1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ths các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh ninh thuận

121 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 807,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Vấn đề nghiên cứu (11)
  • 2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (12)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (12)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (12)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (12)
    • 2.2. Câu hỏi nghiên cứu (12)
  • 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu (12)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (12)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (13)
    • 4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (13)
  • 5. Đóng góp mới của đề tài (13)
  • 6. Kết cấu luận văn (13)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH (15)
    • 1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước (15)
      • 1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài (15)
      • 1.2.1. Nhận xét tổng quan các nghiên cứu (19)
      • 1.2.2. Khe hổng nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (22)
    • 2.1. BCTC và đặc điểm của BCTC trong DNNVV (0)
      • 2.1.1. Báo cáo tài chính (22)
      • 2.1.2. Đặc điểm BCTC áp dụng cho DNNVV (23)
    • 2.2. Chất lượng BCTC (26)
      • 2.2.1. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực KTTC Mỹ (FASB) (0)
      • 2.2.3. Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) (29)
      • 2.2.4. Theo quan điểm hội tụ FASB và IASB (30)
      • 2.2.5. Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 01 (VAS 01) (31)
    • 2.3. Các lý thuyết nền liên quan (0)
      • 2.3.1. Lý thuyết ủy nhiệm (32)
      • 2.3.2. Lý thuyết tín hiệu (33)
      • 2.3.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (34)
      • 2.3.4. Lý thuyết thông tin hữu ích (35)
    • 2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC (35)
      • 2.4.1. Quyết định của nhà quản trị (36)
      • 2.4.2. Quy mô công ty (36)
      • 2.4.3. Quy định về thuế (37)
      • 2.4.4. Trình độ kế toán viên (39)
      • 2.4.5. Các quy định pháp lý về kế toán (40)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Quy trình nghiên cứu (42)
    • 3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu (44)
      • 3.2.1. Mô hình nghiên cứu (44)
      • 3.3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (46)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (47)
        • 3.3.2.1. Xây dựng thanh đo (47)
        • 3.3.2.2. Mẫu nghiên cứu (50)
        • 3.3.2.3. Đối tượng và phạm vi khảo sát (51)
        • 3.3.2.4. Phân tích dữ liệu (51)
        • 3.3.2.5. Công cụ phân tích dữ liệu (52)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (54)
    • 4.1. Nghiên cứu định tính (54)
    • 4.2. Nghiên cứu định lượng (55)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả mẫu khảo sát (55)
      • 4.2.2. Phân tích hệ số Cronbach’s alpha (57)
      • 4.2.3. Phân tích khám phá nhân tố (62)
        • 4.2.3.1. Phân tích khám phá thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến CL BCTC (63)
        • 4.2.3.2. Ph ân tích khám phá thang đo chất lượng BCTC (65)
      • 4.2.4. Phân tích hồi quy (67)
        • 4.2.4.1. Phân tích tương quan (68)
        • 4.2.4.2. Phân tích hồi quy (68)
        • 4.2.4.3. Kiểm định sự phù hợp của mô hình và hiện tượng đa cộng tuyến (69)
        • 4.2.4.4. Phương trình hồi quy tuyến tính bội (70)
    • 4.3. Bàn luận kết quả nghiên cứu (71)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (77)
    • 5.1. Kết luận (77)
    • 5.2. Kiến nghị (77)
      • 5.2.1. Đối với nhân tố các quy định pháp lý về kế toán (78)
      • 5.2.2. Đối với nhân tố trình độ KTV (0)
      • 5.2.3. Đối với nhân tố quy mô doanh nghiệp (79)

Nội dung

Đóng góp mới của đề tài Ngoài những nghiên cứu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT, tính minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp niêm yết, các doanh nghiệp lớn, các tác giả V

Vấn đề nghiên cứu

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài chính đóng vai trò then chốt trong việc mở rộng quy mô và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Vốn chủ sở hữu và vốn vay là hai nguồn vốn chính hỗ trợ tăng trưởng cho DNNVV, trong đó các doanh nghiệp hình thành ở tỉnh nhỏ phụ thuộc nhiều vào nguồn vay từ các tổ chức tín dụng để duy trì hoạt động Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng đối với DNNVV gặp nhiều khó khăn, khiến câu hỏi làm thế nào để cải thiện tình hình tiếp cận các nguồn tài chính ngân hàng của DNNVV được quan tâm ngày càng lớn từ các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới (Blackwell & Winter 2000; Deakins & Hussain).

Theo Deakins và Husain (1994), báo cáo tài chính (BCTC) đóng vai trò quan trọng trong quyết định cho vay của các ngân hàng và là nguồn tài chính chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; vì vậy, tính đầy đủ, minh bạch và chuẩn xác của BCTC có thể ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của DNNVV.

Nguyễn Văn Thắng (2005) cho rằng điều kiện tiên quyết để các DNNVV có thể tăng khả năng tiếp cận nguồn tài chính từ các tổ chức tín dụng là một báo cáo tài chính minh bạch và thông tin công bố đáng tin cậy Nguyên nhân chính khiến các tổ chức tín dụng hạn chế cho DNNVV vay là do mức độ rủi ro cao từ thông tin không đối xứng, dẫn đến tăng chi phí thu thập thông tin để đưa ra quyết định cho vay và giám sát khách hàng (Howrth, Carole, & Moro., 2006) Để lập được một báo cáo tài chính có chất lượng, người lập cần nhận diện các yếu tố tác động đến CLBCTC nhằm xây dựng hệ thống kế toán phù hợp cho từng loại hình doanh nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản như phù hợp, kịp thời, đầy đủ, tin cậy và có thể so sánh được.

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, bài nghiên cứu mang tựa đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Ninh Thuận" nhằm làm rõ mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng báo cáo tài chính Bằng chứng thực nghiệm thu thập từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Ninh Thuận cho thấy mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan với tính đầy đủ, kịp thời và độ tin cậy của báo cáo tài chính Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quản trị tài chính và chất lượng báo cáo tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Ninh Thuận, đồng thời cung cấp cái nhìn thực tế cho các nhà quản trị, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng khoa học về tài chính doanh nghiệp tại khu vực này.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm nhận diện và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Mục tiêu tổng quát là đánh giá các yếu tố này và đo lường mức độ ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính tin cậy và tính minh bạch của CLBCTC tại địa phương Nghiên cứu tập trung phân tích các nhân tố như quy mô doanh nghiệp, mức độ áp lực vốn, hệ thống kiểm soát nội bộ và mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán để cung cấp một cái nhìn toàn diện cho quản trị và nhà đầu tư quan tâm đến thị trường Ninh Thuận.

Nghiên cứu có hai mục tiêu:

(1) Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận

(2) Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLBCTC của các

DNNVV tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Câu hỏi nghiên cứu

Có hai câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNVV tại Ninh Thuận?

(2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào?

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là CLBCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV.

Phạm vi nghiên cứu

Các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận năm 2018.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định tính

Phỏng vấn các chuyên gia và thảo luận chuyên sâu để lựa chọn các thước đo CLTT phù hợp nhằm trình bày trên BCTC, đồng thời nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLBCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Kết quả cho thấy việc xác định danh mục thước đo tối ưu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng sẽ nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, tăng tính minh bạch và hỗ trợ quản trị doanh nghiệp tại địa phương.

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Thiết kế bảng câu hỏi, tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu, trong đó kiểm tra độ tin cậy bằng Cronbach’s alpha và thực hiện phân tích nhân tố EFA để nhận diện cấu trúc yếu tố Tiếp đó, áp dụng phân tích hồi quy bội để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến CLBCTC của các DNNVV tại Ninh Thuận.

Đóng góp mới của đề tài

Ngoài các nghiên cứu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT và tính minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp niêm yết và các doanh nghiệp lớn, các tác giả Việt Nam cũng đã thực hiện những nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTT trên BCTC của các DNNVV như Trần Đình Nguyên (2010), Nguyễn Thành Trung (2014) và Đặng Thị Kiều Hoa (2016) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ thực hiện tại các DNNVV ở các thành phố lớn và chưa có nghiên cứu nào trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Vì vậy, đề tài này được thực hiện nhằm nâng cao CLTT của các DNNVV, giúp cho người sử dụng BCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh – chủ yếu là cơ quan thuế và ngân hàng – tăng sự tin cậy đối với chất lượng BCTC và nâng cao tính trung thực, chính xác của BCTC.

Kết cấu luận văn

Phần mở đầu: Vấn đề nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTCChương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Tổng quan các nghiên cứu trước

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Theo nghiên cứu của Heidi (2001) về các yếu tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính (CLBCTC), các nhân tố này được nêu ra gồm: mục đích và nhu cầu của người sử dụng BCTC (nhà đầu tư, ngân hàng, chủ sở hữu, nhà cung cấp, nhân viên, khách hàng…); quyết định của nhà quản trị như các chính sách kế toán áp dụng; cơ chế quản lý nội bộ; cơ chế quản lý ngoài doanh nghiệp (như vai trò của chính phủ và chất lượng kiểm toán); và các quy định liên quan đến khung pháp lý, chuẩn mực kế toán và các quy định quản trị khác có tác động đến CLBCTC.

Dựa trên nghiên cứu của Hongjiang Xu (2003) về các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT (AIS) trên BCTC tại các công ty ở Australia, tác giả bổ sung cho nghiên cứu của Heidi (2001) bằng cách phân nhóm các yếu tố nội sinh và ngoại sinh liên quan gồm: hệ thống kiểm soát doanh nghiệp (quy mô và văn hóa doanh nghiệp), yếu tố con người (đào tạo và huấn luyện nhân viên), và các yếu tố bên ngoài (sự thay đổi công nghệ, các quy định của chính phủ, những thay đổi về pháp lý) Theo nghiên cứu của Soderström & Sun (2007), chất lượng TTKT châu Âu khi áp dụng IFRS bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh được phát triển từ các nghiên cứu trước, gồm hệ thống pháp luật và chính trị của một quốc gia, chuẩn mực kế toán và động lực thực hiện BCTC, trong đó pháp luật và chính trị của một nước có tác động trực tiếp đến CLTT trên BCTC.

Theo Muhamad và cộng sự (2009), nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin công bố (CLTT) trên BCTC của 159 công ty niêm yết tại Malaysia cho thấy các yếu tố bên ngoài tiếp tục tác động đến CLTT và các yếu tố nổi bật được xác định là đòn bẩy kinh tế, quy mô doanh nghiệp và ngành công nghiệp.

Nghiên cứu của Hassan (2013) phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm giám sát, trong đó đặc biệt là việc tách rời quyền lực giữa hội đồng quản trị và cơ quan kiểm toán độc lập, đối với chất lượng báo cáo tài chính (CLBCTC) của các doanh nghiệp sản xuất tại Nigeria Kết quả cho thấy cơ cấu giám sát của các doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể tới CLBCTC ở Nigeria, cho thấy sự phân chia quyền lực giữa quản trị và kiểm toán có thể tác động đến độ chính xác, minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này.

Tác giả Onuorah, Anastasia Chi-Chi (2015) nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và CLBCTC tại các công ty ở Nigeria, phát triển từ nghiên cứu của Hassan

(2013) đã thì chỉ ra rằng mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến CLBCTC trong ngắn hạn giữa các doanh nghiệp tại Nigeria.

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Đề tài cấp bộ của Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp lý về kế toán và công tác kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam Kết luận cho rằng nguyên nhân căn bản là hệ thống pháp lý về kế toán còn yếu kém do thực hành kế toán tại doanh nghiệp chưa chuẩn chỉnh và thiếu đồng bộ Tác giả nhấn mạnh rằng khi nâng cao chất lượng hệ thống pháp lý và cải thiện công tác kế toán tại doanh nghiệp thì chất lượng thông tin kế toán (CLTTKT) sẽ được nâng cao Do đó, việc cải thiện khung pháp lý và thực hành kế toán có tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính và quyết định quản trị.

Võ Văn Nhị và Trần Thanh Hải (2013) bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của DNNVV ở Việt Nam ngoài các yếu tố từ nghiên cứu cấp bộ (Võ Văn Nhị và cộng sự, 2011), gồm tổ chức quản lý, người thực hiện công tác kế toán, các quy định kế toán và nhu cầu thông tin của người dùng, cho thấy công tác kế toán tại DNNVV còn nhiều yếu kém; kế toán viên chỉ ghi chép mà chưa thực hiện phân tích hay kiểm tra tính hiệu quả của doanh nghiệp, dẫn đến chất lượng thông tin trên BCTC bị ảnh hưởng lớn Đào Ngọc Hạnh (2014) đánh giá các yếu tố tác động đến chất lượng HTTTKT tại DNNVV trên địa bàn TP.HCM với mô hình hồi quy có biến phụ thuộc là CLTTKT và 8 biến độc lập gồm: cam kết của nhà quản trị, kiến thức về sử dụng HTTTKT của nhà quản trị, kiến thức kế toán của nhà quản trị, hiệu quả của phần mềm và quy trình ứng dụng kế toán, chất lượng dữ liệu, đào tạo và hiệu quả tham gia của nhân viên, huấn luyện và đào tạo, văn hóa doanh nghiệp; qua các bước Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan và hồi quy dựa trên dữ liệu từ 200 DNNVV, tác giả cho thấy có 3 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT là sự tham gia của nhân viên, cam kết của nhà quản trị và kiến thức sử dụng công nghệ HTTTKT của nhà quản trị, trong đó sự tham gia của nhân viên là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNY trên TTCK tại Việt Nam Mô hình nghiên cứu được tác giả xây dựng với các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC gồm 23 biến độc lập (nhân tố) và biến phụ thuộc chia là 5 nhóm nhân tố bao gồm: (1) Nhóm nhân tố liên quan cơ cấu sở hữu (2) Nhóm nhân tố liên quan, (3) nhóm nhân tố liên quan cơ cấu vốn, (4) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường và (5) nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công ty Kết quả cho thấy có 17 nhân tố có tác động đến CLBCTC

Theo nghiên cứu về đánh giá các yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC của DNNY ở SGDCK TPHCM của tác giả Cao Nguyễn Lệ Thu (2014) Tác giả đã kế thừa các nghiên cứu có liên quan đến yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến CLTTKT và đưa ra 10 nhân tố của đặc điểm tài chính thuộc về nhân tố bên trong doanh nghiệp Đồng thời nhân tố kết cấu vốn nhà nước được tác giả bổ sung vào mô hình nghiên cứu đã cho thấy CLTTKT trên BCTC của

Doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK TP.HCM chịu tác động từ ba yếu tố chủ đạo: tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành (tỷ lệ cổ đông độc lập), quy mô doanh nghiệp và kết cấu vốn của nhà nước.

Nguyễn Trọng Nguyên (2015) nghiên cứu tác động của quản trị doanh nghiệp đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cho thấy: tỉ lệ thành viên HĐQT trong tổng số hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận với chất lượng BCTC; các thành viên HĐQT có kiến thức và kinh nghiệm về kế toán – tài chính có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng BCTC; tỉ lệ thành viên BKS có chuyên môn kế toán – tài chính trong BKS càng cao thì chất lượng BCTC càng cao; chất lượng BCTC cũng bị ảnh hưởng bởi bộ phận kiểm toán nội bộ.

Nghiên cứu của Theo Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) phân tích kiểm soát sự minh bạch của thông tin tài chính công bố của các doanh nghiệp nhà nước niêm yết (DNNY) tại Việt Nam Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các yếu tố phản ánh đặc điểm và quản trị công ty, bao gồm đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu Hội đồng quản trị, ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam.

Nghiên cứu của Theo Trương Thị Kim Thủy (2016) phân tích ảnh hưởng của quản trị công ty đến CLTTKT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM Tác giả kết luận việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO làm giảm CLTTKT trên BCTC, trong khi tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc cấp cao có mối quan hệ thuận với CLTTKT trên BCTC.

Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Trung (2016) về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trình bày thông tin trên BCTC của các DNNVV ở TPHCM, cho thấy có sự ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố này đến cách trình bày thông tin tài chính Kết quả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý thông tin và tuân thủ chuẩn mực kế toán đối với chất lượng và tính minh bạch của báo cáo tài chính của các DNNVV tại TP.HCM Từ đó rút ra các gợi ý để tăng cường độ tin cậy và hiệu quả của BCTC, hỗ trợ người đọc và nhà đầu tư hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố.

7 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán được trình bày trên báo cáo tài chính gồm: hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống chứng từ kế toán, hình thức ghi sổ kế toán, nhà quản trị, thuế, bộ máy kế toán và mục tiêu của báo cáo tài chính Mỗi yếu tố này góp phần quyết định chất lượng thông tin kế toán bằng cách đảm bảo tính nhất quán và đầy đủ dữ liệu (hệ thống tài khoản kế toán), tăng tính minh bạch và khả năng kiểm tra (hệ thống chứng từ kế toán), cải thiện mức độ chi tiết và dễ hiểu của sổ sách (hình thức ghi sổ kế toán), định hướng của quản trị về chuẩn mực và kiểm soát chất lượng dữ liệu (nhà quản trị), tuân thủ quy định và ảnh hưởng tới độ đầy đủ của số liệu (thuế), vận hành hiệu quả các quy trình ghi nhận và kiểm soát thông tin (bộ máy kế toán), và xác định mục tiêu, ưu tiên trình bày thông tin cho người dùng báo cáo tài chính (mục tiêu BCTC) Những yếu tố này phối hợp với nhau để tăng cường độ tin cậy, tính kịp thời và hữu ích của báo cáo tài chính với các bên liên quan.

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) xây dựng một mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) thông qua bốn nhân tố: niêm yết chứng khoán, kiểm toán độc lập, áp lực về thuế và chất lượng phần mềm kế toán Kết quả cho thấy có 3 nhân tố tác động đáng kể đến tính thích đáng của CLBCTC ở Việt Nam, trong đó áp lực về thuế là yếu tố tác động mạnh nhất với beta = -0.373 và chất lượng phần mềm kế toán có tác động yếu nhất Với hệ số điều chỉnh R2 đạt 0.324, nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đối với thuộc tính chính đáng của CLBCTC trên BCTC.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chất lượng BCTC

BCTC là báo cáo tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, đồng thời thể hiện tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Nói cách khác, báo cáo tài chính là công cụ trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của DN cho các đối tượng quan tâm như chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng Một BCTC chất lượng là báo cáo chứa những thông tin kế toán có chất lượng, đáp ứng các chuẩn mực kế toán và giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động và tình hình vốn của doanh nghiệp.

2.2.1 Theo quan điểm của các nhà nghiêncứu

Nghiên cứu của Theo Biddle, Hilary và Verdi (2009) cho thấy hiệu quả đầu tư có tác động đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Chất lượng BCTC được định nghĩa là độ chính xác mà báo cáo tài chính truyền tải thông tin về hoạt động của công ty Định nghĩa này phù hợp với tuyên bố của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính về khái niệm kế toán tài chính số 1 (1978), theo đó mục tiêu của báo cáo tài chính là giúp các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng đưa ra quyết định đầu tư hợp lý và đánh giá dòng tiền dự kiến của công ty.

Theo nghiên cứu của Kamaruzaman, Mazlifa và Maisarah (2009) về tác động của quy chế quản trị công ty đối với CLTTTC, báo cáo tài chính (BCTC) được xem như công cụ giao tiếp chính giữa doanh nghiệp và các bên liên quan như chính phủ, cổ đông, người lao động, ngân hàng, nhà cung cấp, chủ nợ và các bên liên quan khác BCTC phải cung cấp thông tin có liên quan, đáng tin cậy và có thể so sánh được, đồng thời trình bày ở dạng dễ hiểu để người dùng có thể đưa ra quyết định của họ.

Trong nghiên cứu của Wright (2010) về lịch sử CLBCTC tại Úc, tác giả cho thấy CLBCTC được cấu thành từ bốn yếu tố thiết yếu là phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh và dễ hiểu; bên cạnh đó còn có hai yếu tố liên quan bổ sung là tính hữu dụng và tính trọng yếu.

Trong nghiên cứu của Wright (2010) về lịch sử chất lượng báo cáo tài chính tại Úc, có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính: độ tin cậy, tính phù hợp, tính so sánh được và tính dễ hiểu Nghiên cứu cũng chỉ ra thêm hai yếu tố liên quan là tính hữu dụng và tính trọng yếu, nhằm làm rõ cách các tiêu chí này gắn với chất lượng báo cáo tài chính (CLBCTC) và hỗ trợ quá trình đánh giá, cải thiện chất lượng báo cáo tài chính theo thời gian.

Theo Phạm Thị Thủy và Nguyễn Thị Lan Anh (Quantri.vn), để BCTC hữu ích cho người sử dụng, chất lượng thông tin trên BCTC (CLTT) cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau: thông tin tài chính phải đầy đủ, trung thực và có ý nghĩa; dữ liệu phải kịp thời, dễ hiểu và có thuyết minh đầy đủ về giả định, ước lượng và cơ sở chuẩn mực; thông tin được trình bày rõ ràng, nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp; có sự cân đối giữa định lượng và định tính, đồng thời cung cấp các chỉ tiêu và phân tích giúp người dùng đánh giá tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động và đòn bẩy tài chính; toàn bộ CLTT nên tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan để tăng tính tin cậy và hỗ trợ quyết định của người dùng.

Tin cậy là yếu tố sống còn của BCTC: thông tin trên báo cáo được xem là đáng tin cậy khi mang tính khách quan, không bị chi phối bởi ý kiến chủ quan của bất kỳ cá nhân nào và có thể được thẩm định đồng thời, rõ ràng và đầy đủ Để nâng cao độ tin cậy của BCTC, ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán về tuân thủ chuẩn mực kế toán, tính khách quan và trung thực đóng vai trò quan trọng, giúp người dùng tin tưởng vào tính chính xác, minh bạch và đầy đủ của thông tin tài chính được công bố.

Thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) cần được công khai một cách kịp thời bởi ngay cả khi dữ liệu đáng tin cậy, sự chậm trễ có thể khiến doanh nghiệp không đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn Vì quyết định kinh doanh mang tính thời điểm, thiếu thông tin tài chính được công bố kịp thời có thể dẫn đến sai lệch quyết định của người dùng Theo quy định, BCTC phải được công bố sau 90 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính và sau 30 ngày kể từ khi kết thúc quý đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Để thông tin BCTC có thể so sánh được, các khoản mục phải được trình bày nhất quán giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân thủ và áp dụng hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán trong việc ghi nhận số liệu để lập BCTC Nếu có sự thay đổi về nội dung hoặc hình thức giữa các kỳ kế toán, doanh nghiệp cần giải thích chi tiết trong thuyết minh BCTC.

Thông tin trên BCTC nên phản ánh bản chất kinh tế của các nghiệp vụ, chứ không chỉ trình bày theo hình thức pháp lý Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa bản chất kinh tế và hình thức pháp lý, BCTC cần trình bày theo bản chất kinh tế của nghiệp vụ để thông tin phản ánh đúng bản chất giao dịch, từ đó giúp người dùng nắm được giá trị thực sự, rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Trọng yếu là nguyên tắc trong kế toán nhằm đảm bảo cung cấp cho đối tượng sử dụng những thông tin quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định Kế toán có thể tập hợp và trình bày các thông tin không thuộc cùng một khoản mục, nhưng những thông tin này phải được trình bày cụ thể trên BCTC nếu chúng có tính trọng yếu và tác động đến quyết định của người dùng báo cáo tài chính.

Phù hợp đảm bảo BCTC cung cấp những thông tin người dùng cần để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong thực tế, tính phù hợp và tính tin cậy của thông tin trên BCTC có thể mâu thuẫn với nhau, và khi gặp mâu thuẫn này cần bổ sung thông tin trên thuyết minh BCTC để người dùng có thể đánh giá đúng đắn tình hình tài chính Thuyết minh BCTC đóng vai trò làm rõ các ước lượng và chi tiết kèm theo, giúp tăng tính đầy đủ và đáng tin cậy của báo cáo tài chính, đồng thời hỗ trợ quá trình ra quyết định dựa trên dữ liệu được trình bày một cách có hệ thống và dễ hiểu.

2.2.2 Theo quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB)

Theo quan điểm của FASB, CLTT trên BCTC (báo cáo tài chính) được chia thành hai nhóm đặc điểm: nhóm đặc điểm cơ bản và nhóm đặc điểm thứ yếu Nhóm đặc điểm cơ bản gồm tính thích hợp và tính đáng tin cậy; nhóm đặc điểm thứ yếu gồm tính nhất quán và có thể so sánh được Ngoài ra, FASB nêu rõ các hạn chế khi thực hiện các đặc điểm của CLTT, như mối quan hệ chi phí – lợi ích, yếu tố trọng yếu và nguyên tắc thận trọng.

Tính phù hợp (relevant) là yếu tố then chốt quyết định chất lượng thông tin Thông tin phù hợp là thông tin có giá trị dự báo và kịp thời, giúp người dùng đưa ra quyết định phù hợp một cách nhanh chóng và đúng đắn Để tối ưu SEO, nội dung cần làm rõ mức độ ứng dụng thực tế, độ tin cậy và thời gian phù hợp với nhu cầu của độc giả, từ đó tăng khả năng tương tác và hiệu quả của quyết định mà người dùng đưa ra.

- Tính tin cậy (reliability): Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung thực, khách quan không có sai sót và có thể kiểm chứng

Tính so sánh được của thông tin tài chính doanh nghiệp là yếu tố làm tăng giá trị hữu ích khi được so sánh với thông tin tương tự của các doanh nghiệp khác hoặc so sánh theo thời gian tại cùng một doanh nghiệp Nhờ tính so sánh, người dùng báo cáo tài chính (BCTC) có thể nhận thấy sự tương tác và khác biệt giữa hai hiện tượng kinh tế, từ đó có cái nhìn sâu sắc về hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển của doanh nghiệp so với ngành và quá khứ.

Các lý thuyết nền liên quan

Báo cáo tài chính phải được trình bày rõ ràng và dễ hiểu đối với người sử dụng, đặc biệt là những người có hiểu biết trung bình về kinh doanh, kinh tế, tài chính và kế toán Thông tin về các vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình đầy đủ trong phần thuyết minh để người đọc nắm bắt bản chất và phương pháp ghi nhận các khoản mục.

Việc so sánh các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được khi các số liệu được tính toán và trình bày một cách nhất quán Trong trường hợp không nhất quán, cần giải trình trong phần thuyết minh để người dùng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực tế với thông tin dự toán, kế hoạch.

Dựa trên các quan điểm nêu trên, mặc dù có một số điểm khác biệt, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC Từ cơ sở lý thuyết, quan điểm của các nhà nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu đã thực hiện trước đây, luận văn sử dụng năm đặc tính chất lượng là tính thích hợp, tính trung thực, tính dễ hiểu, tính kịp thời và tính so sánh được để đánh giá và cải thiện chất lượng báo cáo tài chính.

2.3 Các lý thuyết nền có liên quan

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết ủy nhiệm, được Jensen và Meckling giới thiệu năm 1976, phân tích mối quan hệ ủy quyền giữa bên chủ sở hữu (nhà đầu tư) và bên nhận ủy quyền (nhà quản lý) Lý thuyết cho rằng mối quan hệ này giống một hợp đồng: chủ sở hữu thuê người quản lý để thực hiện nhiệm vụ và đưa ra quyết định nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Người quản lý đại diện cho chủ sở hữu trong các quyết định và hành động, nhưng có thể phát sinh xung đột lợi ích và chi phí giám sát Các chi phí ủy nhiệm, rủi ro thông tin bất đối xứng và các cơ chế kích thích được nhấn mạnh như những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quan hệ chủ-nhân và sự đồng thuận về mục tiêu.

Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng khi thông tin bất cân xứng và không đầy đủ sẽ tạo xung đột lợi ích giữa đại diện là người quản lý và chủ thể là cổ đông trong doanh nghiệp Khi hai bên có lợi ích khác biệt, cần có cơ chế quản trị công ty thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý Lợi ích của nhà quản lý không luôn gắn với lợi ích của cổ đông nên họ thường có hành vi tư lợi trong các quyết định kinh doanh và đầu tư Vì vậy, cần xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp và hệ thống giám sát hiệu quả để kiểm soát hành vi tư lợi của nhà quản trị.

Theo Healy và Palepu (2001), để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị, cần có hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị và nhà đầu tư và thỏa thuận thù lao cũng như tiền thưởng cho nhà quản trị Hợp đồng này phải kết nối động lực quản trị với giá trị cổ đông bằng cách cân nhắc rủi ro và thông tin bất đối xứng, bảo đảm các khoản thù lao và thưởng phản ánh đóng góp thực tế của nhà quản trị và thúc đẩy hiệu suất, sự minh bạch và tăng trưởng của doanh nghiệp.

Theo Jensen và Meckling (1976), lý thuyết đại diện cho thấy người nhận ủy quyền sẽ không luôn hành động vì lợi ích của bên ủy quyền, do tồn tại mâu thuẫn lợi ích giữa bên ủy quyền và người nhận ủy quyền khi ra quyết định trong hoạt động của công ty.

Vì vậy, chi phí ủy nhiệm được người ủy quyền sử dụng để người nhận ủy quyền ra quyết định theo hướng tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền Chi phí ủy nhiệm bao gồm các chi phí liên quan đến giám sát và thu thập thông tin, thiết kế cơ chế động lực và ràng buộc hợp đồng, cũng như các rủi ro do thông tin bất cân xứng dẫn đến hành vi không tối ưu.

Lý thuyết ủy nhiệm là cơ sở giải thích tại sao người nhận ủy nhiệm chọn những chính sách kế toán và cách công bố thông tin kế toán có lợi nhất cho họ, nhằm tối ưu hóa lợi ích cá nhân và giảm thiểu chi phí phát sinh khi môi trường bên ngoài thay đổi Những quyết định này phản ánh động cơ riêng tư và rủi ro liên quan đến sự biến động của các yếu tố bên ngoài, đồng thời ảnh hưởng đến tính minh bạch của báo cáo tài chính Vì vậy, lý thuyết ủy nhiệm cho chúng ta hiểu rõ sự lệch hướng trong chọn lựa và công bố thông tin, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thiết kế hệ thống kế toán để hạn chế động cơ riêng tư và bù đắp chi phí thay đổi môi trường.

Như vậy, dựa vào lý thuyết này, luận văn sẽ nghiên cứu các nhân tố: quyết định nhà quản trị.

2.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)

Lý thuyết tín hiệu mô tả hành vi của bên có thông tin và bên cần thông tin trên thị trường: một bên phát tín hiệu cho thị trường và một bên sử dụng tín hiệu đó Mục tiêu của lý thuyết tín hiệu là giảm thông tin bất cân xứng giữa hai bên, từ đó cải thiện tính minh bạch và hiệu quả của thị trường tài chính và kinh tế.

Thuyết tín hiệu của Spence (1973) được phát triển để làm sáng tỏ bất cân xứng thông tin trong thị trường lao động và được áp dụng để giải thích hiện tượng công bố thông tin trong báo cáo của công ty (Ross, 1977) Kết quả của bất cân xứng thông tin cho thấy các công ty có động cơ phát tín hiệu cho nhà đầu tư bằng cách công bố thông tin nhất định nhằm chứng minh họ vượt trội so với các công ty khác trên thị trường, với mục tiêu thu hút vốn đầu tư và nâng cao danh tiếng (Verrecchia, 1983).

TTKT trên BCTC là tín hiệu mà các công ty gửi ra thị trường; để tạo niềm tin cho nhà đầu tư và các bên liên quan, doanh nghiệp phải công bố thông tin trên BCTC một cách đáng tin cậy và minh bạch Để nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC, doanh nghiệp chú trọng tăng cường kiểm soát nội bộ và đào tạo trình độ đội ngũ nhân viên kế toán, đồng thời thực hiện nghiêm các quy định về thuế và các quy định pháp lý liên quan đến kế toán.

Như vậy, dựa vào lý thuyết này, luận văn sẽ nghiên cứu các nhân tố: quy mô công ty, quy định thuế, các quy định pháp lý về kế toán, trình độ kế toán viên

2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information)

Lý thuyết thông tin bất cân xứng xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970 và được nghiên cứu bởi các nhà khoa học là George Akerlof, Michael and Joseph Stiglitz Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại Tình trạng bất cân xứng hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực như thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, thị trường nhà đất, …

Theo Joseph Stiglitz (nhà kinh tế học người Mỹ, đạt giải Nobel năm 2011) có hai nguyên nhân gây ra bất cân xứng thông tin Một là, những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm đến những đối tượng khác nhau và lượng thông tin của họ về cùng một đối tượng là khác nhau Mức độ chênh lệch thông tin phụ thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường Hai là, do chủ thể kinh tế khi tham gia giao dịch cố tình che giấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán, giao dịch

Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC

Trong chương 1, tác giả đã liệt kê một số bài nghiên cứu trong và ngoài nước về CLBCTC và các nhân tố có tác động đến CLBCTC Do vậy, tác giả xin kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu với việc tổng hợp các ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và đưa vào nghiên cứu trong bài luận văn các nhân tố tác động đến BCTC Dựa theo nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa - thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM” có 5 nhân tố tác động đến chất lượng BCTC gồm: quy định về thuế, quy mô công ty, người lập BCTC, tổ chức kiểm toán, quyết định của nhà quản trị và các quy định pháp lý về kế toán Tuy nhiên, theo thực trạng các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận thì BCTC của các doanh nghiệp này không thực hiện công tác kiểm toán Vì vậy, trong bài luận văn của mình, tác giả chỉ kiểm định 4 nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận gồm: quy định về thuế, quy mô công ty, trình độ kế toán viên, quyết định của nhà quản trị và các quy định pháp lý về kế toán

2.4.1 Quyết định của nhà quảntrị

Theo nghiên cứu về bất cân xứng thông tin, công bố thông tin và các thị trường bốn của Healy & Palepu (2001) thì chất lượng của BCTC của doanh nghiệp sẽ bị thay đổi và giảm chất lượng do phương pháp kế toán bị ảnh hưởng bởi quyết định của nhà quản trị và các nhà quản trị có xu hướng tìm cách cắt giảm chi phí để làm cho tình hình tài chính kinh của doanh nghiệp tốt hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy nhà quản lý có khả năng can thiệp vào công tác kế toán và BCTC của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích quản trị doanh nghiệp

Như vậy, quyết định của nhà quản trị có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC.

Theo các lý thuyết tín hiệu và lý thuyết đại diện cùng với một số nghiên cứu cho thấy để củng cố niềm tin và thu hút vốn đầu tư, các doanh nghiệp quy mô lớn thường đối mặt với yêu cầu cao về công bố và minh bạch thông tin so với doanh nghiệp quy mô nhỏ Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, quy mô doanh nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu như doanh thu thuần, tổng tài sản, tổng nguồn vốn và tổng lao động Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ thống kế toán yêu cầu càng chặt chẽ hơn thông qua việc đầu tư hệ thống máy móc tin học chất lượng, mua phần mềm kế toán, xây dựng quy trình kế toán rõ ràng, tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ và thuê các công ty kiểm toán uy tín nhằm nâng cao mức độ tin cậy của báo cáo tài chính Vì vậy, doanh nghiệp quy mô lớn có độ tin cậy của báo cáo tài chính cao hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ.

Theo Meek, Roberts & Gray (1995), các yếu tố ảnh hưởng đến thuyết minh báo cáo tài chính hàng năm của Mỹ, Anh và các tập đoàn đa quốc gia ở châu Âu cho thấy quy mô doanh nghiệp là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng báo cáo tài chính và việc áp dụng chuẩn mực kế toán tại doanh nghiệp Nghiên cứu chỉ ra rằng dù áp dụng chuẩn mực kế toán và thực hiện công tác kế toán nghiêm túc, các doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc trang bị nguồn lực để mua phần mềm kế toán, thuê kiểm toán và đào tạo đội ngũ nhân viên, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính.

Trong nghiên cứu năm 2014 của Theo Cao Nguyễn Lê Thu về đánh giá các nhân tố nội bộ tác động đến chất lượng báo cáo tài chính và được trình bày trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng báo cáo tài chính là quy mô doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn và tổng tài sản có giá trị cao sẽ có chất lượng báo cáo tài chính được đảm bảo hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn.

Trong nghiên cứu năm 2015 của Lê Thị Khoa Nguyên và Lê Thị Thanh Xuân về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thuyết minh báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, quy mô công ty được xác định là một trong hai yếu tố quan trọng nhất tác động đến mức độ thuyết minh báo cáo tài chính Kết quả khảo sát cho thấy khi quy mô công ty tăng lên, mức độ công khai thông tin tài chính được cải thiện, cho thấy sự liên hệ chặt chẽ giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ minh bạch của báo cáo tài chính tại Việt Nam.

137 công ty cổ phần niêm yết được khảo sát trong năm 2011

Như vậy, từ các nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động dương với CLBCTC.

Theo nghiên cứu của Desai, M.A., Dyck, A., & Zingales, L (2007) về gian lận và thuế, để giảm sự gia tăng giá trị mục tiêu và chi phí kiểm soát của công ty, cần tăng cường thực thi thuế ở Nga Vì vậy, để bảo vệ lợi ích của cổ đông bên ngoài, cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp và nâng cao chất lượng BCTC, cơ quan thuế cần giám sát chặt chẽ công tác thực thi luật thuế của các doanh nghiệp.

Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2010), một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc vận dụng chế độ kế toán là sự thay đổi trong cơ chế quản lý doanh nghiệp từ phía cơ quan thuế Hiện nay, theo quy định quản lý thuế, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm cao về các báo cáo kế toán của mình, bao gồm báo cáo thuế Cơ quan thuế chỉ thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra mức độ tuân thủ pháp luật của cơ sở kinh doanh và không đi sâu vào quyết toán số liệu như trước đây Quan điểm của nhiều chuyên gia thuế cho rằng sự giám sát và kiểm tra của cơ quan thuế có tác động đáng kể đến chất lượng báo cáo tài chính.

Nghiên cứu của Theo Hanlon, M., Hoopes, J.L., và Shroff, N (2014) cho thấy chất lượng báo cáo tài chính bị ảnh hưởng rõ nét bởi mức độ giám sát của cơ quan thuế Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ phân phối cho cổ đông và các bên liên quan mà còn được phân phối cho chính phủ thông qua hoạt động thu thuế TNDN, vì vậy chính phủ có lợi ích trực tiếp trong việc xác định lợi nhuận được ghi nhận Để giảm số thuế phải nộp, các doanh nghiệp có xu hướng sai lệch báo cáo tài chính, do đó Chính phủ ban hành các chính sách giám sát và quản lý nhằm làm giảm sự sai lệch trên báo cáo tài chính, đặc biệt là ở lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng báo cáo tài chính (CLBCTC) tỷ lệ thuận với hoạt động giám sát của cơ quan thuế.

Phan Thị Minh Nguyệt (2014) nghiên cứu về việc xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTT trên BCTC của các DNNY ở Việt Nam Trong kết quả nghiên cứu, nhân tố có ảnh hưởng đáng kể nhất đến CLTT trên BCTC là quy định về thuế, vì hiện nay phần lớn các doanh nghiệp chưa phân biệt rõ giữa BCTC và báo cáo thuế, nên khi lập BCTC kế toán thường theo mục tiêu thuế và không tuân thủ đúng các quy định thuế hiện hành để giảm nghĩa vụ thuế Do đó, cần thực hiện tốt chính sách thuế nhằm nâng cao CLTT trên BCTC.

Nghiên cứu của Phan Đức Dũng (2014) về đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp đã đề xuất và kiểm định các nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cho rằng nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC là chính sách thuế của Nhà nước được thiết kế phù hợp, và chính sách thuế cũng có tác động cùng chiều với CLTT trên BCTC.

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hưng và Phạm Quốc Thuần (2016) khảo sát các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính thích đáng của chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) Kết quả cho thấy áp lực thuế, chất lượng phần mềm kế toán, mức độ niêm yết chứng khoán và sự độc lập của kiểm toán là các yếu tố tác động đáng kể đến CLTT trên BCTC, trong đó áp lực thuế có tác động mạnh nhất Đáng chú ý là tác động tiêu cực của thuế lên tính thích đáng của CLTT trên BCTC, vì để thuận lợi trong khai báo và quyết toán thuế, doanh nghiệp thường ưu tiên áp dụng quy định thuế trong công tác kế toán và trong quá trình thanh tra, kiểm tra kế toán cũng bị yêu cầu tuân thủ các quy định thuế.

Như vậy, các quy định về thuế có tác động cùng chiều đến CLBCTC

2.4.4 Trình độ kế toán viên

Theo nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên (2010), khi thực hiện công tác kế toán các kế toán viên thường không vận dụng chuẩn mực kế toán mà thay vào đó áp dụng thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, do chuẩn mực kế toán thường mang tính chung và thiếu chi tiết như thông tư, đồng thời năng lực của kế toán viên chưa đủ để áp dụng chuẩn mực một cách chính xác vào thực tiễn hoạt động của đơn vị; vì vậy nghiên cứu cho rằng trình độ kế toán viên ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán vào việc lập báo cáo tài chính (BCTC).

Đồng thời, nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016) cho thấy tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kế toán thường chỉ quan tâm đến mục đích khai thuế và đối phó với cơ quan thuế; vì vậy, khi lập BCTC, báo cáo kế toán phần lớn chỉ phục vụ cho mục đích thuế và tuân thủ luật thuế, khiến sự phân biệt giữa mục đích kế toán và mục đích thuế chưa được thực hiện rõ; để nâng cao chất lượng BCTC, doanh nghiệp cần có đội ngũ kế toán viên có trình độ nhất định và có thể áp dụng chuẩn mực kế toán vào công tác kế toán thực tiễn cũng như trong quá trình lập báo cáo tài chính.

Như vậy, trình độ kế toán viên có tác động cùng chiều với CLBCTC.

2.4.5 Các quy định pháp lý về kế toán

Các quy định pháp lý về kế toán được ban hành nhằm hướng dẫn kế toán viên thực hiện các nghiệp vụ kế toán và lập báo cáo tài chính một cách chuẩn xác Khung pháp lý này bao gồm chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, luật kế toán và các văn bản pháp lý liên quan, nhằm bảo đảm sự nhất quán, tính minh bạch và tuân thủ đầy đủ trong quá trình ghi nhận, tổng hợp và trình bày BCTC.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận văn được kế thừa từ quy trình nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Kiều Hoa (2016) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa - bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM” Bài viết vận dụng khung lý thuyết và phương pháp thực nghiệm từ công trình này để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP.HCM, nhằm làm rõ vai trò của từng nhân tố và cung cấp bằng chứng thực nghiệm có giá trị cho quản trị và chuẩn hóa báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu đóng góp vào hiểu biết về mối quan hệ giữa các yếu tố nội bộ và môi trường kinh doanh với chất lượng BCTC, đồng thời tạo cơ sở cho các nghiên cứu tương tự và áp dụng trong thực tiễn quản trị tài chính và kiểm soát chất lượng BCTC tại khu vực TP.HCM.

Đây là một nghiên cứu hai giai đoạn nhằm xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (CLTT) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Ở giai đoạn đầu, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính để xác định các nhân tố tác động đến CLTT; sau khi xác định được các nhân tố này, tác giả tiếp tục với kiểm định bằng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ninh Thuận.

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước cơ bản sau: xác định vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu chung, thiết lập mục tiêu nghiên cứu cụ thể và căn cứ vào cơ sở lý thuyết để đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng bảng câu hỏi Thông qua nghiên cứu định tính để hoàn thiện bảng câu hỏi, sau đó tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu Cuối cùng là sử dụng công cụ thống kê để kiểm định mô hình và kiểm định thang đo, từ đó xác định kết quả nghiên cứu.

Nguồn: Đặng Thị Kiều Hoa (2016) “Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các

DNNVV - bằng chứng thực nghiệm tại các DNNVV trên địa bàn TP HCM”

- Xác định vấn đề nghiên cứu

Phân tích nhân tố tương quan hồi quy

Khảo sát điều tra mẫu

Bảng câu hỏi hoàn chỉnh

Nghiên cứu định tính Điều chỉnh thang đo

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hưng và Phạm Quốc Thuần (2016) về tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên BCTC được thiết kế với 10 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc, nhằm làm rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ngoại tại đến chất lượng thông tin kế toán được trình bày trên báo cáo tài chính.

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu Nguyễn Xuân Hưng & PhạmQuốc Thuần (2016)

Nguồn: Phạm Quốc Thuần (2016) “Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”

Mô hình nghiên cứu được kế thừa từ Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) Tuy nhiên, do điều kiện thực tế tại DNNVV nên trong luận văn này sẽ loại bỏ biến độc lập niêm yết chứng khoán Bên cạnh đó, các DNNVV tại tỉnh Ninh Thuận chưa thực hiện kiểm toán độc lập nên biến kiểm toán độc lập cũng được loại bỏ Theo nhận định của các chuyên gia khi tiến hành khảo sát, tình hình tài chính của DNNVV ở Ninh Thuận không cho phép các doanh nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nhân viên kế toán cũng như thực hiện kiểm soát nội bộ Cuối cùng, các nhà quản trị của các doanh nghiệp này cũng sẽ không thực hiện hỗ trợ cho các hoạt động trên.

Niêm yết chứng Hỗ trợ từ phía nhà quản trị

Kiểm toán độc lập Đào tạo và bồi

Hành vi quản trị lợi nhuận

Hiệu quả của HTKSNB phụ thuộc vào áp lực từ thuế và năng lực của nhân viên kế toán Vì họ còn chưa có nhiều hiểu biết về kế toán tài chính và việc lập BCTC nên dễ phát sinh sai sót và chậm trễ trong báo cáo tài chính, gây ảnh hưởng đến tính chính xác và kịp thời của các báo cáo và tuân thủ thuế Để nâng cao hiệu quả HTKSNB, cần tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực cho nhân viên kế toán (KT), chuẩn hóa quy trình kế toán và áp dụng công cụ công nghệ hỗ trợ Nhờ đó, nhân viên kế toán sẽ nắm vững các chuẩn mực kế toán tài chính, tăng khả năng lập BCTC chính xác và kịp thời, từ đó cải thiện hiệu quả quản trị và tuân thủ thuế cho doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hưng và Phạm Quốc Thuần (2016) sau khi loại bỏ các biến độc lập để phù hợp với luận văn đã xác định còn lại bốn biến độc lập là quy mô doanh nghiệp, hành vi quản trị lợi nhuận, áp lực của thuế và năng lực của nhân viên kế toán Kết quả này được bổ sung bởi nghiên cứu của Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) trong đề tài cấp bộ về các quy định pháp lý về kế toán và công tác kế toán của doanh nghiệp Việt Nam, cho thấy để nâng cao CLTTKT cần nâng cao chất lượng hệ thống pháp lý và nâng cao chất lượng công tác kế toán tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu của luận văn được so sánh với mô hình nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Kiều Hoa (2016) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa - bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM” Mô hình nghiên cứu của luận văn thực hiện kiểm định một biến độc lập và năm biến phụ thuộc gồm: Quyết định của nhà quản trị, quy mô doanh nghiệp, quy định về thuế, trình độ kế toán viên và các quy định pháp lý về kế toán.

Quyết định của nhà quản trị (+)

Chất lượng BCTC Trình độ kế toán viên (+)

Các quy định pháp lý về kế toán (+)

Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Từ mô hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, luận văn đưa ra các giả thuyết cần kiểm định trong đề tài

H1: Quyết định của nhà quản trị có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC H2: Quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC

H3: Quy định về thuế có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC

H4: Trình độ kế toán viên có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC

H5: Các quy định pháp lý về kế toán có tác động cùng chiều đến CLBCTC

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Ninh Thuận Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận và quan sát hai nhóm đối tượng: nhóm 1 gồm kế toán trưởng/ kế toán tổng hợp từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhóm 2 gồm các chuyên viên thuế thuộc Chi cục Thuế và Cục Thuế tỉnh Ninh Thuận Mỗi nhóm có 5 chuyên gia, nhằm khẳng định mô hình nghiên cứu đã đi đúng hướng và phù hợp với thực tế tại Ninh Thuận.

Phương pháp phán đoán và tư duy được tác giả áp dụng xuyên suốt đề tài nghiên cứu, thể hiện qua các nhận định, đánh giá, phân tích, so sánh và kết luận dựa trên sự tư duy ở nhiều góc độ khác nhau Quá trình tư duy đa chiều giúp làm rõ các yếu tố then chốt của vấn đề, tăng tính thuyết phục và sự nhất quán của bài viết Việc kết hợp nhận định và phân tích với so sánh từ nhiều khía cạnh tạo nên một luận cứ chặt chẽ, giúp người đọc nắm bắt nhanh các ý chính và tăng giá trị thông tin của bài viết.

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu địnhlượng

Khảo sát thu thập dữ liệu chính thức từ các kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên và những người có kiến thức về kế toán và BCTC đang công tác tại các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nhằm thu thập thông tin tin cậy cho nghiên cứu Dữ liệu được thu thập qua bảng câu hỏi đã thiết kế và hiệu chỉnh trước đó, sau khi thu hồi phiếu khảo sát sẽ được nhập liệu và mã hóa bằng phần mềm SPSS 22.0 để phục vụ cho phân tích và tổng hợp kết quả.

Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này được kế thừa từ thang đo do Đặng Thị Kiều Hoa (2016) xây dựng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM, và được bổ sung thông qua kết quả nghiên cứu định tính từ các chuyên gia trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Thang đo đã được lựa chọn và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của các DNNVV ở Ninh Thuận Về cấp đo, tác giả sử dụng thang đo cấp quãng, cụ thể là thang đo Likert 5 cấp độ để đánh giá từng mục.

Bảng 3.1 Mã hóa các thang đo

Quyết định của nhà quản trị

1 Quyết định của nhà quản trị có ảnh hưởng đến việc xử lý và trình bày

2 Việc quản trị lợi nhuận của nhà quản trị có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương phápkế toán của doanh nghiệp QD2

3 Nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định kinh tế dựa trên BCTC của doanh nghiêp QD3

4 Nhà quản trị có can thiệp vào việc ghi chép và lập BCTC của bộ phận kế toán QD4

5 Nhà quản trị có thể đọc và hiểu rõ BCTC QD5

1 Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến công tác kế toán của doanh nghiệp QM1

2 Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp kế toán của doanh nghiệp QM2

3 Quy mô doanh nghiệp càng nhỏ thì càng ít ảnh hưởng đến việc xử lý thông tin kế toán QM3

Trình độ của kế toán viên

1 Kế toán viên có am hiểu về tình hình kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp TC1

2 Kế toán viên có tuân thủ các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp TC2

Ba kế toán viên được cập nhật thông tin thường xuyên và tham gia đào tạo, huấn luyện về sự thay đổi của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định hiện hành liên quan đến TC3 Việc cập nhật liên tục giúp họ nắm bắt kịp thời các chuẩn mực mới, áp dụng đúng chế độ kế toán và tuân thủ các quy định hiện hành trong công tác báo cáo tài chính Chương trình đào tạo được thiết kế để cập nhật biến động kế toán, các yêu cầu báo cáo và các quy định pháp lý, từ đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý tài chính theo TC3.

4 Kế toán viên có đủ trình độ và kiến thức để vận dụng các chuẩn mực kế toán trong việc lập BCTC TC4

1 Các quy định hiện hành về thuế có ảnh hưởng đến công tác kế toán của doanh nghiệp TU1

2 Việc áp dụng và thực hiện đúng quy định về thuế giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc khai báo, quyết toán thuế TU2

3 Các quy định về chính sách thuế có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp kế toán của doanh nghiệp TU3

4 Doanh nghiệp phải chỉnh số liệu theo kiến nghị của thuế vào cuối mỗi kỳ kế toán TU4

5 Cơ quan thuế thường gây áp lực đến việc xử lý, trình bày thông tin kế toán trên BCTC của doanh nghiệp TU5

6 Năng lực của cán bộ thuế quản lý trực tiếp ảnh hưởng đến công tác kế toán của doanh nghiệp TU6

Các quy định pháp lý về kế toán

1 Các quy định pháp lý về kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của BCTC PL1

2 Các quy định pháp lý về kế toán có cập nhật và hướng dẫn kịp thời cho doanh nghiệp PL2

3 Khung pháp lý về kế toán chặt chẽ, dễ hiểu, dễ áp dụng PL3

4 Khung pháp lý về kế toán thường xuyên thay đổi làm ảnh hưởng đến công tác kế toán và việc lập BCTC vào cuối kỳ kế toán PL4

1 Việc trình bày BCTC có tuân thủ khả năng hoạt động liên tục CL1

2 BCTC có trình bày các thông tin không phải là thông tin kế toán CL2

3 Việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán trên BCTC phù hợp với chuẩn mực kế toán hiện hành CL3

4 BCTC cung cấp đầy đủ và trung thực các sự kiện có ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ kế toán CL4

5 BCTC được trình bày theo mẫu của quy định hiện hành CL5

6 Bảng thuyết minh trên BCTC rõ ràng, dễ hiểu và trình bày giải thích các thông tin CL6

7 BCTC được nộp cho cơ quan có thẩm quyền đúng thời gian quy định CL7

8 BCTC phản ánh kịp thời các sự kiện phát sinh trong kỳ kế toán CL8

9 BCTC của doanh nghiệp có thể so sánh thông tin năm nay với thông tin năm trước CL9

10 BCTC của doanh nghiệp có thể so sánh với thông tin tài chính của tổ chức khác CL10

Nguồn: Đặng Thị Kiều Hoa (2016) “Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các

DNNVV - bằng chứng thực nghiệm tại các DNNVV trên địa bàn TP HCM

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, một hình thức chọn mẫu phi xác suất cho phép tiếp cận các phần tử mẫu dựa trên sự thuận tiện của người nghiên cứu Nghĩa là tác giả có thể chọn những phần tử mà mình có thể tiếp cận được (Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 240) Ưu điểm của phương pháp này là tính linh hoạt, tiết kiệm thời gian và chi phí cho nghiên cứu Tuy nhiên, nhược điểm là tính đại diện thấp và không thể tổng quát hóa cho toàn bộ đám đông (Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 233).

Phương pháp phân tích dữ liệu được kế thừa từ các nghiên cứu trước đó là phân tích nhân tố khám phá (EFA) Theo Bollen (1989), để thực hiện EFA cần có dữ liệu với kích thước mẫu tối thiểu bằng 5 lần số biến quan sát Theo Hair et al (2006), EFA đòi hỏi kích thước mẫu lớn hơn, tối thiểu 50 và tốt hơn 100, với tỷ lệ quan sát trên biến đo lường tối thiểu là 5:1, tức là kích thước mẫu bằng số biến quan sát nhân với 5 (Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 409).

Để đảm bảo phân tích hồi quy cho kết quả tin cậy và tối ưu, kích thước mẫu n phải đáp ứng công thức n ≥ 50 + 8p, trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số biến độc lập trong mô hình Khi số biến độc lập tăng lên, yêu cầu về kích thước mẫu cũng tăng theo, với mỗi biến bổ sung làm tăng tối thiểu 8 đơn vị cho n Công thức này được ghi nhận trong Nguyễn Đình Thọ (2011, trang 499).

Trong luận văn, tác giả thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA với 32 biến quan sát và xác định kích thước mẫu ban đầu là 5 × 32 = 160 quan sát Tác giả đã gửi mẫu đi khảo sát và thu về 294 mẫu khảo sát phù hợp, đảm bảo điều kiện kích thước mẫu cho cả phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy.

3.3.2.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát: Đối tượng khảo sát trong luận văn này là kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên … ở các DNNVV trên địa bàn Ninh Thuận Đây là các đối tượng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc lập BCTC, có thể hiểu rõ về BCTC của doanh nghiệp mà họ đang công tác (Phụ lục 4)

* Đánh giá độ tin cậy của thangđo

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 06/12/2021, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm