1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

81 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nghiên cứu các vấn đề về quy hoạch đô thị trên khía cạnh pháp lý và thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, khóa luận làm rõ các điểm thuận lợi c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LU ẬT

NGUY ỄN THU HIỀN

PHÁP LU ẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM QUA TH ỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LU ẬT HỌC

H ệ đào tạo: Chính quy Khóa h ọc: QH- 2014- L

HÀ N ỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LU ẬT -

NGUY ỄN THU HIỀN

PHÁP LU ẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM QUA TH ỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận đều được cập nhật, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GI Ả KHÓA LUẬN

Nguy ễn Thu Hiền

Trang 4

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN V Ề QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 8

1.1 Những khái niệm cơ bản về đô thị 8

1.1.1 Khái ni ệm đô thị, đô thị thông minh và đô thị bền vững 8

1.1.2 Phân lo ại đô thị 12

1.1.3 Đặc điểm của các loại đô thị 13

1.2 Tổng quan về quy hoạch đô thị 14

1.2.1 Khái ni ệm quy hoạch đô thị, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất v ới quy hoạch đô thị 14

1.2.2 Khái ni ệm pháp luật về quy hoạch đô thị 17

1.3 Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch đô thị 17

1.3.1 M ối quan hệ giữa Luật quy hoạch đô thị với các ngành luật khác 17

1.3.2 Nh ững yêu cầu đối với quy hoạch đô thị 21

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị 22

1.5 Pháp luật điều chỉnh quy hoạch đô thị và ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với quy hoạch đô thị 23

1.6 Kinh nghiệm quy hoạch đô thị tại một số Thành phố của Trung Quốc 24

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở VI ỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam 32

2.1.1 N ội dung quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục lập , thẩm định, phê duy ệt quy hoạch đô thị 32

2.1.2 Quy ền và trách nhiệm của các cơ quan ,tổ chức, cá nhân về các vấn đề qu ản lý, giám sát quy hoạch đô thị 32

Trang 5

2.1.3 V ấn đề về tư vấn lập quy hoạch đô thị 34

2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại Thành phố Hà Nội 35

2.2.1 Khái quát v ề điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hà Nội và ảnh hưởng của những điều kiện đó đến việc thực hiện pháp luật về quy ho ạch đô thị 35

2.2.2 Phát tri ển quy hoạch chung xây dựng đô thị tại Thủ đô

Hà N ội 36

2.2.3 Th ực trạng thực hiện quy hoạch đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội 38

2.3 Những điểm thuận lợi và bất cập của pháp luật ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam 41

2.3.1 Nh ững thuận lợi trong việc áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về quy ho ạch đô thị 41

2.3.2 Nh ững bất cập của pháp luật ảnh hưởng đến việc thực thi các quy định v ề quy hoạch đô thị 43

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở VI ỆT NAM QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam 49

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam 53

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam 56

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch đô thị ở Việt Nam 61

3.5 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị ở Thành phố Hà Nội 65

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

K ẾT LUẬN 70

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

1

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đô thị hóa, các thành phố luôn là tâm điểm vì nó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi như cơ sở hạ tầng, công trình kiến trúc, và nguồn

lực con người ổn định nhất Đô thị có thể hiểu là tập hợp của những ngôi nhà và con đường, đồng thời cũng là nơi tập hợp của những con người tương tác với nhau trong một môi trường đông đúc và chật hẹp Nó phản ánh một cách tổng

hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội, là nơi tích lũy của cải, tạo dựng văn hóa và nuôi dưỡng những ý tưởng mới, nhằm thay đổi cuộc sống của cả nhân loại. 1Song song với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) cùng với bối cảnh hội nhập, toàn

cầu hóa như hiện nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều đang phải đối mặt với một bài toán khó, đó là làm sao để công cuộc quy hoạch

đô thị được hiệu quả nhằm hướng đến một cuộc sống văn minh, phát triển bền

vững trong sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa con người và môi trường

Với những giá trị mà đô thị hóa đem lại, để trả lời cho câu hỏi quy hoạch

đô thị làm sao cho hiệu quả, trước hết cần đảm bảo sự can thiệp tầm vĩ mô từ Nhà nước mà điển hình là những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật cần minh bạch, nhất quán, quy định trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức cá nhân

một cách rõ ràng, dự án quy hoạch phải khả thi Trên tinh thần đó, Luật quy

hoạch đô thị năm 2009 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đã được ban hành nhằm mục đích giải quyết những khó khăn trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô

thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt Như vậy, văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề quy hoạch tại các đô thị là Luật

1 Nguyễn Đỗ Dũng (2010), “Đô thị và Quy hoạch đô thị: Tư duy và tiếp cận”, http://www.ashui.com , truy c ập ngày 10/02/2018

Trang 7

một số chuyên gia cho rằng, việc xây dựng và phê duyệt quy hoạch rất chặt chẽ nhưng việc điều chỉnh và quản lý sau quy hoạch lại chưa tốt 2

Xuất phát từ thực trạng đã nêu trên, tác giả chọn đề tài "Pháp luật về quy

hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội" cho khóa

luận tốt nghiệp bậc cử nhân Qua nghiên cứu các vấn đề về quy hoạch đô thị trên khía cạnh pháp lý và thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, khóa luận làm rõ các điểm thuận lợi cũng như những hạn chế còn tồn tại trong chính sách pháp luật quy hoạch đô thị , từ đó đề xuất những

kiến nghị phù hợp với Việt Nam từ kinh nghiệm của một số các quốc gia trên thế giới về những vấn đề như thẩm định, quản lý và giám sát quy hoạch đô thị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đất đai là một tài nguyên vô cùng có giá trị vì nó đem lại cho con người

vô vàn những giá trị về mọi mặt đời sống, kinh tế và xã hội Nhiều lợi ích như

vậy, khai thác đơn thuần thì đơn giản nhưng khai thác sao cho có hiệu quả nhất mới là vấn đề cần tập trung chú trọng của mọi chính quyền Muốn khai thác đất đai hiệu quả, cần phải có những dự án quy hoạch thật sự khả thi Tuy nhiên thực

tế hiện nay, rất nhiều dự án quy hoạch liên tiếp thất bại hoặc kéo dài thời gian

thực hiện do vướng mắc giải tỏa hoặc các vướng mắc phổ biến khác đã khiến dư luận đặt câu hỏi về tính khả thi, hợp lý, hợp pháp trong quá trình thực hiện một

2 H.Duy – L.Sơn (2017), “Chuyên gia hiến kế xây dựng Luật Quy hoạch”, http://duthaoonline.quochoi.vn , truy

c ập ngày 10/02/2018

Trang 8

- Cuốn “Giáo trình Quản lý đô thị năm 2004” của Trường Đại học Kinh

tế Quốc dân do GS.TS Nguyễn Đình Hương chủ biên Cuốn sách đề cập chủ yếu đến những nội dung cơ bản về quản lý đô thị như lý giải khái niệm quản lý đô thị,

sự cần thiết của việc quản lý đô thị, đặc điểm của quản lý đô thị, mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc quản lý đô thị, nội dung quản lý đô thị Trong đó, có nội dung đề cập về quy hoạch đô thị

- Cuốn “Giáo trình Quản lý nhà nước về đô thị”, xuất bản năm 2007 của

Học Viện Hành chính - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

do PGS.TS Phạm Kim Giao làm chủ biên Cuốn sách đi sâu tìm hiểu những vấn

đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đô thị nói chung và quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị nói riêng

- Cuốn “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, xuất bản năm 2008 của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội do GS.TS Nguyễn Thế Bá chủ biên Nội dung của cuốn sách chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoac ̣h xây d ựng nhằm phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại nhưng

vẫn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống

- Tác phẩm “Pháp luật về quy hoạch không gian xây dựng đô thị” của TS Doãn Hồng Nhung (chủ biên), NXB Xây dựng năm 2012

- Bài viết “Quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay” của TS Doãn Hồng Nhung; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc Việt Nam số 167 năm 2009 Bài viết tìm hiểu về thực trạng quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay; trong đó, có nội dung

đề cập đến vấn đề quy hoạch đô thị

Trang 9

4

- Bài viết “Bài học nào cho phát triển đô thị ở Việt Nam” của KTS Nguyễn

Hữu Thái; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam số 167 năm 2009 Bài

viết đề cập đến thực trạng phát triển đô thị nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp cho việc phát triển đô thị ở Việt Nam

- Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt Nam

hiện nay” của TS Doãn Hồng Nhung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7 năm

2010 Nội dung chủ yếu của bài viết đề cập đến một số vấn đề lý luận, thực trạng

và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt Nam

Ngoài các tác phẩm và bài viết như kể trên, còn có rất nhiều sinh viên bậc

cử nhân, cao học lựa chọn các đề tài có liên quan đến pháp luật về quy hoạch đô

thị ở Việt Nam Tuy nhiên, việc đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn hiệu quả

của pháp luật quy hoạch đô thị thông qua thực tiễn thi hành tại một thành phố cụ thể có tốc độ đô thị hóa cao nhất nhì cả nước,đồng thời đưa ra giải pháp về mặt pháp luật cụ thể đối với bản thân thành phố đó, mà cụ thể là thành phố Hà Nội, thì chưa có một luận văn hay khóa luận nào thực sự đề cập một cách sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là thông qua phân tích, đánh giá thực trạng

việc thực thi pháp luật quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua đó phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật đô thị Việt Nam và đề xuất một

số giải pháp có thể tác động tích cực và giúp thúc đẩy công cuộc quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội được hiệu quả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về đô thị và quy hoạch đô thị, làm nối bật lên vai trò của công tác quy hoạch đô thị

Trang 10

5

- Quy định của pháp luật Việt Nam có ảnh hưởng đến quá trình quy hoạch

đô thị

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị tại thành

phố Hà Nội, làm nổi bật lên các điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của thành phố

Hà Nội và nguyên nhân dẫn đến việc quy hoạch đô thị không hiệu quả ở thành

phố Hà Nội

- Thông qua việc đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội, phân tích , đánh giá một số quy định còn chưa hợp lý của pháp luật quy hoạch đô thị tại Việt Nam

- Khảo sát, phân tích, đánh giá cách mà một số các quốc gia trên thế giới quy hoạch đô thị tại các thành phố lớn của họ; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp cho quy hoạch đô thị nói chung ở Việt Nam và quy hoạch đô thị nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu về những quy định pháp luật về quy hoạch đô thị Đồng thời nghiên cứu các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch đất đô thị

dẫn tới việc quy hoạch đô thị không được hiệu quả

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Có rất nhiều vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về quy hoạch đô

thị, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ chủ yếu nghiên cứu các quy định về quá trình lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch

đô thị một cách tổng quát nhất trong pháp luật Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 11

6

- Phương pháp duy vật biện chứng: xem xét vấn đề pháp luật về quy

hoạch đô thị một cách toàn diện trong mối quan hệ mật thiết với các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ, chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại

và đánh giá khái quát hướng tới sự nhận thức tổng thể về vấn đề quy hoạch đô

thị ở Việt Nam

- Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến vấn đề lập, thẩm định, tư vấn, quản lý, giám sát quy hoạch đô

thị trong thực tiễn làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu làm rõ mục đích nghiên

cứu của đề tài

- Phương pháp so sánh: Phân tích điểm giống và khác của pháp luật các quốc gia về quy hoạch đô thị so với pháp luật Việt Nam, từ đó tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài hoặc cấy ghép pháp luật một cách hợp lý vào pháp luật Việt Nam

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Đưa ý kiến của những chuyên gia

trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, những nhà luật học hoặc những luật sư có kinh nghiệm, hiểu biết rộng về vấn đề quy hoạch đô thị, sự đánh giá của chuyên gia

về thực trạng pháp luật quy hoạch đô thị ở Việt Nam

6 Tính mới của nghiên cứu:

Thực tế cho thấy vấn đề quy hoạch đô thị ở Việt Nam không phải là một vấn đề mới, điều này thể hiện ở việc có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu khá là toàn diện về cả mặt lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô

thị tại Việt Nam Tuy nhiên, việc đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn hiệu quả

của pháp luật quy hoạch đô thị thông qua thực tiễn thi hành tại một thành phố cụ thể có tốc độ đô thị hóa cao nhất nhì cả nước, đồng thời đưa ra giải pháp về mặt pháp luật cụ thể đối với bản thân thành phố đó, mà cụ thể là thành phố Hà Nội,

Trang 12

7

thì chưa có một luận văn hay khóa luận nào thực sự đề cập một cách sâu sắc hay nghiên cứu một cách tổng thể mà chỉ dưới hình thức những bài viết đơn lẻ

7 Bố cục của khóa luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch đô thị

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam và thực

tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực

tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

Trang 13

8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

V Ề QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1.1 Nh ững khái niệm cơ bản về đô thị

Đô thị xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử từ thời con người ra khỏi hang động và bắt đầu cuộc sống quần cư với hình thức “làng sơ khai” Đây được coi

là “không gian sống” đảm bảo điều kiện cho các cá thể trong quần cư: có chỗ nương tựa, chống chọi lại điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, sự xâm chiếm của các thế lực khác.3 Xuất hiện sớm là vậy, nhưng để thực sự phát triển và được định nghĩa một cách rõ ràng thì phải là những thập kỷ gần đây Ngày nay, đô thị

đã trở thành một hình thức cư trú phổ biến và mọi tâm điểm của cuộc sống nhân

loại đều diễn ra tại các thành phố Câu hỏi đặt ra là “Đô thị là gì và tại sao chúng tồn tại?” – Đó là câu hỏi cơ bản nhất mà những nhà nghiên cứu, quản lý và quy

hoạch đô thị phải trả lời Cụ thể, dựa vào khảo cổ, đô thị đầu tiên trên thế giới là làng Uruk ở vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) cách đây gần 5000 năm Sự ra đời

của đô thị với những cư dân phi nông nghiệp đầu tiên gắn liền với thặng dư trong sản xuất nông nghiệp cho phép một nhóm người làm nông có thể tạo ra lượng nông sản không chỉ đủ nuôi sống chính họ mà còn cung cấp cho những người khác không làm nông nghiệp.4 Tại Việt Nam, xu hướng đô thị hóa đang diễn ra

với tốc độ nhanh và trên phạm vi rộng lớn Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tỷ lệ

đô thị hóa tăng từ 19,6% năm 2009 lên 36,6% năm 2016 và đến năm 2020 dự kiến sẽ là 45%.5

5 Giang Phạm (2017), “Xây dựng đô thị thông minh phải lấy người dân làm trung tâm”, Bộ Thông tin và Truyền

thông Việt Nam, https://mic.gov.vn , truy c ập ngày 17/02/2018

Trang 14

9

Theo pháp luật Việt Nam hiện tại, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh

sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp,

là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của

thị xã; thị trấn.6

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, sự phát triển của đô thị luôn gắn liền với nền kinh tế phi nông nghiệp, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng Tuy nhiên, khác với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thực trạng đô thị hóa của nước ta có đặc điểm là quá trình đô thị hóa nông thôn thành thành thị, biến đổi các làng, xã nông nghiệp thành các quận, phường của đô thị.7Làn sóng chuyển cư tới các đô thị ngày càng gia tăng sớm hơn tốc độ phát triển của nền công nghiệp, dịch vụ.8

Tại Việt Nam việc bùng nổ của quá trình đô thị hóa vừa đem lại lợi nhuận

khổng lồ cho giới kinh doanh bất động sản vừa tạo ra nhiều thách thức như việc tìm kiếm việc làm, vấn đề về giao thông, cơ sở hạ tầng, vấn đề quá tải và chất lượng sống ở các đô thị Trước những thách thức đó, nhất là với các đô thị lớn và cực lớn, vấn đề “Phát triển đô thị bền vững” đang được đặt ra và đã được các nhà khoa học bàn luận khá sôi nổi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế

Cụ thể, theo Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa : Phát triển bền vững chính là sự duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người về mặt xã hội, kinh tế, môi trường trong giới hạn khả năng chịu tải của các hệ sinh thái dịch

vụ và cơ sở tài nguyên của môi trường, nghĩa là vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường”

6 Kho ản 1, Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009

7 Theo Tổng cục môi trường (2017), “Tổng quan phát triển đô thị Việt Nam”, http://www.cem.gov.vn , truy c ập ngày 15/02/2018

8 Hà Thanh (2017), “Những nghịch lý trong đô thị hóa tại Việt Nam”, http://www.kinhtedothi.vn , truy c ập ngày 17/02/2018

Trang 15

Có thể thấy, về bản chất, phát triển bền vững là một quá trình biến đổi

mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai Tổng quát hơn, phát triển bền vững chính là một quá trình liên

tục cân bằng và hoà nhập các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

Nó đảm bảo sự trường tồn của nhân loại Vì thế, phát triển bền vững đã trở thành

mục tiêu chiến lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, từng khu vực cũng như cho từng đô thị Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững như trên, với đặc thù của

một đô thị, khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là “mối quan

hệ hữu cơ, mật thiết giữa: Kinh tế đô thị; Văn hóa xã hội đô thị; Môi trường - Sinh thái đô thị; Cơ sở hạ tầng đô thị và Quản lý đô thị”.10

Tuy nhiên với thời đại của nền công nghiệp công nghệ thông tin như hiện tại cũng như dự báo về sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực này trong tương lai,

cần hiểu rằng phát triển đô thị bền vững thôi là chưa đủ và chưa phải là biện pháp tối ưu nhất bởi đô thị trong bất cứ thời đại nào đều hướng đến mục tiêu đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển của con người, cũng như thiết chế quản lý xã hội của đô thị, và “đô thị thông minh” là đô thị làm tốt nhất mục tiêu đó Chúng ta có

thể hiểu “đô thị thông minh” là khái niệm được “nhân cách hóa” để đô thị thật sự

có thể hiểu rõ – nhờ khả năng quan sát, tạo lập các không gian sống tương hỗ –

nhờ khả năng ghi nhớ và óc sáng tạo, và những đáp ứng phục vụ con người

9 Quốc hội (2014), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội

10 GS.TS Lê H ồng Kế (2006), “Phát triển hệ thống đô thị quốc gia bền vững”,

Trang 16

11

không chỉ ở một vài lĩnh vực – nhờ vào năng lực tổng hợp của nhiều loại năng

lực để hẳn nhiên đô thị phải được thiết kế, xây dựng và quản lý với mục tiêu cao

nhất là phục vụ con người; bao gồm việc tạo điều kiện tốt nhất để phát huy năng lực sáng tạo, óc tưởng tượng của cư dân sống trong đô thị đó Từ đó, chính

những cư dân của đô thị bầu ra những chính quyền quản lý hiệu quả để xây dựng

những chính sách, chiến lực phát triển đô thị có khả năng thích ứng và vận dụng

hiệu quả trong điều kiện thực tế của kinh tế – xã hội – văn hóa và môi trường;

tạo nên một “kết cấu hữu hiệu” nhằm xây dựng không gian sống bền vững.11

Hay theo một quan điểm khác, đô thị thông minh là đô thị hoặc khu vực dân cư ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông một cách nhuần nhuyễn,

kết nối với mọi thành phần của hệ thống có khả năng cung cấp theo thời gian

thực, tự động hóa và có tương tác, nhằm huy động tốt nhất các nguồn lực con người, trang thiết bị và các yếu tố tự nhiên khi hệ thống vận hành Với các hệ

thống liên quan đến người dân thì họ phải được đặt ở vị trí trung tâm, phải là

mục tiêu phục vụ.12

Tóm lại, khái niệm về “đô thị thông minh” cần được hiểu theo cả nghĩa rộng, tức là bên cạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ thì đô thị thông minh còn cần được hiểu là việc ứng dụng các giải pháp mang tính toàn diện và sáng

tạo ,tổng hợp các năng lực vốn có trong đô thị nhằm xây dựng các giải pháp

quản lý và ứng xử khoa học đối với môi trường sống của chính mình, chung tay xây dựng một môi trường đô thị phát triển bền vững, phục vụ tối đa lợi ích của các cá thể sống trong đô thị

11 ThS.HS Trần Văn Tâm – TS.KTS Phan Bảo An (2017), “Đô thị thông minh”, https://www.tapchikientruc.com.vn , truy c ập ngày 17/02/2018

12 PGS TS Trần Minh Tuấn (2017), “Xây dựng đô thị thông minh bền vững tại việt nam – một trong các động lực

phát triển cntt&tt việt nam trong thập kỷ tới”, https://rev.org.vn , truy c ập ngày 17/02/2018

Trang 17

12

1.1.2 Phân loại đô thị

Đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô

thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng Do đó, các

đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại, dùng số La Mã để phân ra các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các

kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và

loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận.13

Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt

là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đây cũng là hai đơn vị hành chính

cấp tỉnh loại đặc biệt14 và trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của cả nước.15

Việc phân loại đô thị thuộc loại nào phải dựa vào những tiêu chí nhất định

và trình tự, thủ tục phân loại cụ thể Việc phân loại đô thị được thực hiện bằng phương pháp tính điểm Điểm phân loại đô thị là tổng số điểm đạt được của các tiêu chí.16Trong đó, cần lưu ý một số cách phân loại đô thị áp dụng cho một số loại đô thị có tính chất đặc thù như sau:17

Thứ nhất là, đối với đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng

13 Ngh ị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị ban hành ngày 25/05/2016

14 Điểm a, Khoản 3, Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015

15 Điểm a, Khoản 1, Điều 3 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị ngày 25/05/2016

16 Kho ản 4, Điều 2 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị ngày 25/05/2016

17 Điều 9, Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị ngày 25 tháng 05 năm 2016

Trang 18

13

Thứ hai là, đối với đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao,

có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng

Thứ ba là, đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và

kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy

mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh

tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng

1.1.3 Đặc điểm của các loại đô thị

Như đã đề cập ở phần trên, đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại gồm

loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V Thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I; thành phố thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh phải là đô thị loại I, loại II hoặc loại III; thị xã thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh phải là đô thị loại III hoặc loại IV; thị trấn thuộc huyện phải

là đô thị loại IV hoặc loại V

Theo đó, đô thị loại đặc biệt có đặc điểm là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và

quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước;

Đô thị loại I có đặc điểm là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng

hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước;

Đô thị loại II có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y

tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh;

Trang 19

14

Đô thị loại III có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh;

Đô thị loại IV có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du

lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện;

Đô thị loại V có đặc điểm là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng

hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo

dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã;

Bên cạnh những đặc điểm về vị trí, vai trò và chức năng của từng loại đô

thị, ứng với mỗi loại hình đô thị sẽ có những đặc điểm về cơ cấu- trình độ phát triển kinh tế- xã hội đạt tiêu chuẩn, quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn đặc thù.18

1.2 T ổng quan về quy hoạch đô thị

đất với quy hoạch đô thị

Trong số nhiều lĩnh vực nghiên cứu đô thị, quy hoạch đô thị là một ngành

có tính thực hành và công cụ mạnh mẽ, nhằm định hướng phát triển các thành

phố và đề ra giải pháp cho các vấn nạn đô thị Là một lĩnh vực mà định nghĩa và trách nhiệm nghề nghiệp quá lớn nhưng lại mập mờ và không thể định nghĩa cụ

18 Điều 3, 4, 5,6,7,8 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về Phân loại đô thị ngày 25 tháng 05 năm 2016

Trang 20

15

thể, cách hiểu về quy hoạch và sản phẩm quy hoạch có sự khác biệt ít nhiều giữa các quốc gia, nhất là giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới.19

Ở giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 20, quy hoạch đô thị được quan niệm như

là thiết kế một đô thị, tổ chức, bố trí hình dạng vật thể của nó Vai trò chính thực

hiện quy hoạch được trao cho kiến trúc sư quy hoạch và kỹ sư xây dựng, những người được đào tạo và có chuyên môn về việc thiết kế nên những sản phẩm vật

chất dành cho con người cư trú. Sản phẩm của quan niệm quy hoạch đô thị này là

những bản quy hoạch tổng thể đã vẽ nên trạng thái đô thị ở trạng thái cuối cùng theo ý tưởng của các kiến trúc sư

Tiếp thu các lý luận phê bình và để thay thế cho quan niệm thiết kế hình dạng

vật thể của đô thị, những năm 1960 xuất hiện hai quan niệm thay thế Quan điểm

thứ nhất là sửa chữa quan điểm trước kia, tức là người làm quy hoạch trước hết phải tìm hiểu thật kỹ về cuộc sống đô thị trước khi tiến hành thực hiện quy hoạch Đô thị xem như một hệ thống các chức năng của các hoạt động và người dân ràng buộc nối

kết với nhau Và nhà quy hoạch phải hiểu đô thị như một hệ thống đang hoạt động sau đó mới can thiệp để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống đó

Quan điểm thay thế thứ hai là coi quy hoạch đô thị như một tiến trình tác động liên tục, can thiệp nhiều lần chứ không phải thiết kế và xây dựng một lần là đạt được trạng thái cuối cùng Cách tiếp cận này là cách áp dụng lý thuyết và ra quyết định trong lĩnh vực khoa học về quản trị sang đối với quy hoạch đô thị Theo đó thì sau khi xác định các vấn đề đô thị và các mục tiêu của quy hoạch, nhà quy hoạch sẽ cân nhắc các chính sách hoặc các quy hoạch thay thế sau đó

thực hiện, khi thực hiện thì giám sát liên tục về hiệu quả thực hiện và tiến trình này sẽ luôn vận hành cho đến lúc đã cải tạo được trạng thái quy hoạch cũ hoặc

xuất hiện vấn đề mới

19 Nguy ễn Đỗ Dũng (2010), “Đô thị và Quy hoạch đô thị: Tư duy và tiếp cận”, http://www.ashui.com, truy cập ngày 10/02/2018

Trang 21

16

Những năm 60, khi các phong trào dân chủ, nhân quyền, nữ quyền diễn ra

mạnh mẽ ở các nước phương tây thì quy hoạch đô thị cũng không là ngoại lệ Người ta đặt các vấn đề quy hoạch phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương,

và ý kiến của những người dân phải có tầm quan trọng ngang với những nhà quy

hoạch và quản lý Vấn đề của quy hoạch là xây dựng một môi trường đô thị tốt để cho cộng đồng sinh hoạt, hướng tới cái phải đạt được chứ không phải hướng tới cái

có thể đạt được Một dự án quy hoạch đô thị ảnh hưởng khác nhau tới những nhóm

xã hội trong cộng đồng, nên sẽ dẫn đến một sự đồng thuận chung, công khai để đạt được các giá trị chung, cân bằng giữa các nhu cầu của các nhóm Như vậy quyết định quy hoạch không còn dựa trên ý chí của nhà quy hoạch hay cơ sở khoa học

nữa, mà là một lựa chọn chính trị và giá trị đạt được Tức là theo quan điểm này quy

hoạch đô thị đã trở thành hoạt động chính trị.20Và cho đến ngày nay, quan điểm quy hoạch đô thị là một hoạt động chính trị vẫn còn nguyên giá trị, theo đó quan điểm

của nhà quy hoạch không được trái với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Ở

Việt Nam, quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị,

hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.21

Về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị, căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của đô

thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, bảo đảm cho sự phát triển đô thị được hài hòa và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh đất dùng cho các dự án, sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp

20 Trần Quang (2013), “Quy hoạch đô thị là gì và kỹ năng nhà quy hoạch”, https://dothiblog.com , truy c ập ngày 19/02/2018

21 Kho ản 4, Điều 3, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

Trang 22

17

xếp các nội dung xây dựng Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ đất đai cũng như bố cục không gian trong khu vực quy hoạch đô thị Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất công nghiệp có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ và toàn

bộ.22 Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng… trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hòa với quy hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử

dụng đất đai sẽ tạo những điều kiện tốt cho xây dựng và phát triển đô thị

Pháp luật về quy hoạch đô thị là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính

bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể

hiện ý chí ,đường lối của Đảng và Nhà nước về những vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; quyền và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc tổ

chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô

thị đã được phê duyệt

1.3 Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch đô thị

Thứ nhất là, mối quan hệ giữa Luật quy hoạch đô thị với Luật Quy hoạch

Dự thảo mới nhất của Luật Quy hoạch năm 2017 gồm 6 Chương với 69 Điều và hai Phụ lục Nội dung Dự thảo quy định hệ thống quy hoạch quốc gia, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch, nhiệm vụ, quyền hạn các cấp chính quyền trong lĩnh vực quy hoạch, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt, điều

chỉnh quy hoạch, thực hiện và giám sát việc thực hiện quy hoạch, các hành vi bị

cấm trong hoạt động quy hoạch và nguyên tắc chế tài các vi phạm Quy định tại

Luật Quy hoạch năm 2017 đã có nhiều điểm mới, trong đó nổi lên 4 nội dung chính: (1) Hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu phục vụ quy hoạch; (2) Hoàn

22Theo chuyên trang diachinh.info (2010), “Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất đai trong hệ thống quy

hoạch chung”, http://qlvbtnmt.haiduong.gov.vn, truy cập ngày 03/03/2018

Trang 23

18

thiện quy trình giám sát hoạt động quy hoạch; (3) Đánh giá hoạt động quy hoạch; (4) Phân định rõ vai trò của Chính phủ, Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Xây dựng và các Bộ ngành khác trong hoạt động quy hoạch.23

Như vậy, có thể thấy Luật Quy hoạch và Luật Quy hoạch đô thị có tương đối nhiều điều quy định giống nhau, giống nhau về cấu trúc nhưng nội dung khác nhau do phạm vi và đối tượng điều chỉnh khác nhau Theo đó, Luật Quy hoạch năm 2017 chủ yếu tập trung vào vấn đề quy hoạch không gian tổng thể trên toàn

bộ lãnh thổ và vấn đề quản lý nhà nước về quy hoạch nói chung Luật Quy hoạch một khi có hiệu lực (ngày 01/01/2019) sẽ đóng vai trò như “luật xương sống”

với chức năng quy định các nghĩa vụ và nguyên tắc quản lý xuyên suốt các hoạt động quy hoạch của các cấp chính quyền, tạo khuôn khổ cho việc đưa ra các quy định về quy hoạch trong các văn bản pháp luật thực định và các văn bản dưới luật có liên quan của chính quyền Cũng theo pháp luật Việt Nam, quy hoạch đô

thị được coi là một trong 5 ngành trong hệ thống quy hoạch quốc gia24 bởi quy

hoạch đô thị bản thân nó có tính ràng buộc cao về thực thi và sẽ là cơ sở vững

chắc để định vị và xác lập khuôn khổ cho tổ chức không gian lãnh thổ ở cấp độ cao hơn Tuy nhiên, quy mô vùng đô thị thực tế rất đa dạng và không nên coi là một cấp độ dưới tỉnh Bản chất Quy hoạch tỉnh là quy hoạch nghiên cứu về vùng nhưng ranh giới tỉnh chỉ là yếu tố chủ quan và việc nghiên cứu giải quyết vấn đề

ở cấp độ vùng (vùng địa lý, định cư, hoặc kinh tế) cần thoát khỏi rào cản của ranh giới hành chính.25

Việc Quy hoạch đô thị phải tuân theo những quy định về quản lý Nhà nước về quy hoạch và nguyên tắc chung trong quy hoạch lãnh thổ quốc gia trong

23 Thanh Huyền (TCKT), “Dự thảo Luật Quy hoạch & Luật Quy hoạch đô thị – Vấn đề gì đặt ra?”,

24 Điều 5, Luật Quy hoạch năm 2017

25 TS Nguyễn Ngọc Hiếu - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Sô 87) (2017), “Bàn về dự thảo Luật Quy hoạch theo cách

tiếp cận hệ thống”, http://www.viup.vn , truy c ập ngày 20/02/2018

Trang 24

thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy

hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt còn Luật Đầu tư công quy định việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công Như vậy, quy hoạch đô thị được thực hiện trên cơ sở sự tham gia chủ đạo của công tác quản lý của cơ quan Nhà nước và bất kỳ việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia,

vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài,

vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư, gọi tắt là vốn đầu tư công26, vào chính sách quy hoạch xây dựng đô thị thì đều phải tuân theo sự điều chỉnh của Luật Đầu tư công.Hoạt động lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức

thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý đô thị có sử dụng vốn đầu tư công trong

Luật Quy hoạch đô thị phải tuân thủ mọi nguyên tắc và quy định có liên quan trong Luật Đầu tư công năm 2014

Thứ ba là, mối quan hệ giữa Luật Quy hoạch đô thị và Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Hệ thống quy hoạch của Châu Âu hoặc các nước phát triển được hình thành khi đã có nền tảng quy hoạch đô thị tích hợp, ra quyết định chiến lược, tham gia và việc tích hợp cấp độ cao hơn không gặp nhiều trở ngại bởi họ xây từ

26 Kho ản 21, Điều 4, Luật Đầu tư công năm 2014

Trang 25

Có thể thấy, chính quyền địa phương ở mỗi đơn vị hành chính có vai trò

rất quan trọng trong việc xây dựng nền móng và đảm bảo nguồn lực hợp lý nhất đối với chính sách quy hoạch đô thị , đồng thời cũng là nơi có tác động và ảnh hưởng to lớn nhất đến việc thực thi những quy định trong Luật Quy hoạch đô

thị.Vì thế, Luật tổ chức chính quyền địa phương với phạm vi quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính có vai trò quan trọng và mối quan hệ mật thiết đối với các quy định trong Luật Quy hoạch đô thị Chủ thể quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương cũng là một trong những chủ thể có trách nhiệm chi phối chủ yếu trong

việc thực thi Luật quy hoạch đô thị và là chủ thể có nhiệm vụ giám sát hoạt động quy hoạch đô thị tại các địa phương

Thứ tư là, mối quan hệ giữa Luật Quy hoạch đô thị và Luật Thủ đô

Đối với việc nghiên cứu quy hoạch đô thị tại một trong hai đô thị đặc biệt

của Việt Nam, cụ thể là tại thành phố Hà Nội, thì Luật Thủ đô là một văn bản pháp luật không thể thiếu trong việc tìm hiểu vị trí, vai trò của Thủ đô; cũng như chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô Quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội không được trái với nguyên tắc chung và giá

trị truyền thống của thành phố được quy định tại Luật Thủ đô

27 TS Nguy ễn Ngọc Hiếu - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Sô 87) (2017), “Bàn về dự thảo Luật Quy hoạch theo cách

ti ếp cận hệ thống”, http://www.viup.vn , truy c ập ngày 20/02/2018

Trang 26

21

1.3.2 Những yêu cầu đối với quy hoạch đô thị

Một quy hoạch đô thị được phê duyệt về nguyên tắc phải đảm bảo đủ 7 tiêu chí như sau:28

Thứ nhất là, cụ thể hoá định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia và các quy hoạch vùng liên quan; phù hợp với mục tiêu của chiến lược, quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; bảo đảm tính thống

nhất với quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi đô thị; bảo đảm công khai, minh bạch và kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân

Thứ hai là, dự báo khoa học, đáp ứng được yêu cầu thực tế và phù hợp với

xu thế phát triển của đô thị; tuân thủ quy chuẩn về quy hoạch đô thị và quy chuẩn khác có liên quan

Thứ ba là, bảo vệ môi trường, phòng ngừa hiểm hoạ ảnh hưởng đến cộng đồng, cải thiện cảnh quan, bảo tồn các di tích văn hoá, lịch sử và nét đặc trưng địa phương thông qua việc đánh giá môi trường chiến lược trong quá trình lập quy hoạch đô thị

Thứ tư là, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đất đô thị nhằm tạo ra nguồn lực phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững

Thứ năm là, bảo đảm tính đồng bộ về không gian kiến trúc, hệ thống hạ

tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm; phát triển hài hoà giữa các khu vực trong đô thị

Thứ sáu là, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhà ở, công trình y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, thương mại, công viên, cây xanh, mặt nước và công trình hạ tầng

xã hội khác

28 Điều 6, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

Trang 27

Theo đó, yêu cầu về vấn đề đảm bảo bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn được giá trị truyền thống song song với việc đảm

bảo tính đồng bộ, hài hòa trong không gian đô thị và nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông, xử lý chất thải, cung cấp điện , nước trong quy hoạch đô thị ngày càng được coi trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quy hoạch

1.4 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị

Để tiến hành quy hoạch đô thị, cần xác định những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng quyết định đến mọi hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội sẽ xẩy ra trên khu đô thị Nghiên cứu những yếu tố trên nhằm tạo cơ sở để xác định các phương án, giải pháp kĩ thuật đúng đắn, hiệu quả của đồ án quy hoạch đô thị chi tiết

Những yếu tố tổng hợp có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành các

hoạt động quy hoạch đô thị bao gồm :

Thứ nhất là, yếu tố khách quan thể hiện ở mối quan hệ giữa đất khu đô thị

với môi trường xung quanh :Với tư cách là một bộ phận hữu cơ của không gian

đô thị hay của vùng, nhũng ảnh hưởng qua lại, mối quan hệ không gian, chức năng giữa khu đất đô thị với môi trường xung quanh là một trong những yếu tố quyết định đến mọi hoạt động trên khu đô thị dự kiến quy hoạch.29

Thứ hai là, những điều kiện, tiềm năng của khu đô thị: Những yếu tố như điều kiện tự nhiên của khu vực như khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn, những

29 “Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị Việt Nam”, TS Doãn Hồng Nhung (chủ biên), Trịnh Thị Mai Phương, NXB Xây d ựng năm 2010

Trang 28

23

đặc trưng của cảnh quan khu vực và các điều kiện hiện trạng về sử dụng đất, dân

cư, các công trình kiến trúc, hạ tầng kĩ thuật tại khu vực cũng có ảnh hưởng rất

lớn đến công tác quy hoạch đô thị đó

Thứ ba là, những hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội đã hình thành trên khu đất đô thị như nhà ở, sản xuất, giao thông, hoạt động văn hóa, dịch vụ, giáo

dục, giải trí,…sẽ ảnh hưởng đến xây dựng đồ án quy hoạch đô thị và công tác

thực thi, quản lý quy hoạch đô thị sau này

Thứ tư là, yếu tố chủ quan về con người, mà cụ thể là tầm nhìn, kinh nghiệm của các nhà quy hoạch, sự hợp tác của các ban , ngành, cơ quan tổ chức có liên quan và sự hiểu biết của người dân về tầm quan trọng của quy hoạch đô thị

1.5 Pháp lu ật điều chỉnh quy hoạch đô thị và ý nghĩa của việc điều

ch ỉnh pháp luật đối với quy hoạch đô thị

Quy hoạch là quá trình (i) nhận dạng các mục tiêu cần đạt tới, (ii) xác định chiến lược để đạt mục tiêu, (iii) xây dựng các biện pháp, chỉ ra các nguồn lực cần huy động để thực hiện, (iv) tổ chức, chỉ đạo và giám sát tất cả mọi giai đoạn thực

hiện, và thường thì còn tiến hành các điều chỉnh cần thiết để quy hoạch phù hợp với thực tiễn trong từng giai đoạn Quy hoạch là một hoạt động bao gồm nhiều loại hình và nhiều thứ bậc, hình thành hệ thống quy hoạch quốc gia Việc quản lý nhà nước đối với một hệ thống quy hoạch rộng lớn và đa dạng như vậy khó có

thể điều tiết bằng luật thông thường để quy định quyền và trách nhiệm của các thành viên trong xã hội đối với hành vi của họ Khi đó, Nhà nước ban hành “luật khung” có chức năng quy định các nghĩa vụ và nguyên tắc quản lý các hoạt động quy hoạch của các cấp chính quyền, tạo khuôn khổ cho việc đưa ra các quy định

về quy hoạch trong các luật thực chất và các văn bản pháp quy dưới luật có liên quan của chính quyền30.Đó là cơ sở dẫn đến việc Luật Quy hoạch năm 2017 ra đời, nhưng là chưa đủ để có thể xóa bỏ vai trò của Luật Quy hoạch đô thị bởi các

30 TS Phạm Sỹ Liêm (2017), “Dự thảo Luật Quy hoạch thể hiện đầy đủ vai trò của một “luật khung”,

Trang 29

24

quy hoạch trên cấp độ đô thị đều có gốc rễ là đô thị và vùng đô thị Cụ thể, việc

lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện, điều chỉnh quy hoạch đô thị thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị, pháp luật về xây dựng và chỉ có hiệu lực khi được tích hợp vào quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy

hoạch tỉnh được quy định trong Luật Quy hoạch.Việc công bố, công khai quy

hoạch đô thị thực hiện theo quy định của Luật Quy hoạch, pháp luật về quy

hoạch đô thị và pháp luật về xây dựng

Quy hoạch vùng, quốc gia, và nông thôn được hình thành và phát triển sau

và phụ thuộc vào chính các đô thị hiện hữu Quy hoạch vùng hình thành khi đô

thị mở rộng, khi hệ thống hạ tầng vùng cần phát triển, tài nguyên vùng cần khai thác gắn với các trung tâm sản xuất và tiêu thụ là các đô thị Quy hoạch nông thôn gắn với quá tình nâng cấp tiện ích ở khu vực nông thôn sử dụng cách tiếp cận định cư đô thị Nhu cầu làm quy hoạch nông thôn cũng tập trung ở các vùng ven đô để phục vụ quá trình đô thị hóa và củng cố mối liên kết đô thị - nông thôn trong cơ cấu phát triển mới Nói cách khác, hệ thống đô thị và sự vận động nhanh của bộ khung này là trung tâm trong việc định hình tổ chức không gian lãnh thổ

Vì có vai trò quan trọng và đặc thù như vậy, nên vẫn cần thiết phải có một văn bản pháp luật riêng quy định cụ thể về vấn đề quy hoạch đô thị

1.6 Kinh nghi ệm quy hoạch đô thị tại một số Thành phố của Trung Quốc

Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng có sự gần gũi về mặt thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa Trung Quốc quá độ sang kinh tế thị trường cũng

chỉ trước Việt Nam không lâu, vì vậy thực tiễn đô thị hóa Trung Quốc để lại cho nước ta rất nhiều bài học quý giá, có thể giúp nước ta học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý giá trong công cuộc quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch đô thị bền vững trong một thành phố cụ thể nói riêng Cho đến hiện tại, đô thị hóa của Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu phi thường, góp phần đưa kinh tế Trung

Trang 30

25

Quốc phát triển nhanh chóng.Thế nhưng quá trình đó cũng đặt ra nhiều vấn đề về suy thoái môi trường, giảm đất canh tác, tạo áp lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên (năng lượng, nước, đất), thiếu nhà ở thích hợp, thay đổi phương thức tiêu dùng (chẳng hạn từ ăn nhiều ngũ cốc sang ăn nhiều thịt, tiêu thụ nhiều năng lượng) Sự lan tỏa đô thị tự phát và tình trạng “xa lánh xã hội” (social alienation) khiến Trung Quốc phải đối diện với nhiều thách thức to lớn.31 Nhìn chung các thách thức đối với đô thị hóa Trung Quốc có thể quy về 3 chủ đề lớn là đất đai, con người và môi trường Ngoài ra, năng lực quản lý đô thị cũng là thách thức quan trọng.32

Đặc biệt, tại Trung Quốc, quá trình quy hoạch mỗi thành phố, đã quan tâm đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các khu vực; giữa thành thị và nông thôn,

nhằm đảm bảo sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm đất đai, tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, phát huy vai trò và hỗ trợ nhau cùng phát triển 33Mục tiêu quy

hoạch đô thị để thúc đẩy quá trình đô thị hóa bền vững, góp phần phát triển kinh

tế xã hội chung, hỗ trợ nông thôn cùng phát triển, nâng cao đời sống nhân dân,

hội nhập kinh tế quốc tế

Một trong những thành công trong việc quy hoạch đô thị của Trung Quốc phải kể đến Thành phố Thâm Quyến - Kể từ khi thành lập hồi tháng 5/1980, đặc khu kinh tế Thâm Quyến được trao sứ mệnh là “cửa sổ mở và khu thí điểm” của

cải cách mở cửa 34

So sánh với Hồng Kông, mới đây, tổng sản phẩm quốc nội của Hồng Kông đã tăng 3,8% lên 2,66 tỷ đô la Hồng Kông (340 tỷ USD) Mặc dù đạt mức tăng trưởng nhanh nhất kể từ năm 2011, GDP của thành phố/đặc khu kinh tế này

vẫn giảm xuống thấp hơn GDP của Thâm Quyến, khi nền kinh tế của thành phố

31 C.Y.Wang (2014), China: planning for an urban future EY’s China Business Network

32 TS Phạm Sỹ Liêm -Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (2017), “Đô thị hóa ở Trung Quốc và bài học kinh

nghiệm phát triển bền vững tại Việt Nam”, http://vncc.vn, truy cập ngày 15/03/2018

33 11, J Vernon Henderson: Urbanization in China: Policy Issues and Options China Economic Research and

Advisory Programme

34 Tô Minh (2017), “Kinh nghiệm từ Thâm Quyến”, http://www.ashui.com , truy c ập ngày 15/03/2018

Trang 31

Được thúc đẩy bởi bối cảnh đổi mới sôi động, Thâm Quyến hiện nay đã trở thành trung tâm kinh tế lớn thứ ba ở Trung Quốc, sau Bắc Kinh và Thượng Hải

Ban đầu, Thâm Quyến được chọn làm đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung

Quốc do lợi thế nằm giáp Hồng Kông (lúc đó còn thuộc Vương quốc Anh) Tính đến cuối năm 2015, từ một thị trấn ven biển nhỏ với chỉ hơn 30 nghìn dân, Thâm Quyến đã phát triển thành một siêu đô thị hiện đại, diện tích gần 2.000 km2, với hơn 18 triệu dân (trong đó hơn 11 triệu cư dân thường trú)

Việc hình thành và phát triển thiết kế đô thị tại Thâm Quyến cũng chưa được định hình rõ ràng khi hình thành đặc khu kinh tế vì tại thời điểm này các nhà quy hoạch của Trung Quốc vẫn chưa biết nhiều về thiết kế đô thị Tới tận năm 1986 theo chủ trương của chính quyền trung ương, Trung Quốc đã cử một đoàn các nhà quy hoạch sang Mỹ học về thiết kế đô thị thiết kế thành phố, một trong những người này có giáo sư Kim Quảng Quân, mà phần lớn các nhà quy

35 Theo Nikkei- Mạnh Đức dịch (2018), “Vì sao GDP của Thâm Quyến vượt qua Hồng Kông?”,

36 Thu Giang (2016),”Thâm Quyến (Trung Quốc) dẫn đầu toàn cầu về chỉ số giá nhà ở”, theo Property Wire,

Trang 32

đó là việc thiết kế khu vực trung tâm Phúc Điền của Thâm Quyến Việc thiết kế này được thực hiện liên tục gồm nhiều giai đoạn, hàng năm Thâm Quyến mời các công ty tham gia từng hạng mục của dự án, nhưng việc thiết kế vẫn phải đảm

bảo quy hoạch chung đã được duyệt Việc đưa phong thuỷ vào trong thiết kế đô

thị tại Trung Quốc cũng đã được quan tâm, như việc chính quyền Thâm Quyến cho đắp một ngọn núi phía sau toà nhà chính phủ và trên có đặt bức tượng Đặng Tiểu Bình

Năm 1996, Thâm Quyến tổ chức một cuộc thi thiết kế khu trung tâm hành chính trên phạm vi quốc tế bao gồm các công ty của Mỹ, Nhật, Hồng Kông và Singapore, cuối cùng Công ty của Mỹ đã thắng trong cuộc thi này.38Năm 1997, người ta tổ chức thi quy hoạch và thiết kế không gian công cộng của toàn bộ khu trung tâm Phúc Điền, cuối cùng một công ty của Nhật đã thắng thầu và thành công lớn nhất của dự án là việc mở rộng không gian kiến trúc này và việc nối kết

với khu vực núi Liên Hoa- nơi đặt bức tượng Đặng Tiểu Bình Ngoài ra, nhiều

dự án khác đã được thực hiện bởi các công ty nước ngoài cho tới cuối năm 2000

Từ năm 2001 đến nay, việc thiết kế đô thị tại Thâm Quyến không còn do các công ty nước ngoài đảm trách mà do các công ty của Trung Quốc thực hiện Năm 2002, các nhà quy hoạch tại Thâm Quyến đã đưa ra được một loạt các bản

vẽ quy định cho việc thiết kế đô thị và việc xây dựng chúng như thế nào

37 Mai Đình Ngọc (2007), “Mô hình thiết kế đô thị tại Thâm Quyến Trung Quốc”, theo Tạp chí Quy hoạch Xây

d ựng, số 273/2007, http://www.xaydung.gov.vn , truy c ập ngày 15/03/2018

38 Wikipedia, Urbanization in Shenzhen China

Trang 33

28

Thiết kế đô thị tại Thâm Quyến từ 1994-2004: đưa ra phương án thiết kế thông qua các khái niệm, mô hình và bản vẽ mang tính khái quát, tiêu chuẩn mang tính vĩ mô, chưa cụ thể hoá để mang tính pháp lý

Từ năm 2004 đến nay: đã đưa ra được thành quả mang tính khống chế như chính sách không gian kết cấu Chính sách không gian tổng thể, bảo vệ môi trường công cộng, gồm có chính sách thiết kế và thiết kế chấp hành các tiêu chuẩn thưởng phạt vì hiện tại tiêu chuẩn thưởng phạt tại Thâm Quyến chỉ mang tính khuyến khích chứ không mang tính bắt buộc pháp lý Ví dụ Thâm Quyến đã đưa ra được các quy định về hệ thống biển quảng cáo mang tính pháp lý cao như khoảng cách từ điểm cuối cùng của bức tường này tới mặt ngoài của các kiến trúc cụ thể phải cao hơn 3 m, hay của các bức tường liền kề, hình thái của các

tấm biển quảng cáo với khung của toà nhà phải như thế nào, biển quảng cáo thuộc về ai và ai được phép quảng cáo tại đây các quy định này rất cụ thể và nó được in thành sách hướng dẫn cho mọi tầng lớp nhân dân Tại Thâm Quyến việc thiết kế đô thị cho các không gian công cộng phải luôn đảm bảo cho tất cả mọi người được sử dụng và phải mở cửa miễn phí Các không gian công cộng nên gần các hệ thống giao thông, ngoài ra trong không gian công cộng còn có quy định biên giới của không gian công cộng này phải nên có cửa và ít nhất có 2 cửa

phụ với không gian công cộng khác.Việc khống chế không gian công cộng tại Thâm Quyến dẫn đến quyền sử dụng đất công cộng bao gồm đất độc lập là đất

đã có quy hoạch trước như tại các khu đô thị mới, quyền sử dụng đất thuộc về chính phủ việc thiết kế trọng điểm dễ dàng hơn, các quy định cho việc thiết kế

đô thị tại đây mang tính pháp quy cao, còn đất phi độc lập là đất đã có chức năng sử dụng như là các khu phố cũ hay thành cổ, đất này thuộc quyền sử dụng

của người dân từ trước, khó có thể trở thành quyền sử dụng của nhà nước khuyến kích thiết kế trọng điểm các quy định các quy định tại đây mang tính khuyến khích thực tế vẫn là cưỡng ép Ví dụ nếu mà chính quyền xây khu công cộng thì

Trang 34

từ 5-85% tuỳ theo từng hạng mục công trình, ngoài ra tại các không gian công

cộng còn có quy định về số lượng ghế chính nhìn là thấy ghế và ghế phụ nhìn không thấy là ghế nhưng vẫn ngồi được

Hay như Thượng Hải, thành phố lớn và hiện đại bậc nhất của đất nước Trung Quốc, xưa kia vốn chỉ là một làng chài ven biển thuộc miền trung Trung

Quốc Vào khoảng thế kỷ 11, đời nhà Tống (960–1279), làng chài nhỏ bé này được xây dựng và phát triển thành một hải cảng nhằm phục vụ nhu cầu giao thương buôn bán của vùng.Với vai trò quan trọng của một cảng biển lớn, từ thế

kỷ 19 Thượng Hải đã bị các đế quốc phương Tây và Nhật Bản nhòm ngó và xâm chiếm, lập ra các khu “Tô giới” dưới hình thức nhượng địa, là nơi mà người phương Tây được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, được bảo hộ bằng pháp luật của

bản quốc, và họ sống cuộc sống đầy đủ như ở chính quốc Một thành phố Thượng Hải xa hoa, bất ổn với những băng nhóm xã hội đen, bị Tây hóa vào những năm đầu thế kỷ 20, lúc đó nằm hoàn toàn bên bờ Tây của con sông Hoàng

Phố, đối lập với cảnh bần hàn, khổ hạnh của người dân lao động bên phía bờ Đông Câu chuyện về sự chênh lệch và khác biệt của cuộc sống ở phố Đông –

phố Tây cho đến ngày nay vẫn được người Thượng Hải nói đến Tuy nhiên, bộ mặt khu phố Đông cho đến hiện tại đã hoàn toàn thay đổi sau những nỗ

lực ,chính sách quy hoạch đô thị khả thi của chính quyền Thượng Hải, Trung

Quốc Trước khi hình thành các khu đô thị mới, Phố Đông có diện tích tới 522.75km2 và dân số hơn 2 triệu người Tuy nhiên, chính quyền thành phố Thượng Hải đã quy hoạch đầy đủ khu thương mại tài chính, khu chế xuất để tạo nên một thế mạnh tổng hợp cho Phố Đông Sau khi có chủ trương phát triển

Trang 35

30

mỗi khu, chính quyền tập trung xây dựng quy hoạch rất chi tiết với 3 tiêu chí: quy hoạch hạ tầng phải chú trọng môi trường; quy hoạch kinh tế phải đa năng, hài hòa; quy hoạch phát triển xã hội chú ý dân cư sinh sống và làm việc Đặc biệt, quy hoạch không phủ kín hoàn toàn mà còn để lại 1 quỹ đất dành cho phát triển theo nhu cầu, tạo sự linh hoạt cho sự phát triển Tại Phố Đông, chính quyền thành phố Thượng Hải đã giao quyền sử dụng đất của các khu đô thị trong tương lai cho các công ty 100% vốn Nhà nước Các công ty sẽ thế chấp quyền sử dụng đất để tạo nguồn vốn và đầu tư hạ tầng, sau đó được đấu giá cho các nhà đầu tư

để thu hồi vốn.Để có nguồn vốn đầu tư hạ tầng cơ sở như xây dựng hệ thống cầu,

hầm nối hai bờ Hoàng Phố, chính quyền Thượng Hải đã vay tiền từ Ngân hàng

Thế giới (WB), sau khi các công trình này đi vào hoạt động WB tổ chức thu phí

để hoàn vốn Tuy nhiên, sau một thời gian vận hành phương thức thu phí gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế do lưu lượng xe qua lại khoảng 1 triệu xe/ngày nên Thượng Hải đã bỏ tiền mua lại quyền khai thác từ Ngân hàng thế

giới Chính quyền không thu phí trực tiếp để tiết kiệm thời gian, nhân lực mà tổ

chức thu hồi vốn bằng cách thu một khoản phí khi người dân mua ô tô Ngoài việc vay vốn của ngân hàng, Thượng Hải đã kêu gọi các Bộ ngành, các địa phương khác đầu tư vào Phố Đông với nhiều chính sách ưu đãi Những chính sách huy động vốn linh hoạt trên đã giúp cho tổng vốn đầu tư hạ tầng của Phố Đông hơn 300 tỷ Nhân dân tệ nhưng vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 10%.39Với

những kinh nghiệm của Trung Quốc, quốc gia có địa lý gần với Việt Nam, cũng

có nền văn hóa gần như tương đồng với Việt Nam,thì những bài học từ công tác quy hoạch đô thị của họ sẽ là những gợi mở quý giá cho Việt Nam học tập trong

hoạt động quản lý đô thị Việt Nam hiện đại trong tương lai

39 Theo Kinh tế Đô thị (2011), “Quy hoạch đô thị tại Thượng Hải”, http://diaoconline.vn , truy c ập ngày

16/03/2018

Trang 36

31

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đô thị phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã

hội , là nơi tích lũy của cải, tạo dựng văn hóa và nuôi dưỡng những ý tưởng mới,

nhằm thay đổi cuộc sống của cả nhân loại Hiểu đúng những khái niệm cơ bản về các xu hướng đô thị hóa trên thế giới : đô thị thông minh, đô thị bền vững cùng

những khái niệm nền tảng về quy hoạch đô thị trong hệ thống pháp luật bước đầu giúp các nhà quy hoạch có cái nhìn đúng đắn về quy hoạch đô thị, từ đó xây

dựng đồ án quy hoạch đô thị Tìm hiểu kinh nghiệm quy hoạch đô thị tại một số thành phố lớn của Trung Quốc như Thâm Quyến, Thượng Hải để thấy được

những thành tựu họ đạt được, bổ sung cái nhìn tổng quan về đô thị và quy hoạch

đô thị nói chung và quy hoạch đô thị tại các thành phố nói riêng

Trang 37

32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở

VI ỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH

ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

2.1.1 Nội dung quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục lập , thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị

Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân khi thực hiện các chương trình, kế

hoạch đầu tư xây dựng phát triển đô thị, quy hoạch chuyên ngành trong phạm vi

đô thị, kế hoạch sử dụng đất đô thị, quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị, thực hiện quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc thực

hiện các hoạt động khác có liên quan đến quy hoạch đô thị phải tuân thủ quy

hoạch đô thị đã được phê duyệt và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.40

Theo đó, việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị phải theo trình

tự sau đây:41

Thứ nhất là, lập nhiệm vụ quy hoạch đô thị;

Thứ hai là, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch đô thị;

Thứ ba là, lập đồ án quy hoạch đô thị;

Thứ tư là, thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch đô thị

2.1.2 Quyền và trách nhiệm của các cơ quan ,tổ chức, cá nhân về các

v ấn đề quản lý, giám sát quy hoạch đô thị

Thứ nhất là, tổ chức, cá nhân trong nước có quyền tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch đô thị

Thứ hai là, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia ý kiến về những vấn

đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình trong hoạt động quy hoạch đô thị

40 Điều 5, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

41 Điều 7, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

Trang 38

33

Thứ ba là, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong hoạt động quy hoạch đô

thị phải tạo điều kiện cho việc tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch

sự có động lực để phát triển.42 Kể từ thời gian đó, chúng ta đã gặp phải rất nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm, năng lực quản lý và quản lý một cách cứng nhắc – duy lý trí dẫn tới ngay cả những đô thị từ xưa đã vốn rất “hiền hòa” bỗng trở thành những “con ngựa bất kham” liên tục “nhấn chìm” chúng ta trong ngập nước, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, xuống cấp về văn hóa với muôn vàn các tệ nạn xã hội… Như vậy thì chưa nói gì tới “Phát triển bền vững” mà ngay trong hiện tại chúng ta cũng không thể “Quản lý phát triển đô thị” được.43

Cụ thể, có 4 cơ quan nhà nước sau có trách nhiệm chủ đạo trong việc quản

lý quy hoạch đô thị lần lượt trong các phạm vi cả nước, theo phân cấp:

Thứ nhất là, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trong phạm vi cả nước

Thứ hai là, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về quy hoạch đô thị; chủ trì phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị

42 TS Doãn Hồng Nhung (2010), “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt Nam hiện nay” của TS

Doãn H ồng Nhung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7 năm 2010

43 Theo Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (2015), “Phát triển đô thị bền vững từ góc độ quản lý phát triển đô thị”,

Trang 39

34

Thứ ba là, các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn

của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị

Thứ tư là, ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ.44

2.1.3 Vấn đề về tư vấn lập quy hoạch đô thị

Một tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị phải đảm bảo có chứng chỉ năng

lực được phân lần lượt thành các các Hạng I, Hạng II và Hạng III:45

Tổ chức thuộc Hạng I: Được lập các loại đồ án quy hoạch xây dựng;

Tổ chức thuộc Hạng II: Được lập các đồ án quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, quy hoạch chung xây dựng đô thị loại II trở xuống, quy hoạch khu chức năng đặc thù cấp tỉnh, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch xây dựng nông thôn;

Tổ chức thuộc Hạng III: Được lập các đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch chung xây dựng đô thị loại IV trở xuống, quy hoạch khu chức năng đặc thù cấp huyện, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch xây dựng nông thôn

Việc lựa chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị thông qua hình thức chỉ định thầu hoặc thi tuyển ý tưởng quy hoạch Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô

thị thực hiện việc chỉ định tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị theo quy định pháp luật về chỉ định thầu trong trường hợp lựa chọn dưới hình thức chỉ định thầu Tuy nhiên, pháp luật quy định khuyến khích việc lựa chọn tư vấn thông qua hình thức thi tuyển đối với quy hoạch chung các đô thị có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc thù; quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết các khu vực có ý nghĩa quan

trọng trong đô thị.Cơ quan có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch hoặc chủ đầu tư

44 Điều 14, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

45 Điều 60, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về Quản lý dự án đầu tư xây dựng ngày 18/06/2015

Trang 40

35

phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thiệt hại do việc lựa chọn tổ

chức tư vấn không đủ điều kiện năng lực.46

2.2 Th ực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại Thành phố

dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường

sắt, đường hàng không và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế

Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông ,nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,4%,

diện tích đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất ở chiếm 19,26% (năm 2015).47Xuất phát từ yêu cầu sử dụng đất của Thủ đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế - xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp và đất xây

dựng Phần lớn diện tích đất đai ở nội Thành Hà Nội được đánh giá là không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún, nứt

46 Điều 12, Điều 13 Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy

ho ạch đô thị

47 Theo Thanglonghanoi/Vietnam+(2015), “Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến Hà Nội”, http://hanoi.gov.vn ,

truy c ập ngày 25/02/2018

Ngày đăng: 06/12/2021, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1, Tr ầ n Anh (2016), “Giả i pháp nào cho công tác qu ả n lý quy ho ạch đô th ị?”, http://www.ashui.com, truy cập ngày 10/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nào cho công tác quản lý quy hoạch đô thị?”
Tác giả: Tr ầ n Anh
Năm: 2016
2, Quý Anh- Đào Hà (2018), “Hà N ội đang nỗ l ự c phát tri ển theo hướ ng đô thị xanh ”, Theo Hộ i quy ho ạ ch phát tri ển đô thị Vi ệ t Nam, http://www.ashui.com, truy c ậ p ngày 01/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội đang nỗ lực phát triển theo hướng đô thị xanh
Tác giả: Quý Anh- Đào Hà
Năm: 2018
3, Ti ến sĩ Nguyễn Đình Bồ ng (2008), “Quy hoạch đô thị : Th ự c tr ạ ng và gi ải pháp”, www.moc.gov.vn, truy cập ngày 06/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch đô thị: Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Ti ến sĩ Nguyễn Đình Bồ ng
Năm: 2008
7, PGS.TS.KTS. Lưu Đức Cường (2017), “ Lu ậ t Quy ho ạ ch: Nhìn t ừ góc độ đổ i m ớ i công tác l ậ p quy ho ạch đô thị”, http://kientrucvietnam.org.vn, truy c ậ p ngày 01/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quy hoạch: Nhìn từ góc độ đổi mới công tác lập quy hoạch đô thị”
Tác giả: PGS.TS.KTS. Lưu Đức Cường
Năm: 2017
8, PGS.TS.KTS. Lưu Đức Cường - ThS.KTS. Cao Sỹ Niêm (2015), “Th ự c tr ạ ng công tác l ập QHĐT tạ i Vi ệt Nam & đề xu ấ t m ộ t s ố định hướng đổ i m ới”, http://www.viup.vn, truy c ậ p ngày 03/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác lập QHĐT tại Việt Nam & đề xuất một sốđịnh hướng đổi mới”
Tác giả: PGS.TS.KTS. Lưu Đức Cường - ThS.KTS. Cao Sỹ Niêm
Năm: 2015
9, Nguy ễn Đỗ Dũng (2010), “Đô thị và Quy ho ạch đô thị: Tư duy và tiế p c ận” , http://www.ashui.com, truy c ậ p ngày 10/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đô thị và Quy hoạch đô thị: Tư duy và tiếp cận”
Tác giả: Nguy ễn Đỗ Dũng
Năm: 2010
10, Nguyễn Đỗ Dũng (2009), “Đô thị là gì và t ạ i sao chúng t ồ n t ạ i?”, https://dothivietnam.org, truy cập ngày 17/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đô thị là gì và tại sao chúng tồn tại
Tác giả: Nguyễn Đỗ Dũng
Năm: 2009
11, H.Duy – L.Sơn (2017), “Chuyên gia hiế n k ế xây d ự ng Lu ậ t Quy ho ạch” , http://duthaoonline.quochoi.vn, truy c ậ p ngày 10/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyên gia hiến kế xây dựng Luật Quy hoạch”
Tác giả: H.Duy – L.Sơn
Năm: 2017
12, Theo Nikkei- M ạnh Đứ c d ị ch (2018), “Vì sao GDP củ a Thâm Quy ế n vượ t qua H ồng Kông?”, https://baomoi.com, truy c ậ p ngày 15/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vì sao GDP của Thâm Quyến vượt qua Hồng Kông?”
Tác giả: Theo Nikkei- M ạnh Đứ c d ị ch
Năm: 2018
13, Giang Phạm (2017), “Xây dựng đô thị thông minh ph ả i l ấy ngườ i dân làm trung tâm”, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, https://mic.gov.vn, truy c ậ p ngày 17/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng đô thị thông minh phải lấy người dân làm trung tâm”
Tác giả: Giang Phạm
Năm: 2017
14, Thu Giang (2016 ),”Thâm Quyế n (Trung Qu ố c) d ẫn đầ u toàn c ầ u v ề ch ỉ s ố giá nhà ở”, theo Property Wire, http://www.baoxaydung.com.vn, truy c ậ p ngày 15/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),”Thâm Quyến (Trung Quốc) dẫn đầu toàn cầu vềchỉ số giá nhà ở”
15, Thanh Huyền (TCKT), “Dự th ả o Lu ậ t Quy ho ạ ch & Lu ậ t Quy ho ạ ch đô thị – V ấn đề gì đặt ra?”, http://www.baoxaydung.com.vn, truy c ậ p ngày 20/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự thảo Luật Quy hoạch & Luật Quy hoạch đô thị – Vấn đề gì đặt ra?”
16, TS. Nguy ễ n Ng ọ c Hi ế u - T ạ p chí quy ho ạ ch xây d ự ng (Sô 87) (2017), “Bàn về d ự th ả o Lu ậ t Quy ho ạ ch theo cách ti ế p c ậ n h ệ th ống” , http://www.viup.vn, truy cập ngày 20/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về dự thảo Luật Quy hoạch theo cách tiếp cận hệ thống”
Tác giả: TS. Nguy ễ n Ng ọ c Hi ế u - T ạ p chí quy ho ạ ch xây d ự ng (Sô 87)
Năm: 2017
17, Thu Hườ ng- Theo Đặ c san cu ố i tháng s ố 62 (2017), “Vấn đề điề u ch ỉ nh quy ho ạ ch xây d ự ng và nh ững băn khoăn trong quá trình kiểm toán”, http://www.baokiemtoannhanuoc.vn, truy c ậ p ngày 03/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề điều chỉnh quy hoạch xây dựng và những băn khoăn trong quá trình kiểm toán”
Tác giả: Thu Hườ ng- Theo Đặ c san cu ố i tháng s ố 62
Năm: 2017
18, Ngô Trung H ải và Lưu Đức Cườ ng (2010), “Đổ i m ới phương pháp quy ho ạch đương đạ i: L ị ch s ử và nh ữ ng v ấn đề c ủa phương pháp quy hoạch đô th ị truy ề n th ố ng”, t ạ p chí Quy ho ạ ch xây d ự ng s ố 48/ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới phương pháp quy hoạch đương đại: Lịch sử và những vấn đề của phương pháp quy hoạch đô thị truyền thống"”
Tác giả: Ngô Trung H ải và Lưu Đức Cườ ng
Năm: 2010
19, GS.TS. Lê H ồ ng K ế (2006), “ Phát tri ể n h ệ th ống đô thị qu ố c gia b ề n v ững” , http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn, truy c ậ p ngày 17/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống đô thị quốc gia bền vững”
Tác giả: GS.TS. Lê H ồ ng K ế
Năm: 2006
20, TS. Ph ạ m S ỹ Liêm (2017), “Dự th ả o Lu ậ t Quy ho ạ ch th ể hi ện đầy đủ vai trò c ủ a m ột “luậ t khung”, http://khucongnghiep.com.vn, truy cập ngày 23/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự thảo Luật Quy hoạch thể hiện đầy đủvai trò của một “luật khung
Tác giả: TS. Ph ạ m S ỹ Liêm
Năm: 2017
21, TS. Ph ạ m S ỹ Liêm -Phó ch ủ t ị ch T ổ ng h ộ i Xây d ự ng Vi ệ t Nam (2017), “Đô thị hóa ở Trung Qu ố c và bài h ọ c kinh nghi ệ m phát tri ể n b ề n v ữ ng t ạ i Vi ệ t Nam”, http://vncc.vn, truy c ậ p ngày 15/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đô thị hóa ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm phát triển bền vững tại Việt Nam”
Tác giả: TS. Ph ạ m S ỹ Liêm -Phó ch ủ t ị ch T ổ ng h ộ i Xây d ự ng Vi ệ t Nam
Năm: 2017
22, TS Phạm Sỹ Liêm (2008), “Suy ng ẫ m v ề m ột phương pháp quy hoạ ch giao thông đô thị ở Trung Qu ố c”, http://www.ashui.com, truy cập ngày 16/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm về một phương pháp quy hoạch giao thông đô thị ở Trung Quốc
Tác giả: TS Phạm Sỹ Liêm
Năm: 2008
23, Tô Minh (2017), “Kinh nghiệ m t ừ Thâm Quy ến”, http://www.ashui.com, truy cập ngày 15/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh nghiệm từ Thâm Quyến”
Tác giả: Tô Minh
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w