=> Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc điểm tự nhiên của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng.. Vạn vật đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ huyền bí [r]
Trang 1Tổ 3
Trang 21 NỘI DUNG
A Nhà thơ thiếu nhi thời chống Mĩ: âm vang của thời đại qua một tâm hồn thơ trẻ.
Tội ác của giặc Mĩ:
Sự hủy diệt gieo rắc khắp nơi, không chừa bất cứ một đối tượng nào:
“ Thằng Mĩ nó đến nước tôi Búp bê nó giết, bao người nó tra
Nó bắn cả cụ mù lòa
Nó thiêu cả bé chưa và được cơm”
( Gửi bạn Chi Lê)
Trang 3- Đó không chỉ là sự hủy diệt mà ở khía cạnh
khác, người đọc sẽ thấy được thân phận của
những em bé thời chiến qua hình ảnh bé Giang ngồi chơi tam cúc với con mèo khoang rồi nịnh
Trang 4- Ẩn sau trò chơi con trẻ, ta thấy hình ảnh những
em bé tội nghiệp tha thẩn chơi một mình vì
người lớn đều bận rộn, không có thời gian quan tâm các em Cõ lẽ vì vậy mà các em biết tự lập, cứng cỏi, tự tin trong hoàn cảnh khó khăn:
“ Chúng tôi đến lớp ngày ngày
Mũ rơm tôi đội, túi đầy thuốc men”
( Gửi bạn Chi Lê)
Và biết lo toan cho nhau qua bài “ Dặn em”:
“ Mẹ cha bận việc ngày đêm
Anh ngồi trong lớp lo em ở nhà”
Trang 5
- Mĩ ra sức rêu rao rằng mục tiêu của chúng oanhtạc chỉ là các căn cứ quân sự thì TĐK đã miêu tả thực chất những cuộc ném bom ấy Hậu quả là những mất mát, đau thương, xáo trộn trong cuộc sống thường nhật Cảnh đàn gà táo tác chia lìa trong bom đạn:
“Có những quả bom lao xuốn như gió độc
Mày chưa kịp gọi con, đã bị vùi trong đất
Có nhìn thấy gì đâu
Xác con mày bay lên cùng với những lá trầu.” ( Nói với con gà mái)
Trang 6- Cảnh con chó Vàng không biết bỏ chạy đi đâu
vì nghe tiếng bom Mĩ nổ Niềm vui nhỏ mà
thắm thiết của cậu bé với người bạn thân như
bị đánh cắp:
“ Hôm nay tao bỗng thấy
Cái cỏng rộng thế này
Vì không thấy bóng mày
Nằm cờ tao trước cửa…
Trang 7- Bằng những câu chuyện đời thường, chân thực, TĐK đã cho ta thấy chiến tranh mang đến
những nỗi đau, mất mát không thể bù đắp,
những vết thương khó lành trong tâm hồn mỗi người, từ đó lên tiếng tố cáo mạnh mẽ tội ác
của giặc Mĩ
- Những vần thơ tha thiết, nhẹ nhàn, những câu chuyện thường nhật, những điều bình yên bị
phá vỡ đã có sức tố cáo mạnh mẽ
- Một nữa nhà báo người Pháp từng nói về thơ
TĐK như “ những tiếng hát mạnh hơn những
quả bom”.
Trang 8 Vẻ đẹp của người lính:
- Trong nhận thức của một em bé, chú bộ đội chính là hiện thân của sức mạnh VN trong chiến tranh Trong thơ TĐK , chú bộ đội là thần tượng để gửi gắm tình cảm yêu quý, ngưỡng mộ và ước mơ thầm kín của
mình.
- Hình ảnh chú bộ đội luôn song hành với những chiến công phi thường:
“ Chú bị thương tự chặt tay mình
Tay còn lại ôm bom lao vào đồn giặc
Chú úp bụng xuống dây thép gai nhọn hoắt
Cho đồng đội băng qua như một chiếc cầu”
( Điều anh quên không kể)
Trang 9- TĐK không chỉ thấy sự vĩ đại của chú bộ đội qua những
chiến công chấn động địa cầu mà còn thấy chiều sâu tâm hồn của các chú Luôn phải đối mặt với cái chết, hơn ai hết, chú hiểu rõ giá trị sống và rất nâng niu nó.
“ Nòng pháo bỗng nhiên dừng lại
Bao nhiêu cái mũ lắng nghe
Xa xa từ một bụi tre
Tiếng chim chích chòe
Đang hót”
( Tiếng chim chích chòe)
=>Vĩ đại, phi thường nhưng các chú vẫn rất giản dị, khiêm tốn
Sự căm thù giặc và thái độ yêu quý, ngưỡng mộ đối với chú
bộ đội là những tình cảm lớn trong thơ viết về chiến tranh của TĐK
Trang 10 Ý chí vươn lên của trẻ em VN trong chiến tranh:
- Tư thế ung dung, bình tĩnh , hiên ngang một thời của các em nhỏ - một sự đối diện bình thản đến không ngờ trước sự khốc liệt của chiến tranh.
Trang 11B Nhà thơ mục đồng:
-Chất mục đồng được thể hiện ở giọng điệu trẻ con, lối xưng hô ( mày – tao; em, cháu, con…), cách cảm, cách tả cảnh vật, con người bằng con mắt non tơ, hồn nhiên, yêu đời của một đưa trẻ,
Trang 12Soi rõ sân nhà em”
( Trăng sáng sân nhà em)
- Hình ảnh vầng trăng trong thơ TĐK luôn có một sức hút mãnh liệt bởi vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo và rất đặc trưng cho những đêm trăng ở nông thôn.
Trang 13- Chất mục đồng còn thể hiện ở tâm hồn người dân quê vừa tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, tinh thần lạc quan của dân tộc VN:
“ Chú ơi hành quân
Cô lái máy cày
Có nghe phơi phới
Tiếng diều lượn bay”…
Trang 14- Cảm nhận rất riêng về người nông dân TĐK chủ
yếu nhắc tới người nông dân ở làng quê, trước hết là cha, mẹ:
“ Áo mẹ mưa bạc màu
Trang 162 NGHỆ THUẬT
Thơ Trần Đăng Khoa hay không phải ở nội dung
phản ánh hiện thực mà nó nằm ở khả năng trực giác đến kỳ lạ được biểu đạt qua một thế giới ngôn từ lung linh, sống động và nhạc điệu đa âm, đa sắc.
Trong tập “ Góc sân và khoảng trời”, có tới 306 từ /
105 bài (so với cả tập “Những bài thơ em yêu” của những nhà thơ lớn tuổi chỉ có 159 từ/100 bài) Điều đáng lưu ý là số lượng từ láy ấy không hề lặp lại
Trang 17- Từ láy trong thơ Trần Đăng Khoa có khả năng
tượng hình, tượng thanh sống động, ấn tượng:
Cả đất trời buổi sáng như rung lên nhịp rung của
sự sống mới bởi hàng loạt các từ láy tượng
thanh liên hoàn,…
Trang 18=> Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc
điểm tự nhiên của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng Vạn vật đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà Trần
Đăng Khoa nghe được bằng trực giác hồn nhiên của mình
- Thơ Trần Đăng Khoa đi tìm cái linh hồn ảo
diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của
chính con người Cho nên, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng có một độ mở liên tưởng với các hình thức
tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ,tượng trưng,…
rất bất ngờ
Trang 19- Nhiều bài nhân cách hoá toàn phần như: Mưa,
Đánh thức trầu, Buổi sáng nhà em, Đám ma bác Giun,… Vạn vật được nhìn qua con mắt tinh tế của sinh hoạt làng quê, tâm lý đời thường.
- Có những nhân hoá đạt đến mức trí tuệ, kết tinh
thành những biểu trưng: Đứng canh trời đất bao
la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi, … Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận…, Ao trường vẫn
nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu…
=> Giữa người và vật như có một sợi dây vô hình trong mối tương giao xúc cảm
Trang 20- Nghệ thuật so sánh trong thơ Trần Đăng Khoa
khá đặc sắc làm nhiều nhà thơ lớn phải thán phục Xuân Diệu rất cảm khái với hình ảnh này:
“Trăng ơi từ đâu đếnHay biển xanh diệu kỳTrăng tròn như mắt cáKhông bao giờ chớp mi”
(Trăng ơi…từ đâu đến?)Nhà thơ từng viết về biển và trăng rất hay này phải
thừa nhận rằng Khoa đã chạm đến tận cùng cái
huyền bí của tự nhiên
Trang 22- Trần Đăng Khoa có những biện pháp nghệ thuật
ẩn dụ bất ngờ: “Nét chữ chênh vênh nắng gió
Chữ cũng động cựa như núi đồi trắc trở”.
Trang 23- Xuất hiện hình ảnh của Thánh Gióng trong huyền
thoại qua một bức tranh thiên nhiên hoành tráng.
- Sự xuất thần của trạng thái vô thức nhiều khi có khả năng sản sinh ngôn ngữ giàu có hơn là sự nỗ lực của ý thức.
- Nói đến thơ Trần Đăng Khoa không thể không nói đến
đặc sắc của nhạc điệu Nhà thơ Phạm Hổ có nhận xét,
thơ Trần Đăng Khoa với tập “Góc sân và khoảng trời” :
“Có sự phong phú trong nhạc điệu, mỗi bài thơ, có một nhạc điệu riêng, âm sắc riêng” Nhạc điệu là cấp độ siêu ngôn ngữ, thế giới âm thanh của ký hiệu ngôn từ Nhạc điệu góp phần tạo hình, tạo nghĩa cho tác phẩm thơ
Ngôn ngữ chính xác, biểu cảm và giàu âm thanh, nhịp điệu
Trang 24“ Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”
( Mẹ ốm)
-Bên cạnh đó là những hình ảnh đẹp sáng tạo độc đáo: