các biện pháp kỹ thuật trồng để cho năng suất cao. Bên cạnh đó, do nhu cầu lớn trên thị trường, giá trị kinh tế rất cao làm cho nạn săn lùng khai thác quá mức trong nhiều năm, công tác bảo tồn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nguồn tài nguyên dược liệu quí này ngày càng cạn kiệt và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Đặc biệt, Tam thất đang có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, và hiện loài này đã nằm trong sách đỏ Việt Nam 20, 26. Việc nghiên cứu và phát triển cây Tam thất ở Việt Nam hầu như chưa được chú trọng nhiều, tuy nhiên qua thực tế cho thấy một số địa phương trong tỉnh Lào Cai có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp để phát triển loài cây này rộng rãi. Hơn nữa, trong Quyết định số 1976QĐTTg ngày 30102013 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã xác định rõ Tam thất là một trong những loại cây trồng được qui hoạch phát triển ở vùng khí hậu á nhiệt đới như một số huyện của Lào Cai 1. Vì vậy, Chúng tôi tiến hành thực hiện nhiệm vụ: Nghiên cứu xây dựng mô hình nhân giống, trồng cây Tam thất (Panax pseudoginseng Wall) tại huyện Si Ma Cai, Mường Khương tỉnh Lào Cai, đáp ứng mục tiêu bảo tồn gắn với phát triển lâu dài, đây là những vấn đề hết sức quan trọng cho trồng sản xuất và các nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời xây dựng được tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc loài Tam thất cho người dân nhằm mục đích bảo tồn và phục vụ các nhu cầu sử dụng dược liệu quý này một cách chủ động và bền vững.
Trang 1Trên thế giới các công trình nghiên cứu về Tam thất cũng khá toàn diện vềcác mặt phân loại cho đến thành phần hóa học, các đặc tính sinh lý - sinh thái,đặc biệt là về giá trị sử dụng Những nghiên cứu này đã tạo ra cơ sở khoa họccho việc gây trồng và phát triển loài cây này
Ở Việt Nam, nguồn dược liệu nói chung và Tam thất nói riêng chủ yếuđược nhập khẩu và khai thác từ mọc tự nhiên nên ngày càng giảm dần và chưađược quan tâm nghiên cứu gây trồng Kỹ thuật trồng cây Tam thất ở nước tacũng còn khá sơ sài, chưa có hệ thống, chưa tập trung theo hướng trồng thâmcanh có năng suất cao, đặc biệt là chưa gắn với từng vùng, từng địa phương vàtừng dạng lập địa cụ thể Đặc biệt là các biện pháp kỹ thuật trồng Tam thất,trong đó, đáng lưu ý về: Độ tán che thích hợp/hoặc không cần tàn che trực tiếp;
Trang 2chế độ bón phân; mật độ cây/m2; chế độ chăm sóc (bón phân, chế độ tưới, điềutiết độ tàn che, phòng trừ sâu bệnh hại ) là những vấn đề hiện nay chưa đượcgiải quyết cụ thể, nên cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh quy trình, cùngvới các biện pháp kỹ thuật trồng để cho năng suất cao.
Bên cạnh đó, do nhu cầu lớn trên thị trường, giá trị kinh tế rất cao làm chonạn săn lùng khai thác quá mức trong nhiều năm, công tác bảo tồn chưa đượcquan tâm đúng mức, dẫn đến nguồn tài nguyên dược liệu quí này ngày càng cạnkiệt và có nguy cơ bị tuyệt chủng Đặc biệt, Tam thất đang có nguy cơ tuyệtchủng trong tự nhiên, và hiện loài này đã nằm trong sách đỏ Việt Nam [20, 26]
Việc nghiên cứu và phát triển cây Tam thất ở Việt Nam hầu như chưađược chú trọng nhiều, tuy nhiên qua thực tế cho thấy một số địa phương trongtỉnh Lào Cai có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp để phát triển loài cây này rộngrãi Hơn nữa, trong Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủtướng Chính phủ: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030 đã xác định rõ Tam thất là một trong nhữngloại cây trồng được qui hoạch phát triển ở vùng khí hậu á nhiệt đới như một sốhuyện của Lào Cai [1]
Vì vậy, Chúng tôi tiến hành thực hiện nhiệm vụ: Nghiên cứu xây dựng
mô hình nhân giống, trồng cây Tam thất (Panax pseudoginseng Wall) tại huyện Si Ma Cai, Mường Khương tỉnh Lào Cai, đáp ứng mục tiêu bảo tồn
gắn với phát triển lâu dài, đây là những vấn đề hết sức quan trọng cho trồng sảnxuất và các nghiên cứu tiếp theo Đồng thời xây dựng được tài liệu hướng dẫnkỹ thuật trồng, chăm sóc loài Tam thất cho người dân nhằm mục đích bảo tồn
và phục vụ các nhu cầu sử dụng dược liệu quý này một cách chủ động và bềnvững
2 Mục tiêu
- Xây dựng mô hình nhân giống cây Tam thất từ hạt;
Trang 3- Xây dựng mô hình trồng Tam thất lấy hoa, lấy củ có hiệu quả kinh tếcao để người dân học tập;
- Xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh cây Tam thất (trênđịa bàn huyện Si Ma Cai và huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) có hiệu quảkinh tế cao để chuyển giao cho người dân địa phương
3 Ý nghĩa khoa học và của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đây sẽ là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện một cách hệthống, có cơ sở khoa học về gây trồng Tam thất với diện tích lớn trên địa bàn tỉnh LàoCai Kỹ thuật đơn giản, dễ dàng tiếp nhận và ứng dụng vào sản xuất Người dân địaphương trong vùng triển khai đề tài, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có thể ứngdụng các kết quả của đề tài để nhân giống, gây trồng có hiệu quả kinh tế cao
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra được hướng dẫn kỹ thuật trồng cây Tam thất, ứng dụng vào việcnhân rộng mô hình trồng cây tam thất trên bàn tỉnh Lào Cai nói riêng và khu vựcTây bắc nói chung
Ứng dụng kết quả nghiên cứu phát triển cây Tam Thất tạo sản phẩm từtam thất, phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước, từ đó tạo công ăn việc làm,tăng thu nhập cho người dân địa phương
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây Tam thất
1.1.1 Tên gọi và nguồn gốc cây Tam thất ở Việt Nam
Tam thất hay còn gọi là Sâm Tam thất, Kim bất hoán, Điền thất nhân sâm
Cây Tam thất ở Việt Nam thuộc chi Panax., họ ngũ gia bì (nhân sâm)
(Araliaceae) Tất cả các loài thuộc chi này đều có giá trị làm thuốc, đặc biệt làTam thất Cây Tam thất có chứa nhiều hoạt chất quí có tác dụng sinh học tốtnhư: nhóm chất saponin, polyacetylen và nhiều axit amin không thay thế Ở Việt
Nam, hiện có 5 loài thuộc chi Panax Trong đó có 3 loài mọc tự nhiên là: Sâm
Vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus) và Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) Tam thất trồng (Panax pseudoginseng) hay Tam thất bắc (Panax notoginseng) và Sâm Hàn Quốc (Panax ginseng
C.A.Meyer) Các loài này phfu hợp với vùng núi cao từ 1200 - 2400 m có khíhậu mát và độ ẩm cao [19, 20]
Theo Court William E (2000), chi Panax gồm nhiều loài dựa trên hình thái học của hoa, trong đó sâm Mỹ (Panax quinquefolius) được dùng làm
chuẩn, đây là nhóm thảo mộc có lá kép hình chân vịt có răng cưa, mọc ở đỉnhthân, cụm hoa mang một tán đơn ở tận cùng, hoa năm lá đài, bầu nhuỵ có 2hoặc 3 lá noãn, quả mọng khi chín có màu đỏ hoặc cam, có 2-5 hạt Cây sốngnhiều năm nhờ thân rễ, thân rễ nạc có chiều dài tuỳ thuộc năm sinh trưởng.Vùng phân bố của chi này ở Bắc Bán Cầu, từ Himalaya đến Đông Bắc TrungQuốc, vùng Viễn Đông nước Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam [30]
1.1.2 Phân loại các loài Tam thất ở Việt Nam
Trên thế giới, theo tài liệu nghiên cứu của Hyo-Won Bae (1978), cho đến
nay đã biết khoảng 14 loài thuộc chi Panax [35].
Trang 5Dựa vào đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hoá, nguồn gốc phát sinh,Tam thất được chia thành các loại sau [9, 19, 20]:
- Tam thất bắc: Panax pseudoginseng (Burk) tên gọi khác Panax
notoginseng F H Chen ex C Y Wu et K M Feng cây này được trồng ở phía
Nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam (huyện Si Ma Cai, huyện Mường
Khương, huyện Bắc Hà, huyện Sa Pa, Lào Cai)
- Sâm Ngọc linh: Panax vietnamensis Ha et Grush: trồng ở núi Ngọc
Linh
- Sâm Vũ diệp: Panax bipinnatifidus Seem: mọc hoang và đang được
trồng ở phía Bắc Việt Nam
- Tam thất hoang: Panax stipuleanatus H Tsai et K M Feng: mọc
hoang ở phía nam Trung Quốc, phía Bắc Việt Nam và được trồng ở phía BắcViệt Nam
- Nhân sâm Hàn Quốc: Panax ginseng C.A Meyer loài mới được nhập
và trồng ở Việt Nam
Trong đó Tam thất trồng Panax pseudoginseng (Burk) F H Chen được
ghi vào dược điển Việt Nam
Tuy nhiên, từ trước tới nay, Tam thất chủ yếu được thu hái ở Việt Nam là
loài Tam thất trồng Panax pseudoginseng và Tam thất hoang Panax stipuleanatus Thêm vào đó là loài Sâm Vũ diệp Panax bipinnatifidus Tuy
nhiên lượng Tam thất này do khai thác qua mức nên gày càng hiếm ở Việt Nam
Cả 5 loài trên đều thuộc chi Panax, ở Việt Nam hiện có 1 loài cây dễ gâyhiểu nhầm là Tam thất đó là Tam thất nam (hay tam thất gừng) loài này có tênkhoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep thuộc họ gừng Tam thất nam có giá trị
dược liệu và giá trị kinh tế thấp hơn nhiều lần so với Tam thất Tam thất nam cóthể trồng ở mọi miền khí hậu của Việt Nam
Trang 61.1.3 Giới thiệu về các loài Tam thất trồng phổ biến tại Lào Cai
1.1.3.1 Tam thất
Tên khoa học: Panax pseudoginseng hay Panax notoginseng
Đặc điểm: Đặc điểm: Tam thất là cây thân nhỏ, sống lâu năm Cây caokhoảng 30 – 60 cm, thân mọc đứng, vỏ cây không có lông, có rãnh dọc, lá mọcvòng 3 – 4 lá một Lá kép kiểu bàn tay xòe Cuống lá dài 3 – 6 cm, mỗi cuống lámang từ 3 đến 7 lá chét hình mác dài Các gân lá mọc nhiều lông cứng, màutrắng, mặt lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, mép lá có răng cưa nhỏ Câymọc một năm chỉ ra một lá kép, cây 2 tuổi trở lên thì có 2 – 6 lá kép mọc vòngxung quanh ngọn cây Cây có hoa khoảng tháng 6 tháng 7 dương lịch Hoa tựhình tán mọc đầu ngọn cây, gồm nhiều hoa đơn Cuống hoa trơn bóng không cólông Hoa lưỡng tính cùng lẫn với hoa đơn tính, có 5 cánh màu xanh, phần lớn là
2 tâm bì Quả chín vào khoảng tháng 10, tháng 11 dương lịch Quả mọng lúc chínmàu đỏ Mỗi quả có từ 1 – 3 hạt hình cầu, vỏ trắng Cây có một rễ chính phìnhthành củ và có những rễ phụ Trên mặt củ có nhiều vết sẹo do thân củ để lại saumỗi mùa đông Cây chỉ có một thân mang một chùm lá cố định, sống qua suốtnăm và từ tháng 12 đến tháng 1 tàn lụi, sau đó cây lại mọc ra thân mới [6, 8, 9]
Hình 1.1 Cây, củ Tam thất
Trang 7Hình 1.2 Cây, củ Sâm vũ diệp
1.1.3.3 Tam thất hoang
Tên khác: Tam thất rừng, Sâm Tam thất, Bỉnh biên Tam thất, Phan xiết
Tên Khoa học: Panax stipuleanatus H Tsai et K M Feng.
Thuộc họ nhân sâm Araliaceae Cây thường mọc hoang ở các cánh rừng ởLào Cai, Cao Bằng, Hà Giang,
Đặc điểm: Cây thân thảo sống nhiều năm, cao 25 - 75 cm Thân rễ mập,nằm ngang, có nhiều u lồi dính kết nhau, mặt trên có những chỗ lõm do các vết
Trang 8thân lụi hàng năm để lại, ít khi phân nhánh đường kính khoảng 1,5 - 3 cm Mỗikhóm thường có 1 thân mang lá, ít khi 2 - 4 trừ trường hợp cây bị tổn thương, sauphân nhánh và mọc lên số chồi thân tương ứng Thân mọc thẳng, nhẵn, đườngkính 0,3 - 0,6 cm; lá kép chân vịt 1 - 3 cái, mọc vòng ở ngọn cuống dài 5 - 10 cm.
Lá chét 5, có cuống ngắn, ở gốc cuống lá chét đôi khi có phần phụ dạng lá taihình chỉ, phiến lá chét hình thuôn hay mác thuôn, nhọn hai đầu, dài 5 - 13 cm,rộng 2 - 4 cm; mép có răng cưa, dạng xẻ lông chim (thùy nông), mép có thùycũng khía răng, thường có lông ở gân lá mặt trên Quả mọng, gần hình cầu dẹt,đường kính 0,6 - 1,2 cm, khi chín màu đỏ; hạt 1 - 2, gần giống hạt đậu tròn, màuxám trắng, vỏ cứng, có rốn hạt Mùa hoa: tháng 5 - 7; mùa quả tháng 9 – 10 [24]
Hình 1.3: Cây, củ Tam thất hoang 1.1.4 Tình hình sản xuất Tam thất trên thế giới và ở Việt Nam
Tam thất là nguồn nguyên liệu quí trên thế giới và ở Việt Nam Chúngchứa đựng nhiều hoạt chất quí có tác dụng sinh học tốt như saponin,polyacetylen, axit amin Ngoài sử dụng làm thuốc, chúng còn được sử dụng làmnguồn nguyên liệu cho công nghệ thực phẩm và công nghệ làm đẹp (mĩ phẩm)[10, 12]
1.1.4.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới về cây Tam thất thất tuy khá phong phú,nhưng chủ yếu tập trung nhiều vào các nghiên cứu đánh giá thành phần hóa học,
Trang 9đánh giá hoạt tính các hoạt chất có trong Tam thất, nghiên cứu sâu về gen mãhóa các protein đặc biệt, trong khi đó rất ít công bố nghiên cứu về kỹ thuậttrồng, chăm sóc hay phòng trừ bệnh hại.
Pengguo Xia và cộng sự năm 2014 nghiên cứu thành phần hóa học của hạtTam thất bao gồm chất béo (46,35%), proteins (23,90%), đặc biêt có 7 axit béokhông bão hòa chiếm tỷ lệ 99.56 %), Protein hạt Tam thất giàu glutenin(28,63%), globulin (27,83 %) và albumin (26,81 %) [47]
J Zhoua và công sự năm 2012 công bố nghiên cứu nhiệt độ nảy mầm củahạt Tam thất tốt nhất là 10°C, tỷ lệ nảy mầm trong điều kiện có ánh sáng tốt hơntrong điều kiện tối Tam thất sinh trưởng tốt trong điều kiện 25% và 50% dungdịch dinh dưỡng Hoaland Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bổ sung Kali sẽ cải thiệnchất lượng sinh trưởng và tỷ lệ nảy mầm của Tam thất [37]
Những nghiên cứu về bệnh Tam thất cũng được công bố Bệnh thối rễ trênTam thất xuất hiện phổ biến ở Văn Sơn (Vân Nam, Trung Quốc), với hai đợtmắc bệnh cao mỗi năm đượt 1 xuất hiện tháng ba tháng tư; và đợt thứ hai vàotháng 7 đến tháng 8 Nhiệt độ không khí khoảng 20°C và độ ẩm tương đối caohơn 95% là điều kiện thuận lợi cho các bệnh xảy ra và lây lan Bệnh thối rễnghiêm trọng khi tỷ lệ truyền ánh sáng vào các nhà trồng là quá cao ( > 30% )
Tỷ lệ bệnh cao đối với khu vực trồng canh tác liện tục, tỷ lệ này thấp hơn đối vớikhu vực luân canh và đất trồng mới [56]
Công thức phân bón hợp lý cho Tam thất là: tỷ lệ Nitơ thấp + hỗn hợpphân bón calcium - magnesium phosphate + tỷ lệ kali cao + vôi + vi lượng sẽnâng cao một cách rõ rệt về tỷ lệ sống sót, sinh khối và năng suất Nó cũng thúcđẩy sự tăng trưởng của Tam thất trong điều kiện thâm canh liên tục [45]
Hiện nay, Tam thất được trồng ở nhiều quốc gia, nước sản xuất và xuấtkhẩu Tam thất lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc: chỉ tính riêng ở tỉnh VânNam sản lượng chiếm 85% cả nước, khoảng 2 triệu kg/năm
Trang 101.1.4.2 Tại Việt Nam
Tam thất đã được trồng tại các tỉnh vùng Tây Bắc vào những năm 70, 80thế kỷ XX Cây có sự sinh trưởng và hoạt tính sinh học tốt, có thể được coi làmột cây bản địa của vùng Tuy nhiên, do nhiều khó khăn về giao thông, về chếbiến sử dụng, về phương thức tổ chức nên không phát triển được qui mô
Tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào công bố về kỹ thuật chọngiống, kỹ thuật trồng thâm canh cây Tam thất Những nhiên cứu nhiều lại tập
trung vào loài Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H.T.Tsai et K.M.Feng) Trong
nghiên cứu bảo tồn loài Tam thất hoang thực hiện tại Hoàng Liên Sơn, Sa Pa, tácgiả Phạm Thanh Huyền (2007) đã bước đầu thử nghiệm thành công việc nhângiống bằng thân rễ ở Tam thất hoang cho tỷ lệ ra chồi từ 74,24 - 84,77%; nhângiống bằng hạt cho loài Tam thất hoang đạt tỷ lệ nảy mầm đạt 79,63% [16]
Trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong những năm vừa qua đã xuất hiện một số
hộ gia đình nông dân tại các huyện Si Ma Cai và Mường Khương học tập kinhnghiệm trồng Tam thất, cụ thể
Tại huyện Si Ma Cai: vào tháng 11/2013, ông Giàng Seo Sì (dân tộcMông, ở thôn Nàng Cảng, xã Si Ma Cai) đã đầu tư trồng 0,9 ha cây Tam thất tạithôn Hòa Sử Pan, xã Sán Chải, trở thành người đầu tiên ở Si Ma Cai trồng loạicây này với quy mô lớn, tập trung; Tháng 11/2014, một số nhóm hộ ở xã NànSán (Si Ma Cai) cũng trồng 2 ha cây Tam thất; tháng 12/2014 ông Hoàng Seo
Lử, ở thôn Ngã Ba, xã Mản Thẩn trồng thêm 3,3 ha Tại huyện Mường Khương:gia đình bà Vàng Thị Trấn thôn Lì xỉ 3, xã Pha Long đã tìm hiểu và đưa câydược liệu này vào trồng trên đồi đất nhà mình với hơn 0,8 ha
Cây Tam thất được trồng trên địa bàn tỉnh hiện nay bước đầu cho thấy khảnăng sinh trưởng và phát triển bình thường điều này cho thấy khí hậu và thổnhưỡng ban đầu là phù hợp cho việc phát triển cây dược liệu quí này Tuy nhiêncác hộ dân trồng Tam thất chủ yếu là tự phát do học tập kinh nghiệm từ TrungQuốc, chưa có quy trình hưỡng dẫn kỹ thuật cụ thể tại Lào Cai nói riêng và ViệtNam nói chung
Trang 11Tam thất là một cây thuốc quí, các bộ phận của cây đều có giá trị sử dụnglàm thuốc, nhu cầu sử dụng trong nước cao và tiềm năng xuất khẩu lớn Trênthực tế, Tam thất quí không kém Nhân sâm (về hàm lượng Saponin), thậm trí quíhơn về một số tác dụng sinh học đặc biệt Thực tiễn phát triển cho thấy nhiềusản phẩm từ cây Tam thất đã được thế giới chấp nhận là thuốc chữa bệnh Mặc
dù cây Tam thất thu hoạch sản phẩm chính sau khoảng 03 năm, nhưng nó cũng
là cây cho thu hàng năm nhờ các sản phẩm phẩm phụ như lá và hoa Các sảnphẩm phụ này, hàng năm cho nguồn thu không dưới 50 triệu/ha Lá và hoa Tamthất được sử dụng để làm trà có giá trị cao Đây là một điều thuận lợi để pháttriển bền vững cây trồng do đảm bảo được nguồn thu đều cho nông dân Nguồnthu từ trồng cây Tam thất lớn, theo dự toán của Trung tâm Phó Bảng tỉnh HàGiang, sau 3 năm trồng bình quân mỗi hecta sẽ thu được khoảng 500 triệu/nămsau khi đã trừ chi phí (chưa kể tới nguồn thu từ các sản phẩm phụ) Chính vì giátrị kinh tế cao và hiệu quả cho nên việc phát triển cây dược liệu quí này trên địabàn tỉnh sẽ là hướng đi trong việc xóa đói giảm nghèo và xa hơn tiến tới làmgiàu cho bà con cùng cao
Tại Việt Nam, cây Tam thất có khả năng thích nghi rộng, vùng tập trung ởcác tỉnh phía Bắc như: Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng Đặc biệt tậptrung nhiều ở Vùng rừng Hoàng Liên Sơn, Lào Cai trên độ cao 1500 - 2400 m[
Theo kết quả điều tra hiện trạng sản xuất chế biến sâm, Sâm Tam thất vàbáo cáo hội thảo về định hướng phát triển cây Sâm Việt Nam giai đoạn 2008 -
2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến), kết quả tìm
ra 108 vùng sâm mọc trong tự nhiên với trữ lượng khai thác đến 50 tấn sâmkhô/năm [26]
Theo Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của thủ tướng chínhphủ: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển cây dược liệu đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030 quy hoạch 8 vùng trồng tập trung các loài dược liệu
có thế mạnh phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và sinh thái để đáp ứngnhu cầu thị trường Tam thất là một trong những loại cây dược liệu được quy
Trang 12hoạch phát triển ở vùng khí hậu á nhiệt đới như một số huyện của Lào Cai; Sìn
Hồ của Lai Châu và Hà Giang (Đồng Văn Quản Bạ) [1]
Đề án chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020tổng diện tích trồng cây dược liệu dự kiến 1300 ha trong đó bao gồm một số cácloài cây dược liệu chủ lực như: Actiso, Tam Thất, Đương quy, Độc hoạt, BạchTruật, Y dĩ, Chè dây, Sa nhân tím … trong đó Tam thất với tổng diện tích (65ha) Việt Nam có nguồn dược liệu đa dạng cả về chủng loại lẫn công dụng làmthuốc, tuy nhiên nguồn tài nguyên này ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứngtrước nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức, trong đó có Tam thất [19]
Tam thất sau khi thu hoạch được củ có phẩm chất tốt Rửa sạch bùn đất,cắt bỏ rễ con, phơi nắng cho héo rồi lăn, làm từ 3 - 5 lần rồi phơi cho đến khô.Nếu không gặp nắng, phải dùng than củi hoặc tủ sấy để làm khô Tốt nhất làngày phơi nắng, đêm sấy, chừng 4 - 5 ngày là khô Thường 10 kg Tam thất tươisấy khô người ta thu được 5,5 - 6,5 kg Tam thất khô có độ ẩm 5% Khi chế biếnTam thất làm dược liệu, làm thuốc người ta thái lát hoặc nghiền thành bột đunnước uống, còn khi sử dụng cho công nghệ chế biến thực phẩm hay chiết suấtlàm thuốc, mĩ phẩm hoặc sản phẩm đồ uống có thể để nguyên dạng bột hoặcchiết tách lấy tinh chất để dùng cho sản phẩm tinh khiết hơn [24]
Tuỳ theo thời kỳ thu hoạch, kích thước củ người ta phân loại Tam thất nhưsau:
1.2.1 Thành phần hoá học tinh dầu Tam thất
Kết quả nghiên cứu tinh dầu trong lá Tam thất của Việt Nam do nhómnghiên cứu của Viện Dược liệu tiến hành bằng phương pháp cất lôi cuốn hơi
Trang 13nước đối với lá Kết quả cho thấy hàm lượng tinh dầu trong lá Sâm vũ diệp là0,18% và Tam thất hoang 0,35% Thành phần tinh dầu (được phân tích bằngGC-MS) lá sâm vũ diệp có farnesen (66,75%), germacren D (8,39%), azulen(6,67%), myriticin (5,78%), spathulenol (4,95%), curcumen (4,27%), và
ocimenyl acetate (3,19%) Trong khi đó tinh dầu của Tam thất hoang chỉ có
P-farnesen (69,95%), germacren D (23,84%), guaien (4,45%) và spathulenol(4,95%) [16]
Nghiên cứu các hợp chất dễ bay hơi trong ba loài Tam thất khô Panax ginseng, Panax notoginseng và Panax quinquefolius bằng hệ thống GC-MS, kết
quả cho thấy: thành phần chính là các sesquiterpene như bicyclogermacrene,farnesen, panasinsene, calarene, elemene, a-humulene, Tác giả In Hee Cho vàcộng sự (2012) đã nghiên cứu, xác định được 53 thành phần dễ bay hơi thuộc
nhóm sesquiterpene trong cây Tam thất P notoginseng, P quinquefolius [36].
1.2.2 Hợp chất saponin
1.2.2.1 Định nghĩa, phân loại
Saponin là nhóm các triterpen glycosid cao phân tử, gồm có phần đườngnối với aglycon triterpen hoặc steroid Ngày nay, việc xác định saponin dựa vàocấu trúc phân tử của chúng, đó là triterpen hoặc steroid glycoside [29, 38]
Aglycon là phần không đường của phân tử saponin và được gọi là geninhoặc sapogenin Dựa vào cấu tạo của genin mà saponin có thể được chia thành 3nhóm chủ yếu:
(1) Glycosid triterpen
(2) Glycosid steroid
(3) Glycosid steroid alkaloid
Trang 14Hình 1.4 Khung genin tìm được trong 3 nhóm chính của saponin
Các saponin đều là sự gắn kết của một hay nhiều chuỗi đường vớiaglycon, aglycon bị hydroxyl hoá ở C-3 và phần lớn các nhóm metyl bị oxy hoáthành hydroxylmetyl, aldehyd hoặc cacboxyl Khi một axit bị este hoá thànhaglycon, thì glycosid tương ứng được gọi là saponin este Saponinmonodesmosidic có một chuỗi đường đơn gắn ở C-3 Saponin bidesmosidic cóhai chuỗi đường một chuỗi được gắn bằng liên kết este ở C-3 và một chuỗi đượcgắn bằng một liên kết este ở C-28 (saponin triterpen) Saponin bidesmosidicđược chuyển đổi thành saponin monodesmosidic một cách dễ dàng khi phân tửđường este hoá tại C-28 trong saponin tritecpen bị thủy phân [33]
Hình 1.5 Saponin monodesmosidic
Các saponin chiết tách được phần lớn đều có chuỗi đường ngắn (thườngkhông phân nhánh), gồm 2 - 5 đơn vị monosacarid Hostettman K và Marston A,
đã đưa ra tên gọi oligosid có hơn 3 - 4 monosacarid [33]
Đây là nhóm hợp chất rất lớn và đa dạng công thức hoá học Các hợp chấtnày được phân loại theo nhiều cách khác nhau Abe I (1993); Haralampidis K vàcộng sự (2002) (Revew saponin) đã phân loại các hợp chất này thành các nhómdựa trên số lượng cacbon trong phân tử [29, 33]
1.2.2.2 Cấu trúc hoá học saponin
Saponin được chia thành hai nhóm lớn dựa trên cấu trúc phân tử Đó làcác saponin triterpenoid và saponin steroid
Trang 15Hình 1.6 Những nhóm chính của sapogenin triterpen
Saponin triterpenoid gồm saponin triterpenoid pentacyclic (STP) vàsaponin triterpenoid tetacyclic (STT) Ở cây Tam thất, các saponin triterpenoidđược sinh tổng hợp trên nguyên tắc đóng vòng squalen Người ta tìm thấy trongtất cả các loại Tam thất và chúng tồn tại ở dạng hoà tan trong dịch tế bào [12]
Trang 16Hình 1.7 Các nhóm phổ biến của sapogenin steroid
Nhóm spirostan: Hiện nay được chú ý nhiều vì là nguồn nguyên liệu quan
c) Saponin steroid alkaloid
Có hai nhóm sapogenin steroid alkaloid, đó là: solanidan và spirosolan
* Nhóm spirosolan: Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy
của vòng F được thay bằng NH Một điểm cần chú ý là ở đây có isomer ở C-22(khác với nhóm spirostan)
* Nhóm solanidan: Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này Ở
đây 2 vòng E và F cùng chung 1C và 1N [28]
Trang 17Những chất thuộc 2 nhóm spirosolan và solanidan đều có chứa N vừamang tính alkaloid vừa mang tính glycosid nên được gọi là những chấtglycoalcaloid.
Hình 1.8 Hai nhóm của sapogenin steroid alkaloid 1.2.2.3 Các nghiên cứu về saponin từ chi Panax
Trên thế giới hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóahọc, hoạt tính sinh học và tác dụng của cây Tam thất Trong những công trình đóphải kể đến các công trình của Trung Quốc Năm 1937 - 1941 hai tác giả TrungQuốc là Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng đã nghiên cứu thu được 2 saponin
từ Tam thất: Arasaponin A C30H52O10 là chất bột, t0 nóng chảy 210oC dễ tan trongrượu metylic và Arasaponin B, C20H38O10 khi thủy phân bằng axit trong rượuetylic cho ra arasapogenin B, C29H32O3 và đường trong đó có glucoza, t0 nóngchảy 247oC [11] Nghiên cứu của Dong và cộng sự chiết tách thành phần trong củ
Tam thất P notoginseng cũng tìm ra các saponin tương tự [11].
Nhóm tác giả này cũng đã phát hiện Tam thất Việt Nam chứa chủ yếusaponin khung dammaran, đã phân lập được hai saponin chủ yếu của tam thấtViệt Nam và xác định chúng là ginsenosid-Rb1 và ginsenosid-Rg1 dựa vào điểmchảy, phổ IR, NMR [53]
Trang 18Hình 1.9 Cấu trúc saponin triterpenoid
Ngoài những kết quả nghiên cứu trên, thì trong những năm gần đây cónhiều công trình đã nghiên cứu về thành phần hóa học trong cây Tam thất như:Tác giả Peng-ying Liao và cộng sự đã tách chiết được 27 hợp chất thuộc nhóm
saponin trong cây tam thất (steamed notoginseng)[48] Phạm Thanh Kỳ và cộng
sự cũng đã xác định được 7 hợp chất trong cây (gynostemma pentaphyllum)
[49] Trần Lệ Quân và cộng sự (2001) nghiên cứu trong cây sâm Việt Nam
(Panax vietnamensis) xác định cấu trúc tìm ra 10 saponin nhóm dammaran trong
đó có 8 saponin đã được biết từ các nghiên cứu trước và 3 saponin mới.Massayuki Yoshikawa và cộng sự (2003), đã nghiên cứu, xác định thành phần
hóa học trong thân, củ, rễ, lá và nụ của tam thất (P notoginseng), đã tìm ra cấu
trúc khung dammaran nhóm saponin triterpen mới [44]
Như vậy, tất cả các nghiên cứu đã có đã chứng minh: Trong cây tam thất(củ, thân lá, hoa và rễ) đều chứa nhiều saponin có khung olean và dammaran
Saponin là thành phần chính được phân lập từ củ của các loài thuộc chi
Panax Các nhà khoa học đã chiết tách và xác định cấu trúc gần 300 loại saponin
khác nhau có phần aglycon (sapogenin) với khung cơ bản từ các loài thuộc chinày như khung dammaran, khung oleanan [31]
Bảng 1.1 Dẫn xuất saponin của 20 (S)-protopanaxadiol
Trang 19Notoginsenosid-Fc Glc2-Glc2-Xyl Glc6-Xyl
Glc: glucopyranosyl, Ara(p): a-L-arabinopyranosyl, Xyl: xylopyranosyl, R1=R2=H: 20 (S)-protopanaxadiol.
ß-D-1.2.2.4 Hoạt tính sinh học của saponin
Saponin là thành phần có hoạt tính sinh học chủ yếu của các loài thuộc chi
Panax Các hoạt tính sinh học chính của saponin được thể hiện trong bảng 1.5.
Bảng 1.2 Tác dụng của một số loại saponin quan trọng [52]
1 Kích thích chức năng miễn dịch và hoạt độngthực bào Rg1, Rb1, Rb2, Rc, Rg3,Rh2, Re, Rg2, Rh1
2 Chống bệnh tiểu đường (Giảm lượng đườngtrong máu trên đái tháo đường ) Rb2, R2
4 Tác dụng chống khối u Rh1,Rh2, Rg3, Compound
- K
5 Hoạt tính giãn mạch máu Rb1, Rd, Rg1
6 Phòng chống xơ vữa động mạch (giảmcholesterol và trung lập lipid và
HDL-cholesterol có hiệu lực ngày càng tăng)
Rb1, Rb2, Rc
7 Kích thích tiết ACTH & corticosterone Rb1, Rb2, Rc, Re
8 Sự kích thích của RNA polymerase vàprotein tổng hợp (Tăng phục hồi các mô bị
Trang 2012 Bảo vệ chống lại sự căng thẳng gây ra loét Malonoside R2
a) Khả năng kháng nấm của saponin
Có tác giả cho rằng tác dụng kháng nấm có thể coi là một tính chất đặctrưng của saponin Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy saponin có khảnăng kháng khuẩn và kháng nấm mạnh Acscin, primulic ở nồng độ 50 - 400
p/ml ức chế phát triển sợi nấm Claviceps purpurea, Piricularia orizae, Trichothecium roseum, Polyporous vesicolor Thí nghiệm cho thấy T roseum nhậy cảm với các saponin trừ các saponin steroid có nối đôi ở C-5 như a- salanin, còn Polystictus thì hoàn toàn bị ức chế bởi solanin steroid nhưng chỉ bị
ảnh hưởng nhẹ bởi các saponin trieterpenoid [57] Một số saponin triterpenoidphân lập từ động vật thì có tác dụng chống nấm mạnh gấp nhiều lần saponin từthực vật như các saponin Holotoin A, B, C có trong hải sâm có tác dụng chống
nấm Trichophyton mentagrophytes, Microsporum gypseum, Candida albicans và Candida utilis Tác dụng ức chế nấm của các chất holotoxin ở mức 0,78 - 1,25
p/ml, còn các saponin từ thực vật thì thường là 100 p/ml Cyclamin là saponin
có trong cây Cyclamen europeum và các saponin Spinasaponin A có tác dụng
kháng khuẩn rất mạnh
Một nghiên cứu khác của tác giả Figen Mert Turk và cộng sự (2006)nghiên cứu khả năng kháng nấm của saponin trong tam thất, kết quả cho thấysaponin có khả năng kháng nấm mạnh [32]
b) Khả năng kháng vi khuẩn của saponin
Trong nghiên cứu khảo sát khả năng kháng vi sinh vật của dịch chiết từ
hạt của loài Picralima nitida (loài phổ biến có ở Nigeria), Nkene và Iroegbu đã
tiến hành chiết tách theo phương pháp ngâm chiết trong các hệ dung môi khácnhau là ethanol, benzen, chloroform và nước lạnh ở nhiệt độ 270C trong 18 giờ
và nước nóng 1000C trong 2 giờ Sau đó dịch chiết thu được để thử các phản ứngđịnh tính alkaloid, flavonoid, tanin, saponin, glycoside và protein Tiếp đó thửnghiệm khả năng kháng khuẩn Kết quả cho thấy dịch chiết từ nước lạnh có hàm
Trang 21lượng chất khô lớn nhất (6,8%) rồi đến nước nóng và ethanol Thành phần dịchchiết trong cả ethanol, nước nóng và lạnh là tương đồng Qua thử nghiệm trên 5
chủng vi sinh vật (S aureus ATCC 12600, P aeruginosa ATCC 10145, E coli ATCC 11775, B Subtilis ATCC 6051 và Salmonella kintabo) kết quả cho thấy
dịch chiết từ benzen và chloroform không có tác dụng nào Trong khi đó dịchchiết từ ethanol cho kết quả kháng tốt nhất, còn 2 dịch chiết từ nước nóng vàlạnh cũng có kết quả rõ rệt và tương tự nhau [7]
c) Khả năng kháng vi rút của saponin
Nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò của saponin trong việc chống lại vi sinhvật gây bệnh Chính saponin là tiền tố có vai trò ngăn chặn bước đầu sự nhiễmđộc hay nói cách khác là phương tiện phòng thủ đầu tiên của nhiều loài thực vật.Như vậy, có thể thấy rằng saponin chiết xuất có khả năng ứng dụng cao trongđời sống đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp phục vụ con người Tìm kiếm nguồnnguyên liệu giàu hoạt chất này và khai thác nó là một hướng đi có ý nghĩa thựctiễn và hiệu quả [7]
d) Tác dụng kháng viêm và cầm máu
Saponin của tam thất có tác dụng chống phù và chống viêm, chống viêmloét, chống đau dạ dày, chống viêm lợi Một nghiên cứu về khả năng kháng viêmtrong tam thất của tác giả Trần Cộng Hoà và cộng sự đã nghiên cứu sự biến đổi
của test invitro trong điều trị viêm mũi dị ứng bằng chế phẩm tam thất [43] Kết
quả cho thấy chế phẩm có tác dụng tốt trong điều trị cụ thể giảm 34,54% phảnứng dương tính với test lẩy da (77,14% xuống 42,86%), giảm 48,56% phản ứngdương tính với test kích thích dịch mũi (82,85 % xuống 34,29%) [13]
Gần đây, một oleanane saponin axit (oleanolic 3-O-ß-D-glucopyranosyl)được chiết tách từ cây tam thất đã được báo cáo là ức chế LPS gây ra sản xuấtnitric oxide quy định hoạt động NF-kB trong 264,7 tế bàovà elatoside F ức chếgây ra sản xuất nitric oxide cũng như NF-kB kích hoạt, có tác dụng chống lởloét [51]
Trang 22e) Tác dụng lên hệ thần kinh
Saponin của cây tam thất có tác dụng an thần trên chuột và chuột cống thínghiệm, ở liều cao thì có tác dụng ức chế, còn ở liều thấp thì có tác dụng kíchthích [6], [116] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự về tác dụng
chống stress và trầm cảm trên sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) cho thấy hoạt
chất chính majonosid-R2 có tác dụng tốt [30] Nghiên cứu của Rausch W D vàcộng sự cho thấy tác dụng bảo vệ thần kinh của ginsengnosides [50]
f) Tác dụng của saponin steroid dùng để tổng hợp các nội tiết tố steroid
Các chất dùng để tổng hợp nội tiết tố steroid có nhiều nguồn như các chấtsterol, các saponin Trong saponin thì nguồn quan trọng nhất lại là diosgenin,hecoginin, solasodin Diosgenin được thế giới tiêu thụ tới 1000 tấn mỗi năm vìcũng giống solasodin có mạch nhánh dễ biến đổi thành testosterone,progesterone, cortisone Saponin làm tăng sự thấm của tế bào, sự có mặt củasaponin sẽ làm cho các hoạt chất khác dễ hoà tan và hấp thu [17]
h) Hoạt tính chống oxy hóa - quét gốc tự do DPPH
Nghiên cứu của Yalin Wu và cộng sự (2008) cho thấy khả năng quét gốc
tự do DPPH của dịch chiết từ củ tam thất Panax notoginseng Kết quả khả năng
quét gốc tự do của dịch chiết này là 11,72 ± 0,91% Nghiên cứu của Dương Thị
Ly Hương và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của rễ củ tam thất
(Radix notoginseng) trên động vật thực nghiệm có tác dụng chống oxy hóa với
liều 5 g/kg thể trọng và cũng với liều trên có tác dụng bảo vệ gan Nghiên cứu
Trang 23của Trần Công Luận và cộng sự (2009) cho thấy cao toàn phần chiết từ củ tam
thất Panax stipuleanatus (Tam thất hoang) có tác dụng chống oxy hóa, ức chế sự
hình thành MDA ở nồng độ 25, 50, 100 p/ml [21]
i) Tác dụng chống ung thư
Hoạt tính chống ung thư là hoạt tính sinh học được nghiên cứu nhiều nhấtcủa saponin Các saponin có tác động vào quá trình biệt hóa của tế bào ung thư,ngăn cản sự phân bào của chúng [46] Ginsenoside Rh2 ức chế sự phát triển vàhình thành cụm khuẩn của tế bào ung thư gan Morris và kích thích các tế bào đótổng hợp protein huyết thanh, do đó làm biến đổi các đặc điểm của tế bào ung thư
cả về cấu trúc và hình thái giống với các tế bào gan bình thường Ginsenoside Rh1
và Rh2 gây ra sự biệt hóa của tế bào u ác tính F9 qua việc liên kết với thụ quansteroid Rh2 còn gây ra sự biệt hóa và tăng tổng hợp melanin trên dòng tế bàoB16 Ginsenoside Rg3 và ginsenoside Rh2 ức chế sự tăng sinh tế bào của các tếbào ung thư tiền liệt tuyến Các saponin 20(S)-potopanaxadiol và ginsenoside Rh2làm giảm sự tăng sinh tế bào và tăng các tế bào thuộc pha G trong chu kỳ tế bàocủa hai dòng tế bào ung thư ruột là Int-407 và CaCo-2 [39]
Các saponin 20R và 20S ginsenoside Rg3 có hoạt tính ức chế sự di căncủa các tế bào ung thư phổi B-16, BL-6 và ung thư trực tràng 26M31 [46].Ngoài ra, 20S ginsenoside Rg3 còn có hoạt tính ức chế sự rò rỉ rhodamine 123,[3H]-vinblatine và ức chế sự liên kết của [3H]-azidopine với P-glycoprotein [52]
Gần đây, tam thất còn được dùng trong một số trường hợp phòng chốngung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vòm họng, ung thư vú với kết quảtốt Saponin nhóm spirostan trong cây tam thất có hoạt tính kháng khối u Cácglycoside spirostanol có chứa trên 4 đơn vị đường trong phần oligosacarid thìthấy có tác dụng chống ung thư rõ rệt Saponin của cây tam thất và các muối của
Mg2+ của chúng có tác dụng làm khối u không phát triển, ức chế quá trìnhchuyển giao ung thư, bảo vệ gan và chống xơ cứng gan [54]
Trang 24Liang C và cộng sự (2010) nghiên cứu tác dụng ngăn ngừa ung thư bạchcầu (HL-60) và trực tràng (HCT-116) của các oleanane triterpenoid trong củ tam
thất (Panax stipuleanatus) đặc trưng của Việt Nam cho thấy hoạt tính kháng các
dòng tế bào ung thư (HL-60, IC50 = 6,50 pM), (HCT-116, IC50 = 41,45 pM)[42]
Nghiên cứu tác dụng chống ung thư của sâm Mỹ của tác giả Lee và cộng
sự (1999) và Shibata (2001) các saponin Rg3, Rg5 và Rh2 có tác dụng ngănngừa các dòng ung thư tốt
Nghiên cứu của Trần Lệ Quân kết hợp nhóm ở Toyama (Nhật Bản) tinh
sạch và xác định cấu trúc 16 hợp chất saponin dammaran trong cây Panax vietnamensis Thử nghiệm một số hoạt chất có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư
gan tốt (HepG2) [54]
1.2.3 Hợp chất phenol thực vật
Polyphenol hay phenol là hợp chất có một hoặc nhiều nhóm hydroxyl gắntrực tiếp vào vòng thơm, các vòng thơm này thường là benzen Cấu trúc hợpchất phenol là nền tảng của nhóm Hợp chất này thường có ở thực vật và tồn tạichủ yếu ở dạng este, glycosid hơn dạng tự do [55] Đây là một nhóm chất lớn và
đa dạng công thức hóa học Nghiên cứu của Ludwiczuk A và cộng sự trên cao
chiết methanol củ tam thất (P quinquefolius) cho thấy hàm lượng phenol trong
cao chiết từ củ chứa 0,21 mg/g [43]
1.2.4 Hợp chất flavonoid
Flavonoid là một trong những nhóm chất được nghiên cứu nhiều nhất trongnhóm polyphenol Đây là dẫn xuất của benzo-y-pyrone, có cấu tạo khung theokiểu C6-C3-C6 hay nói cách khác là khung cơ bản gồm hai vòng benzene A và Bnối với nhau qua một mạch 3 carbon, gọi là vòng pyran C Trong thực vật, cácflavonoid tồn tại ở hai dạng là aglycol và glycoside Dạng glycoside là cácaglycol gắn với gốc đường [46]
Trang 25Flavonoid có khả năng quét các gốc tự do như HO-, ROO- Các flavonoid
có hoạt động quét các anion superoxide, oxy phân tử, các gốc hydroxyl và gốcperoxyl lipid
Nhờ khả năng chống oxy hóa của các flavonoid nói riêng và nhiềupolyphenol nói chung mà người ta ứng dụng chúng trong công nghiệp thựcphẩm để làm bền chất béo và để bảo vệ màu sắc tự nhiên cho sản phẩm đồ hộprau quả [27] Nghiên cứu của Ludwiczuk A và cộng sự trên cao chiết methanol
củ tam thất (P quinquefolius) hàm lượng flavonoid trong cao chiết từ củ chứa
0,1 mg/g [43]
1.2.5 Protein và amino axit
Hàm lượng protein của một số loài thuộc chi Panax dao động khoảng
12% khối lượng khô [40]
Bảng 1.3 Hàm lượng protein của một số loài thuộc chi Panax
Ko S R và cộng sự đã xác định được trong củ của một số loài thuộc chi
Panax có 17 loại amino axit trong đó có 9 loại amino axit không thay thế đối với
người là threonine, valine, methionine, isoleucine, leucine, histidine,
phenylalanine, arginine, lysine Hàm lượng amino axit của Panax ginseng là cao nhất khoảng 76,32 mg/g, còn P quinquefodium và P notoginseng khoảng trên
50 mg/g Trong số 17 loại amino axit được tìm thấy, arginine có hàm lượng cao
nhất ở cả 3 loài, P ginseng là 21,60 25,20 mg/g, P quinquefodium là 10,58 14,30 mg/g và loài P notoginseng là 12,21 mg/g
-Bảng 1.4 Hàm lượng amino axit của một số loài thuộc chi Panax (mg/g)
Trang 26P ginseng P quinquefodium P notoginseng
Tổng cộng 79,00 78,24 76,32 83,93 53,78 60,39 54,91
K R Korean red ginseng, C R: China red ginseng, J R: Japan red ginseng, K W: Korean white ginseng, A W: American white ginseng , C W: Canadianwhite quinquefodium, S G: Sandhi ginseng
1.2.6 Lipid và axit béo
Hầu hết các loài thuộc chi Panax có hàm lượng lipid thấp chỉ khoảng 1%
khối lượng khô [40]
Zhang X J cùng cộng sự đã tiến hành phân tích thành phần và hàm lượng
axit béo có trong một số loài thuộc chi Panax là P ginseng, P notoginseng và P quinquefodium Đã có 11 loại axit béo được tìm thấy trong 3 loài trên, có cả axit
béo no và axit béo không no Trong đó các axit béo không no có hàm lượng cao
và chiếm tới 80% hàm lượng lipid tổng số, đặc biệt là các axit béo không no đa
Trang 27nối đôi Nhiều loại axit béo không no đa nối đôi chuỗi dài quan trọng đã đượctìm thấy trong 3 loài này như axit linoleic, axit a-linolenic Trong đó hàm lượnglinoleic ở cả 3 loài đều cao chiếm khoảng 50% hàm lượng lipid tổng số [59].
1.2.7 Carbohydrate
Nhìn chung các loài thuộc chi Panax đều có hàm lượng carbohydrate cao
hơn so với nhiều nguồn thức ăn của động vật và con người
Bảng 1.5 Hàm lượng carbohydrate của một số loài thuộc chi Panax
Loại nhân sâm P ginseng
1.2.8 Chất khoáng
Các chất khoáng có vai trò quan trọng với cơ thể Chúng tham gia vàokiến tạo một số chất cần thiết, giúp ổn định nội môi, cân bằng áp suất thẩm thấucủa máu và nội môi, là chất xúc tác cho các phản ứng hóa học và ảnh hưởng đếnquá trình hưng phấn của hệ thần kinh
Các nghiên cứu đã phân tích được hàm lượng của 11 loại khoáng có trong
một số loài thuộc chi Panax thể hiện trong bảng 1.6 Trong số các nguyên tố
khoáng đa lượng thì hàm lượng của nitơ là cao nhất, sắt là nguyên tố khoáng vilượng được tìm thấy nhiều nhất [40]
Bảng 1.6 Hàm lượng khoáng trong một số loài thuộc chi Panax
P ginseng P quinquefodium P notoginseng
K R C R J R K W A W C W S G
Trang 281.2.9 Hợp chất Polyacetylen
Gần đây, việc nghiên cứu những hợp chất polyacetylen trong các cây chi
Panax cho thấy chúng thể hiện một số đặc tính như: kháng nấm, kháng khuẩn,
kháng viêm, kháng ngưng tập tiểu cầu và kháng ung thư Hơn 10 loại hợp chấtpolyacetylen có tác dụng giúp ngăn chặn sự tăng trưởng của các tế bào ung thư,ngăn sự hình thành những cục máu đông trong mạch máu, làm ức chế hợp chấtdẫn đến tổn thương tế bào [42]
Nghiên cứu của Liang C và cộng sự tại Đại học Dược Chungnam Hàn quốc
năm 2011 đã tách chiết polyacetylen từ củ tam thất Panax stipuleannatus được
hai polyacetylen mới Stipudiol (1) và Stipuol (2) thử nghiệm với dòng tế bào ungthư HL-60 và HCT-116 cho kết quả ức chế cao, IC50 của (1) và (2) với HL-60;0,13 và 0,28 pM và HCT-116; 0,50 và 0,80 pM Nghiên cứu của HisashiMatsunaga và cộng sự (1989) chiết tách polyacetylen (Panaxytriol) trong cây
Panax ginseng sau đó thử hoạt tính (in vitro) trên các dòng thư với nồng độ 50 pl
panaxytriol kết quả chỉ ra ở bảng sau [34]:
Bảng 1.7 Ảnh hưởng của Panaxytriol trên các dòng ung thư
Trang 291.3 Ứng dụng Tam thất trong sản xuất thực phẩm
Trên thế giới việc ứng dụng các hoạt chất saponin, polyacetylen của câytam thất trong lĩnh vực thực phẩm, y dược và mĩ phẩm rất phát triển, ở Việt Namviệc nghiên cứu ứng dụng còn rất ít
Viện 103 của nước ta đã nghiên cứu và ra mắt một số sản phẩm thực phẩmchức năng hỗ trợ điều trị bệnh và tăng cường sức khỏe cho người sử dụng, như:
• Trà tam thất - xạ đen: Giúp tăng cường sức khỏe, hạn chế sự hình thành
và phát triển khối u, tế bào ung bướu, hỗ trợ điều trị bệnh tật
• OPCARDIO - Đan sâm & Tam thất, tác dụng trên tim mạch: Sử dụng
hỗ trợ với các bệnh nhân giãn mạch vành, giúp tăng lưu lượng máu cho mạchvành tim, chống xơ vữa động mạch, điều hòa nhịp tim và huyết áp Phòng và điềutrị xơ vữa động mạch vành và đau thắt ngực OPCardio có hiệu quả trong dựphòng và điều trị các vấn đề tim mạch hay gặp khác như thiểu năng tuần hoànnão, tăng huyết áp, viêm tĩnh mạch (thường gặp là giãn tĩnh mạch chân), tai biếnmạch máu não
• Tam thất - tỏi đen:
- Giúp bồi bổ cơ thể, tăng cường tiêu hóa, nâng cao thể trạng
- Giúp giảm mỡ máu, ổn định đường huyết, giúp giảm biến chứng bệnhtiểu đường
- Giúp phòng ngừa và hạn chế các khối u, u đại tràng, u phì đại lànhtuyến tính tuyến tiền liệt,u xơ tử cung, u xơ tuyến vú
- Giúp tăng sức đề kháng, hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố độc hại
• Linh chi - tam thất: Làm tăng sức dẻo dai của cơ thể, giúp ăn ngon, ngủtốt Giảm mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu Nâng cao tình trạng sức khoẻ
Trang 30cho bệnh nhân, hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư trong giai đoạn điều trị tia xạ.Dùng trong trường hợp cholesterol trong máu cao.
Tổng kết: Trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên
cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi
Panax L như nhân sâm, tam thất Kết quả cho thấy, trong hai loài này có nhiều
thành phần và hoạt tính sinh học quý, đặc biệt hiệu quả trong việc tăng cườngsức khỏe và hỗ trợ điều trị một số bệnh của con người Tuy nhiên, nghiên cứubài bản và chuyên sâu về Tam thất hoang còn ít, mặc dù các kết quả nghiên cứubước đầu cho thấy tiềm năng ứng dụng của loài cây này Vì vậy, việc mở rộngnghiên cứu là cần thiết
1.4 Điều kiện tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Mường Khương
1.4.1.1 Điều kiện về địa hình, địa chất và hướng phơi sườn
* Địa hình:
Mường Khương là huyện vùng cao biên giới tỉnh Lào Cai với đặc thù địahình phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh với nhiều vực sâuxen kẽ các dải thung lũng hẹp Độ dốc địa hình lớn với tổng diện có phân cấp độdốc từ 30-40o là 1390 km2 (chiếm 21,87%) Độ cao trung bình so với mực nướcbiển tại thị trấn là 900 m, đỉnh cao nhất trên 1.600 m (La Pán Tẩn), nhiều nơi tạothành vách đứng dễ gây ra các quá trình sụt lở, trượt khối gây khó khăn chohuyện trong việc phát triển cơ sở hạ tầng cũng như quy hoạch vùng sản xuấtnông nghiệp tập trung [1]
Tuy nhiên, đặc điểm địa hình trên cũng tạo nhiều lợi thế cho huyệnMường Khương, đặc biệt phù hợp với việc trồng và phát triển nhiều loài câydược liệu khác nhau, trong đó có Tam thất
Bảng 1.8 Diện tích địa hình ở độ cao tương đối so với mực nước biển của huyện Mường Khương so với các địa phương khác trên địa bàn tỉnh
Tp, Huyện Tổng diện
tích tự
Độ cao các miền địa hình so với mục nước biển
(m)
Trang 31nhiên (ha) 100 < -300 100 -700 300 -1000 700 -1500 1000 >150 0
M Khương 55.615 5.051 19.480 20.886 10.198
Tp Lào Cai 22.967 3.785 10.656 2.599 1.727 2.609 1.591 Bát Xát 106.190 599 14.231 21.662 13.832 22.580 33.285Bắc Hà 68.176 1.218 10.954 20.949 13.967 21.088
Bảo Thắng 68.219 9.889 42.872 7.932 3.912 2.465 1.149 Bảo Yên 82.791 8.716 51.705 18.281 1.181 2.908
Sa Pa 68.329 207 4.314 7.537 24.504 31.767Văn Bàn 142.608 4.168 26.485 32.948 23.022 27.204 28.782
* Hướng phơi sườn:
Hướng phơi sườn trong vùng được chia thành 08 hướng gồm: bắc (B),đông bắc (ĐB), đông (Đ), đông nam (ĐN), nam (N), tây nam (TN), tây (T) vàtây bắc (TB), được thống kê cụ thể theo tỷ lệ trong bảng sau:
Bảng 1.9 Đặc điểm phân bố các hướng phơi sườn trong khu vực
huyện Mường Khương [1]
Các hướng phơi sườn Khu vực phân bố chủ yếu Tỷ lệ diện tích (%)
B Rải rác khắp khu vực điều tra 15,25
ĐB Rải rác khắp khu vực điều tra 13,80
Trang 32Đ Rải rác khắp khu vực điều tra 14,24
ĐN Rải rác khắp khu vực điều tra 10,90
N Rải rác khắp khu vực điều tra 11,67
TN Rải rác khắp khu vực điều tra 10,86
T Rải rác khắp khu vực điều tra 12,40
TB Rải rác khắp khu vực điều tra 10,89
a) Nhiệt độ không khí: Một năm có 02 mùa rõ rệt Biên độ nhiệt giữa các
tháng trong năm là khá lớn: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 15-160C; mùaĐông rét đậm, nhiệt độ có thể xuống dưới 00C, mùa hè mát nhiệt độ cao nhất là
350C Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 5, 6, 7, 8; tháng có nhiệt độ trungbình thấp nhất trong năm thường là tháng 1, 2, 12 [3]
Thực tế, với nền nhiệt độ tương đối thấp so với toàn tỉnh, khí hậu mátquanh năm, phù hợp với sự sinh trường và phát triển của cây Tam thất, MườngKhương có điều kiện thuận lợi trong việc trồng và phát triển loại cây này Tuynhiên, cần có các biện pháp khắc phục, giảm thiểu các tác động gây hại cho câykhi nền nhiệt độ xuống quá thấp và đột ngột vào mùa đông (tuyết rơi, băng giá)hoặc tăng cao bất thường vào mùa hè
b) Chế độ mưa: Mưa tập trung nhiều vào những tháng mùa hè Lượng
mưa trung bình cả năm dao động từ 1000-1.500mm Lượng mưa tháng lớn nhất
là 384mm (tháng 8) Số ngày mưa trung bình năm: 152 ngày [3]
Lượng mưa phân bố không đều: 75 - 89% lượng mưa tập trung vào cáctháng mùa mưa Do vậy nên thường gây ra lũ quét, xói mòn, sụt lở đất vào mùamưa, hạn hán thiếu nước vào mùa khô, tác động nhiều đến sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là sản xuất Tam thất
Trang 33c) Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1300-1500 giờ.
Trong đó, số giờ nắng trung bình tháng [3]:
+ Mùa Hè: 150giờ
+ Mùa Đông: 92 giờ
Điều kiện này được đánh giá là phù hợp với sự sinh trưởng và phát triểncủa nhiều loài cây dược liệu, trong đó có cây Tam thất
d) Hiện tượng thời tiết bất thường
Bão, Lũ: Do địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt
mạnh, kết hợp với mưa lớn đầu nguồn, gây ra lũ lớn với đặc thù: có nhiều ngọn,lên nhanh, xuống nhanh, biên độ lớn (biến đổi mực nước hàng năm trung bình từ5m đến 8m, tối đa có năm lên tới 8m đến 14m) [3]
Sương mù: Sương mù xuất hiện phổ biến trong năm, số ngày có sương mù
trung bình năm khoảng 94,1 ngày Trong các đợt rét đậm, ở những thung lũngkín gió còn có cả sương muối, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là sản xuất cây Tam thất [3]
* Đặc điểm thủy văn:
Nhìn chung huyện Mường Khương có địa hình núi cao, phân cắt mạnhnên mạng lưới sông suối khá phát triển Nguồn nước mặt phong phú đáp ứngđược việc trồng và sản xuất Tam thất trên địa bàn huyện
Trang 34Hình 1.10 Sơ đồ phân bố mạng lưới thủy văn chính khu vực tỉnh Lào Cai
1.4.2 Điều kiện tự nhiên huyện Si Ma Cai
1.4.2.1 Điều kiện về địa hình, địa chất và hướng phơi sườn
* Địa hình:
Si Ma Cai là huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, có điềukiện tự nhiên phong phú với tổng diện tích là 23.494ha Trong đó, đa số là đấtdốc: độ dốc trên 25o khoảng 12.423ha (chiếm 53%), độ dốc 15 – 25o là 7.501ha(chiếm 32%), độ dốc 7 – 15o là 3.330ha chiếm (14,2%), độ dốc 3 – 7o là 167ha(chiếm 0,7%), độ dốc dưới 3o chiếm tỷ lệ không đáng kể (0,l%) [4]
Địa hình Si Ma Cai thuộc khối nông vòm sông Chảy (vùng núi có tuổi cổnhất so với nền cấu tạo Bắc Bộ), được kiến tạo bởi nhiều dãy núi chạy theohướng Đông Bắc - Tây Nam, thấp dân về phía Bắc với đặc trưng phân tầng độcao lớn, chia cắt mạnh, nhiều thung lũng nhỏ hẹp, có nguy cơ sạt lở, trượt khốilớn trong mùa mưa lũ, gây khó khăn cho huyện trong việc phát triển cơ sở hạtầng cũng như quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, trong đó có việctrồng và phát triển cây Tam thất
Trang 35Các dải núi về cơ bản gồm: Mạch núi trung tâm lãnh thổ huyện khởinguồn từ Đông Nam xã Nàn Sín chạy qua các đỉnh núi có độ cao 1.800m đến1.630m theo hướng Đông Bắc - Tây Nam tới điểm cuối cùng thuộc phía ĐôngBắc xã Sán Chải Mạch núi khu Tây Bắc chạy theo hướng vòng cung với hướngchính là Đông Bắc - Tây Nam Ngoài ra, ở khu Đông Nam huyện được hìnhthành bởi phần cuối của các dải núi nhỏ chạy từ Bắc Hà hướng Đông Bắc - TâyNam [1].
Bảng 1.10 Diện tích địa hình ở độ cao tương đối so với mực nước biển của
huyện Si Ma Cai so với các địa phương khác trên địa bàn tỉnh
Tp, Huyện
Tổng diện tích tự nhiên (ha)
Độ cao các miền địa hình so với mục nước biển (m)
100 < -300 100 -700 300 -1000 700 -1500 1000 >1500
Si Ma Cai 23.494 989 4.024 6.679 11.801
Tp Lào Cai 22.967 3.785 10.656 2.599 1.727 2.609 1.591 Bát Xát 106.190 599 14.231 21.662 13.832 22.580 33.285 M.Khương 55.615 5.051 19.480 20.886 10.198
Bắc Hà 68.176 1.218 10.954 20.949 13.967 21.088
Bảo Thắng 68.219 9.889 42.872 7.932 3.912 2.465 1.149 Bảo Yên 82.791 8.716 51.705 18.281 1.181 2.908
Sa Pa 68.329 207 4.314 7.537 24.504 31.767 Văn Bàn 142.608 4.168 26.485 32.948 23.022 27.204 28.782
có 3.485ha chiếm 14,83 %; còn lại chủ yếu đất có độ dốc cao chưa sử dụng [4]
Nhìn chung, đất đai của Si Ma Cai chủ yếu thuộc hai nhóm chính là:Nhóm đất đỏ vàng (đất feralít phát triển trên đá biến chất) và nhóm đất mùnvàng đỏ trên núi cao (từ 900 - 1.800 m) với diện tích ước tính trên 12.000 ha,
Trang 36chiếm 51,1% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao như:Mản Thẩn, Nàn Sán, Cán Cấu, [1].
* Hướng phơi sườn: Hướng phơi sườn trong vùng được chia thành 08
hướng gồm: bắc (B), đông bắc (ĐB), đông (Đ), đông nam (ĐN), nam (N), tâynam (TN), tây (T) và tây bắc (TB)
1.4.2.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
* Đặc điểm khí hậu:
Si Ma Cai nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa Do ảnh hưởngcủa địa hình nên diễn biến khí hậu khá phức tạp, hình thành các tiểu vùng khíhậu khác biệt, gồm: Vùng khí hậu cận nhiệt đới và vùng khí hậu nhiệt đới khôngđiển hình Cụ thể như sau:
+ Tiểu vùng khí hậu nhiệt đới không điển hình: Chủ yếu tập trung tại vùngven sông Chảy, bao gồm các vùng đất thấp của các xã như: Lùng Sui, Sán Chải,Nàn Sán, Bản Mế, Nàn Sìn Nhiệt độ trung bình khoảng 21oC Mùa nóng từtháng 5 đến tháng 10 nhiệt độ có thể lên đến 35oC kèm theo mưa nhiều, cường
độ mưa cao, bức xạ năng lượng cao Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4năm sau, độ ẩm không khí trung bình 85% ít sương mù, có xuất hiện mưa đá
+ Tiểu vùng khí hậu cận nhiệt đới: Nằm trên các đai cao trên 800m Mộtnăm có 02 mùa nhưng không có ranh giới rõ rệt Mùa đông thường lạnh khô kéodài, nhiệt độ trung bình từ 15 – 17oC Tháng 1 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ có thểxuống tới 5 – 6oC Mùa hè mát mẻ, nhiệt độ cao nhất không đến 32oC Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10, có giông, mưa đá và sương mù thích nghi cho phát triểncác cây lâm nghiệp họ lá kim, cây ăn quả nhiệt đới và cây dược liệu, trong đó cóTam thất
a) Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 18,9oC, thánglạnh có thể dưới 12oC, chế độ nhiệt có sự thay đổi theo các đai cao rõ rệt và thayđổi nhiệt độ diễn ra ngay trong phạm vi một xã Ở vùng ven sông Chảy, các thung
Trang 37lũng thấp nhiệt độ thường cao, cường độ chiếu sáng lớn hơn so với các khu vựcđai cao trên 800m [4].
b) Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt mức từ l.300mm đến
2.000mm tập trung vào các tháng 6, 7 và 8 Các tháng còn lại trong năm mưa ít,cường độ không tập trung Số ngày mưa trong năm khoảng trên 150 ngày
Độ ẩm trung bình cả năm khoảng từ 83% - 87% Về mùa mưa độ ẩmkhông khí lớn hơn thường từ 85 - 88% Độ ẩm không khí thay đổi theo từngvùng lãnh thổ của huyện Vùng núi cao trên 800mm, độ ẩm không khí thấp vàhanh khô
Lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào các tháng mùa mưa nên dễgây ra lũ quét, xói mòn, sụt lở đất vào mùa mưa, hạn hán thiếu nước vào mùakhô, tác động nhiều đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng và sản xuất Tamthất
c) Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1300-1400 giờ.
Trong đó, số giờ nắng trung bình tháng [3]:
+ Mùa Đông: 85giờ
+ Mùa hè: 132 giờ
Điều kiện này được đánh giá là phù hợp với sự sinh trưởng và phát triểncủa nhiều loài cây dược liệu, trong đó có cây Tam thất
d) Hiện tượng thời tiết bất thường
Bão, Lũ, Sạt lở: Do địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia
cắt mạnh, kết hợp với mưa lớn đầu nguồn, gây ra lũ lớn với đặc thù: có nhiềungọn, lên nhanh, xuống nhanh, biên độ lớn [3]
Sương mù: Sương mù xuất hiện phổ biến trong năm, số ngày có sương mù
trung bình năm khoảng 94,1 ngày Trong các đợt rét đậm, ở những thung lũngkín gió còn có cả sương muối, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người dân và sảnxuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây Tam thất [3]
Trang 38* Đặc điểm thủy văn:
Hệ thống thuỷ văn bao gồm sông Chảy và hệ thống khe suối Sông Chảybắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy qua địa phận Si Ma Cai với tổngchiều dài 43km Lòng sông hẹp, sâu, sườn dốc và nhiều thác gềnh ít có tác dụngtrong giao thông vận tải, phục vụ sản xuất nhưng có ý nghĩa quan trọng đối vớichiến lược phòng thủ biên giới của huyện và khả năng phát triển thuỷ điện Hệthống khe suối có nhiều, bắt nguồn từ các dãy núi cao chảy xuống thung lũng cótác dụng lớn đến dân sinh và khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, trong đó
có việc trồng và sản xuất Tam thất Tuy nhiên, đây cũng là trở ngại về đi lại củangười dân nhất là về mùa mưa [4]
Nước mặt phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mưa được lưu giữ Tuyđược phân bố đều khắp trên địa bàn huyện và không bị ô nhiễm Song đangtrong tình trạng cạn kiệt, đặc biệt là mùa khô do địa hình chia cắt mạnh, hiệntượng Castơ hay xảy ra và hậu quả nặng nề của nạn chặt phá rừng làm nươngrẫy Nước ngầm trữ lượng ít do hiện tượng Castơ tạo ra các hố thoát nước mặt và
độ che phủ rừng thấp
Tình trạng nước mặt và nước ngầm cạn kiệt nên ảnh hưởng lớn tời nguồncung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân trong huyện Hiện nay ởnhiều xã trong huyện như: Mản Thẩn, Cán Hồ, Cán Cấu, Nàn Sín và Lử Thẩnđang trong tình trạng khan hiếm nước sinh hoạt về mùa khô
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Tam thất (Panax pseudoginseng Wall hay Panax notoginseng).
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành tại 2 địa điểm của tỉnh Lào Cai:
Trang 39- Huyện Mường Khương: Tại thôn Pao Pao Chải, Xã Pha Long
- Huyện Si Ma Cai: Tại thôn ngã 3, Xã Mản thẩn
2.2.2 Thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2015 - 8/2018
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, đánh giá khả năng nhân giống, gây trồng và xácđịnh nhu cầu sử dụng cây Tam thất ở Việt Nam trong thời gian gần đây;
Nội dung 2: Nghiên cứu nhân giống Tam thất từ hạt;
Nội dung 3: Nghiên cứu xây dựng quy trình trồng cây Tam thất;
Nội dung 4: Nghiên cứu tình hình bệnh hại trên cây Tam thất;
Nội dung 5: Xây dựng mô hình trồng cây Tam thất;
Nội dung 6: Sơ chế, đánh giá chất lượng dược liệu Tam thất tại MườngKhương và Si Ma Cai;
Nội dung 7: Xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, nhân giống và trồngTam thất
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật, mô tả đặc điểm hình thái của loài cây Tam thất
* Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật
- Áp dụng phương pháp kế thừa để thu thập các kết quả của các côngtrình, tài liệu điều tra nghiên cứu về loài đã công bố của các tác giả trong vàngoài nước
* Mô tả đặc điểm hình thái và thời gian ra hoa quả của Tam thất được trồng
tại Lào Cai
Trang 40Đặc tính hình thái chủ yếu:
Hình dạng lá: Khi non ; Khi trưởng thành
Cuống lá : Cách mọc; Hình dáng; Lông và màu sắc lông
Cụm hoa: Loại; Màu sắc; Kích thước
Hoa: Màu sắc; Kích thước
Quả: Màu sắc; Kích thước; Thời gian ra hoa, quả
2.3.2.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Tam thất bằng phương pháp gieo hạt.
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý đến khả năng nảy mầm của
hạt (1/2016 – 4/2016)
Thí nghiệm 1 được thực hiện với 5 công thức, 3 lần nhắc lại, ở các nhiệt độkhác nhau: 30, 35, 40, 45, 50 trong 15 phút, sau đó hạt giống được ủ với nướcsạch trong vòng 8 giờ cho ngâm no nước và được đem ủ trong cát ẩm trên bềmặt được che bằng lá thông (thông mã vĩ) khô Mỗi công thức được tiến hànhvới 100 hạt và 3 lần lặp lại Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
Các công thức trong thí nghiệm đồng đều về loại hạt, biện pháp chăm sóc,giá thể,
Các chỉ tiêu theo dõi:
Thu thập số liệu khả năng nảy mầm của hạt:
Từ khi hạt bắt đầu nảy mầm, định kỳ ghi chép số hạt nảy mầm ở từngcông thức thí nghiệm (CTTN) cho đến thời gian kết thúc nảy mầm Ngày kếtthúc nảy mầm là ngày mà sau đó 5 ngày số hạt nảy mầm thêm không quá 5%
Tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm dùng tỷ lệ % để so sánh.
Xác định tỷ lệ nảy mầm của hạt theo công thức:
Tỷ lệ nảy mầm (%) = (Số hạt nảy mầm/Tổng số hạt kiểm nghiệm) x 100
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần chất nền lên sự nảy
mầm của hạt giống