1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai 22 Cao trao cach mang tien toi Tong khoi nghia thang Tam nam 1945

38 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Nhân Của Nạn Đói 1944-1945
Tác giả Nhóm 2
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 1945
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà sử học Lê Thành Khôi ở Pháp trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX viết về chính sách và việc làm của Chính phủ mới khi ấy để khắc phục nạn đói này: “Một n[r]

Trang 1

NẠN ĐÓI 1944-1945

Nhóm 2_Lớp 9A10

Trang 2

Nguyên nhân của nạn đói

1. Nguyên nhân trực tiếp

Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến

tranh tại Đông Dương Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích

phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân

Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Những biến động quân

sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu

cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã

thiếu gạo nên càng bị đói

Trang 3

2 Nguyên nhân gián tiếp

Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu  chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại

Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm Sau

đó  Nhật Bản  dùng vũ lực loại bỏ  Pháp  chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng  đay , buộc người dân bán lúa gạo với

giá rẻ mạt để chuyển về Nhật, đánh đập

người dân để thu đủ các lọa thuế).

Trang 5

3.Nguyên nhân tự nhiên

- Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền

Bắc Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói

- Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê

sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm

trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói

khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì

vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng

hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết

trắng, chết vàng Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy

Trang 7

Vào tháng Tám năm 1945, một trận lũ

khủng khiếp đã gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh miền Bắc với tổng diện tích 312.000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người… Sau cơn lũ, bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp, cộng với không có thuốc men, lương thực, nên góp phần làm cho nạn đói càng thêm trầm trọng.

Trang 8

Hậu quả của nạn đói

Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói trong  nạn đói  này, một số nguồn

khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến

2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông

Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng

nửa triệu người chết Toàn quyền Pháp 

Jean Decouxthì viết trong hồi ký của ông về

thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la

barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người

miền Bắc chết đói.

Trang 11

- Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản đã đàm phán

với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi

thường chiến tranh, phía Nhật cho rằng có

khoảng 300.000 nạn nhân chết đói, trong khi

chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra con số

1.000.000 người Mức bồi thường cuối cùng được thống nhất là 14 tỉ 40 triệu yen (khoảng 39 triệu đôla Mỹ) vào năm 1960, chia ra thì mỗi mạng

người Việt chết đói chỉ bằng một nhúm tiền lẻ

- Về sau, qua khảo sát hộ khẩu các tỉnh miền bắc, các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu người đã chết đói Con số 2 triệu người chết cũng là điều  Hồ Chí Minh  có nhắc đến trong bài 

Tuyên ngôn Độc lập  ngày  2 tháng 9  năm 1945.

Trang 14

Cuốn Lịch sử tỉnh Hà Nam Ninh xuất bản năm 1988 cho biết: phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) mỗi ngày chết 400

ngườiKhi người đói kéo về các thành phố lớn, lúc đầu

người chết còn được bó chiếu đem chôn, sau vì nhiều

người chết quá nên đành phải chất xác, hất chung xuống

hố Có người còn thoi thóp nhưng vẫn bị đưa đi chôn, vì

“trước sau gì cũng chết”

Trong cuốn "Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những

chứng tích lịch sử" của GS Văn Tạo thống kê:

"Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng

nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người Chỉ tính

số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn

210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì

số người chết đói đã lên đến hơn 580.000 Như vậy, con số

2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ

Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng

là gần với sự thực

Trang 16

Nghiên cứu về nạn đói 1944-1945

Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo và GS Furuta Moto (người Nhật) đã chỉ rõ: chính sách

vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc

bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng

bằng Bắc bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.

Bác sĩ Ngô Văn Quỹ trong một tham luận của mình về nạn đói đã cho biết: “Cuối năm 1944, quân số của Nhật ở Bắc kỳ đã lên tới gần 100.000 người Bắc kỳ lúc đó đã

thiếu gạo, vì 3 trận bão tàn phá các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Bắc Ninh, làm cho vụ mùa bị thất

thâu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, nay lại phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật Theo tờ trình của Thống sứ Bắc kỳ

Chauvet, thì vào năm 1944 ở Bắc kỳ, diện tích trồng cây công nghiệp đã lên tới 45.000 ha”.

Trang 19

Theo tài liệu của Viện Sử học: năm 1941 là 700.000 tấn gạo; năm 1942 là 1.050.000 tấn gạo và 45 tấn bột gạo; năm 1943 là 1.125.904 tấn; năm 1944, mặc

dù mất mùa nhưng vẫn phải cung cấp cho Nhật

900.000 tấn Ngoài ra, Nhật còn cho Pháp xuất

khẩu gạo sang các nhượng địa của Pháp ở Trung

Quốc.  Tham luận của bác sỹ Ngô Văn Quỹ cũng cho biết, ngay trong năm 1945, tức lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm, vậy mà theo các tài liệu chính thức của Pháp – Đông Dương đã thu hoạch được 2.700.000 tấn thóc, ước tính nhu cầu của nhân dân chỉ là

1.600.000 tấn; vậy là vẫn còn dư ra 1.100.000 tấn

Và ông khẳng định: “Thừa thóc, thừa gạo mà để dân chết đói đến 2 triệu người, trước lịch sử, đây quả là một tội ác “trời không dung, đất không tha”

Trang 23

Trong tập tài liệu “Chiến tranh châu Á

trong tiềm thức của chúng ta”, ông

Yoshizawa Minami – một người Nhật Bản

đã viết: “… Đông Dương có vị trí then chốt đối với Nhật Bản về lương thực Ngoài

lượng gạo nhập khẩu vào Nhật, quân đội Nhật còn rất cần một trữ lượng gạo lớn lao

để tiếp tế cho các mặt trận đang lan rộng khắp Á châu và khu vực Thái Bình Dương Đây chính là nguyên nhân trực tiếp gây

nạn chết đói cho 2 triệu người Việt năm

1945…”.

Trang 26

Tác giả Yoshizawa Minami cũng cho biết “ông

Kawai, đảm nhiệm công việc giám sát chuyển gạo từ Nam ra Bắc qua tỉnh Nam Định, đồng thời là quản lý chung về gạo dự trữ, phân phối trong tỉnh, nói có

những nơi vẫn còn gạo chất như núi trong kho quân đội Không những thế, tại một nhà thờ Thiên chúa giáo trong tỉnh gạo đầy ắp trong kho Ông đã thuyết phục cán bộ Đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng họ không nghe” Còn nghiên cứu của Giáo sư Văn Tạo cho biết Thống sứ Bắc kỳ chủ ý gây ra nạn đói này cho Việt Nam để thực hiện mục đích kép là chính trị và kinh tế Mục đích chính trị là “hãm bớt nhiệt tình yêu nước” của nhân dân Việt Nam Mục đích kinh tế là để một vài công ty của Pháp, Nhật

mua gạo giá rẻ và bán giá cắt cổ cũng như để dễ

dàng tuyển mộ cu ly cho các đồn điền, hầm mỏ

Trang 27

Ai cứu giúp ngươi dân vi t nam trong thảm ê cảnh này?

Chẳng phải Nhật, cũng chẳng phải triều đình hay

Chính phủ Trần Trọng Kim đầu năm 1945 mà là Việt Minh Tất nhiên phải công nhận một điều rằng trước

đó, Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã có những việc làm cứu đói nhưng hiệu quả chưa cao bởi họ cũng gặp muôn vàn khó khăn và Chính phủ này tồn tại trong

thời gian rất ngắn

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng

Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào Một ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên Một trong những

nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là cứu đói để vực dậy một dân tộc đã và đang trải qua nạn đói kinh

hoàng

Trang 28

Trong phiên họp đầu tiên này, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí

Minh về 6 nội dung cấp bách phải thực hiện,

đó là: (1) Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói; (2) Mở

phong trào chống nạn mù chữ; (3) Tổ chức

càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế

độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền

tự do dân chủ cho nhân dân; (4) Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại; (5) Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế

chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuốc phiện;

(6) Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo

đoàn kết.

Trang 29

Một trong những việc làm đặc biệt có ý nghĩa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa là

tổ chức lạc quyên cứu đói để kịp thời dập tắt nạn đói Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28-9-1945, Báo Cứu Quốc đã đăng thư của Hồ Chủ tịch

gửi đồng bào cả nước kêu gọi mọi người nêu cao tinh thần

“nhường cơm, sẻ áo” cứu giúp đồng bào: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta

không khỏi động lòng Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một

bơ) để cứu dân nghèo” Trong cuộc vận động này, Hồ Chủ tịch là người gương mẫu thực hiện đầu tiên và triệt để,

theo đó, nếu những buổi dùng cơm với khách trùng vào ngày nhịn ăn, Người tự động nhịn bù vào ngày hôm sau Tại buổi khai mạc lễ phát động phong trào cứu đói được

tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội sau đó, Hồ Chủ tịch đã

đem phần gạo nhịn ăn của mình đóng góp trước tiên

Trang 30

Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như cho phép vận chuyển thóc gạo; nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào những công việc chưa thật

sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu

gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban có nhiệm vụ lo việc vận

chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc (công việc này đã

bị đình trệ sau đó vì thực dân Pháp tái chiếm Nam bộ) Ngày 2-11-1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn

Văn Tố – một nhân sĩ nổi tiếng – quyết định thành lập Hội Cứu đói Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các

ăn”, “Đoàn quân tiễu trừ giặc đói” Hàng vạn tấn gạo

đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào bị đói góp phần cứu đói kịp thời.

Trang 31

Cùng với quá trình khẩn cấp cứu đói, để đảm bảo giải

quyết căn cơ và triệt để nạn đói, Chính phủ phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia

sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của

ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” Trong tháng 10 và 11 năm 1945,

Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt Bộ Quốc dân

Kinh tế ra thông tri qui định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng Ngày 19-11-

1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách

vấn đề sản xuất Nhiều chính sách đã được triển khai đồng

bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản

xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán

bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê

điều, đắp thêm một số đê mới

Trang 32

Phong trào tăng gia, sản xuất diễn ra sôi nổi

trong khắp cả nước kể từ Chủ tịch Chính phủ

đến mọi cán bộ cao cấp của Đảng ngoài giờ làm việc chính thức đều tham gia Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, phong trào tăng gia sản

xuất đã thu được kết quả to lớn Sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục, nạn đói

được đẩy lùi, đời sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân dần ổn định Chỉ trong 5 tháng từ

tháng 11-1945 đến tháng 5-1946, sản lượng

lương thực, chủ yếu là màu đạt tương đương

506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945 Đến hết năm 1946, nạn đói đã

cơ bản được giải quyết.

Trang 33

Nhà sử học Lê Thành Khôi ở Pháp trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam

từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX viết về chính sách và việc làm của

Chính phủ mới khi ấy để khắc phục nạn đói này: “Một nạn đói mới

đang là mối đe dọa cận kề nhất… Nhà nước tung ra một chiến dịch

toàn quốc với khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất” và “Không để hoang một tấc đất, một cánh tay nhàn rỗi” Một nghị định được ban hành sẽ trao đất hoang cho tất cả những ai có thể khai thác Nỗ lực của mọi người

và sự thi đua yêu nước đã dựng lại các con đê, tăng gia sản xuất các

hoa màu phụ: khoai lang, ngô, sắn, đậu nành; vụ gặt tháng 5 đảm bảo lương thực cho thời gian giáp hạt” Cụ Vũ Đình Hòe, Nguyên Bộ trưởng

Bộ Quốc gia Giáo dục và Tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong hồi ký của mình đã đưa vào phần phụ lục nội dung bài viết của tác giả Hoàng Văn Đức, Giám đốc Nha Nông chính Bắc kỳ với tựa đề

“Hai thắng lợi của cách mạng Việt Nam” Theo tác giả Hoàng Văn Đức, hai thắng lợi đó là Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 và chiến dịch chống nạn đói cuối năm 1945 đầu năm 1946 với những lời lẽ thật xúc động:

“… Những người đó đã chiến thắng trên đồng ruộng Động lực giải

phóng của Mặt trận Việt Minh, dân tộc Việt Nam nắm vững chủ quyền của mình Cách mạng đã thắng nạn đói” Trong lễ kỉ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, ông Võ Nguyên Giáp khi ấy là Chủ tịch quân

sự, Ủy viên trong Chính phủ liên hiệp đã tuyên bố: “Cuộc cách mạng

đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kì công của chế độ dân chủ”.

Trang 34

Tuần lễ vàng

Trang 35

Cận cảnh tuần lễ vàng

Trang 37

CHỐT LẠI

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng các thế hệ

người Việt Nam vẫn không thể nào quên

những ký ức đau thương về nạn đói khủng

khiếp năm 1944 – 1945 Đó cũng là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn có ý thức tự lực,

tự cường, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất

nước, cảnh giác và sẵn sàng chống lại các thế lực ngoại xâm; đồng thời, phải chủ động phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng với các nước khu vực và thế giới, vì mục tiêu "dân giàu,

nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh".

Trang 38

THE END

Ngày đăng: 06/12/2021, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w