia sẻ

a Khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” (sharing economy)

Khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” bắt đầu manh nha từ năm 1995 tại Mỹ bằng dịch

vụ website thông tin cho thuê quảng cáo, người tìm việc, việc tìm người Tuy nhiên mô hình này chỉ thực sự phát triển vào 2008 khi nó được đưa ra bàn luận trên nhiều diễn đàn kinh doanh và thương mại điện tử Nó đã thực sự thay đổi cách người ta tìm kiếm và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ

Trang 6

Nền kinh tế chia sẻ thường đề cập tới những cách thức biến những tài sản không được sử dụng một cách triệt để thành những nguồn lực hữu ích Nói đơn giản, nền kinh

tế chia sẻ tạo ra giá trị hoặc tạo ra sự cộng tác bằng cách chia sẻ quyền sử dụng các tài sản hoặc dịch vụ nhàn rỗi Ví dụ, khách sạn cung cấp các tiện nghi phòng ốc ngắn hạn, taxi linh hoạt cung cấp phương tiện vận tải cho những người có nhu cầu Động lực chính cho nền kinh tế chia sẻ là công nghệ - bao gồm điện thoại thông minh, GPS, hệ thống thanh toán và đánh giá Việc “chia sẻ” những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển vượt ra khỏi biên giới Mỹ, lan rộng khắp châu Âu và toàn thế giới

Có thể thấy, nền kinh tế chia sẻ vừa tiết kiệm chi phí, giúp bảo vệ môi trường, tăng tính hiệu quả của nền kinh tế, giảm bớt sự lãng phí tài nguyên xã hội và sự dư thừa năng lực của các sản phẩm dịch vụ Và mô hình nền kinh tế chia sẻ dự đoán sẽ có những tiềm năng phát triển lớn mạnh hơn nữa trong tương lai, sẽ không chỉ là một thị trường ngách hay một hiện tượng nhất thời mà là tương lai của môi trường kinh doanh toàn cầu

b Uber với “nền kinh tế chia sẻ”

Uber là một cuộc cách mạng trong ngành vận tải trên toàn thế giới, đồng thời cũng

là một ví dụ điển hình về thành công trong “nền kinh tế chia sẻ” Bằng chứng là ở thời điểm hiện tại, Uber thực hiện 15 triệu chuyến đi mỗi ngày mà không cần thực sự sở hữu một chiếc taxi nào

Trên thực tế, bên cạnh mô hình kinh doanh, yếu tố công nghệ cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc giúp Uber đạt được những lợi thế nhất định về tốc độ, sự tiện lợi và giá dịch vụ Thông qua một ứng dụng của điện thoại thông minh, người dùng có thể đưa

ra yêu cầu về hành trình của mình và tài xế sẽ truy cập và phản hồi lại nhu cầu đó Khách hàng có thể đặt chuyến đi với các tài xế gần nhất, xem chính xác giá của họ là bao nhiêu

và theo dõi vị trí tài xế thông qua ứng dụng Tài xế có thể lựa chọn nhận chuyến đi hay không dựa trên điểm số của khách hàng; nếu họ từ chối, thì yêu cầu sẽ được chuyển sang cho tài xế tiếp theo gần khách hàng nhất Người dùng cũng có thể hủy các chuyến đi trước hoặc sau khi tài xế của họ đến, nhưng sẽ phải trả một khoản phí nếu hủy chuyến đi 2 phút sau khi đặt yêu cầu hoặc nếu họ mất 5 phút hoặc lâu hơn để gặp tài xế của họ

Trang 7

Một trong những điểm ưu việt của Uber so với taxi truyền thống là nó có sẵn thuật toán để tính toán chi phí dựa trên thời gian ước tính và khoảng cách di chuyển định vị bởi GPS Ngoài ra, trong khoảng thời gian đặc biệt như những ngày có thời tiết xấu, giờ cao điểm hoặc ngày lễ, họ tính phí nhiều hơn trên mỗi dặm, dựa trên số lượng tài xế có sẵn

và yêu cầu đi xe trong khu vực Đó là một trong những dòng doanh thu tạo ra lợi nhuận cao nhất của họ Uber cũng áp dụng mức giá dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào loại xe họ muốn đi, như là Economy, Premium, Extra Seats và một số loại khác

Sự thanh toán được thực hiện một cách tự động hóa với thẻ tín dụng của khách hàng Công ty sẽ giữ lại tiền hoa hồng cho mình và chuyển phần còn lại cho tài xế Theo

đó, để thu hút các tài xế mới và giữ lại những người hiện tại, Uber chỉ giữ 20 - 25% giá dịch vụ và phần còn lại là của các tài xế

Như vậy, bằng dịch vụ chia sẻ xe, Uber đã mang đến cơ hội sử dụng hiệu quả hơn những phương tiện giao thông, đặc biệt là khi chúng không hoạt động Đây là một cơ hội lớn cho những người sở hữu xe và muốn kiếm thêm thu nhập từ việc chia sẻ xe của mình với người khác thông qua hệ thống của Uber Chính những sự kết nối những người có nhu cầu với nhau đã giúp giải quyết việc hạn chế xe lưu thông ở một số nước vì vấn đề môi trường và xã hội

Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, mô hình kinh doanh của Uber còn quá mới lạ ở thời điểm đó, đến mức chưa có một luật lệ nào quy định cụ thể về hoạt động của họ Thậm chí, ngay khi Uber đã đạt được những thành công nhất định, người ta vẫn còn hoài nghi

và liên tục tranh cãi về hoạt động kinh doanh của hãng Đây chính là một trong số những yếu tố vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Uber khi tiến hành mở rộng quy mô ra nước ngoài

Trang 8

PHẦN II: PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐÔNG

NAM Á

2.1 Phân tích môi trường kinh doanh khu vực Đông Nam Á

Giai đoạn 2012 - 2014, Đông Nam Á được Uber đánh giá là một thị trường màu

mỡ với rất nhiều tiềm năng và cơ hội kinh doanh Tuy rằng vẫn có những khó khăn nhất định, nhưng Uber tin tưởng rằng với những thành công đã đạt được trước đó, việc chinh phục thị trường Đông Nam Á sẽ không quá khó khăn

2.1.1 Nhân khẩu học và văn hóa

a Nhân khẩu học

Theo số liệu từ Liên Hợp Quốc, tổng dân số của các nước Đông Nam Á năm 2012

là 611.910.589 người, chiếm 8,57% dân số thế giới, đứng thứ 3 ở khu vực Châu Á về dân

số Với tổng diện tích là 4.340.239 km2, mật độ dân số của Đông Nam Á là 155 người/km2 tuy nhiên phân bố dân cư không đồng đều Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên khá cao (1.25% vào năm 2012) nhưng đang có xu hướng giảm từ năm 2014 Tỉ lệ dân thành thị trung bình của khu vực rơi vào khoảng 50%

Cơ cấu dân số tương đối trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% nhưng số lượng người lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao còn hạn chế Độ tuổi trung bình ở khu vực là 30 tuổi

Biểu đồ dân số ĐNA 2011-2014 (theo World Bank)

Trang 9

b Văn hóa

Đông Nam Á là khu vực đa dân tộc, trong đó một số dân tộc phân bố rộng gây khó khăn cho quản lí, ổn định chính trị, xã hội các nước Bên cạnh đó, đây cũng là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới: Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản và Âu, Mĩ Tuy nhiên, phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của người dân Đông Nam Á vẫn có nhiều nét tương đồng Một trong số những so sánh về văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á có thể thực hiện được là so sánh các chỉ số theo mô hình Hofstede Có thể thấy các quốc gia Đông Nam Á thường có xu hướng cùng cao hoặc cùng thấp ở một tiêu chí

so sánh, mặc dù vẫn còn những ngoại lệ nhất định Trong đó, các đặc điểm chung nổi bật nhất ở các quốc gia Đông Nam Á là khoảng cách quyền lực lớn, tính cộng đồng cao và

xu hướng dài hạn do chịu ảnh hưởng nhiều từ Nho giáo

2.1.2 Chính trị và luật pháp

Các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế chính trị - luật pháp tại khu vực đó

20

34

64

32 100

Chỉ số theo mô hình Hofstede của một số quốc gia ĐNA

Trang 10

chủ lập hiến; Singapore và Myanmar có hình thức chính thể cộng hòa đại nghị; Việt Nam

và Lào theo thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa

Trong đó, có một số thành viên trong khu vực Đông Nam Á có nền chính trị chưa hẳn ổn định như Thái Lan (trong 66 năm đã xảy ra 33 cuộc đảo chính do có quá nhiều đảng phái chính trị), Myanmar, Philippines, Indonesia (do nạn tham nhũng nặng nề của giới cầm quyền xung quanh tổng thống và sự cách biệt quá lớn giữa các tầng lớp xã hội) Brunei, Singapore, Malaysia, Lào và Việt Nam là những nước có nền chính trị tương đối

“hầu hết các hệ thống pháp luật, thậm chí, Thái Lan, Philippines, Singapore - những nước không có đa số người Hồi giáo, vẫn coi luật Hồi giáo như là hệ thống pháp luật tách biệt"

Tuy nhiên, hầu hết hệ thống luật của các nước thuộc khu vực Đông Nam Á là dân luật (civil law) hay luật thành văn, khác với hệ thống thông luật (common law) hay luật bất thành văn Đặc điểm của luật thành văn là có phần chặt chẽ và cứng nhắc với các quy định đặt ra từ trước thay vì dựa vào các tiền lệ, án lệ để có tính mở và linh hoạt tương đối như luật bất thành văn Tuy nhiên, điểm ưu việt nổi bật của luật thành văn so với luật bất thành văn là sự minh bạch, dễ dàng nắm bắt, hiểu, áp dụng và có thể dự đoán được nếu

có sự nghiên cứu

Trang 11

2.1.3 Kinh tế

Đông Nam Á tập trung các nước đang phát triển (trừ Singapore) với cơ cấu kinh

tế nghiêng về nông nghiệp nhiều hơn GDP của cả vùng Đông Nam Á nói chung và từng nước ở Đông Nam Á nói riêng tăng trưởng tốt trong giai đoạn 2010-2013, trung bình đạt 5,5%/năm và sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới GDP đầu người của các nước nhìn chung thuộc nhóm trung bình thấp ngoài Singapore và Brunei do nông nghiệp vẫn đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế và mặt bằng chung trình độ của người lao động chưa cao

Trong những năm gần đây, kinh tế Đông Nam Á đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch

vụ, mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế này khác nhau giữa các quốc gia và tốc độ dịch chuyển còn khá chậm

Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã dần dần thay đổi để phù hợp với xu hướng thị trường Họ đã triển khai các nền tảng mua bán trực tuyến, theo dõi sản phẩm trực tuyến

và giao hàng nhanh hơn Ngoài ra, các công ty đã sử dụng các kênh kỹ thuật số để thực hiện thanh toán trực tuyến, sử dụng các bảng điều khiển kỹ thuật số để quản lý thanh khoản và đưa các nhà cung cấp vào các nền tảng số Điều này sẽ là một trong những yếu

tố đẩy nhanh tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế của các nước trong khu vực

9764.42

0 500 1000 1500 2000 2500 3000

Ngày đăng: 06/12/2021, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chỉ số theo mô hình Hofstede của một số quốc gia ĐNA - Thất bại của Uber khi thâm nhập thị trường Đông Nam Á
h ỉ số theo mô hình Hofstede của một số quốc gia ĐNA (Trang 9)
Tình hình kinh tế ĐNA theo GDP (theo IMF) - Thất bại của Uber khi thâm nhập thị trường Đông Nam Á
nh hình kinh tế ĐNA theo GDP (theo IMF) (Trang 11)
a. Cạnh tranh với loại hình vận tải truyền thống - Thất bại của Uber khi thâm nhập thị trường Đông Nam Á
a. Cạnh tranh với loại hình vận tải truyền thống (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w