Quyền của của cổ đông NHTMCP có thể chia thành hai nhóm: M ột là, nhóm quyền về tài sản của cổ đông sẽ bao gồm: Quyền nhận cổ tức với tỷ lệ sở hữu, với định mức theo quyết định của ĐHĐC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2M ỤC LỤC
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
M Ở ĐẦU 2
Chương 1: NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NH ẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ PHÁP LU ẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6
1.1 Khái ni ệm, đặc điểm, phân loại ngân hàng thương mại cổ phần 6
1.1.1 Khái ni ệm ngân hàng thương mại cổ phần 6
1.1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại cổ phần 6
1.1.3 Phân lo ại ngân hàng thương mại cổ phần 7
1.2 Khái ni ệm, phương thức sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 7 1.2.1 Khái ni ệm sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 7
1.2.2 Các phương thức sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 9
1.3 Khái ni ệm cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần và quyền của cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần 10
1.3.1 Khái ni ệm cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần 10
1.3.2 Quy ền của cổ đông của ngân hàng thương mại cổ phần 11
1.4 Yêu c ầu bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ ph ần 11
1.5 Các c ơ chế bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ ph ần 13
1.5.1 Cơ chế tự bảo vệ 14
1.5.2 Các thi ết chế nội bộ 14
1.5.3 Các thi ết chế bên ngoài 15
1.6 Pháp lu ật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại c ổ phần 16
1.6.1 Khái ni ệm pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng
Trang 31.6.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 16 1.6.3 N ội dung pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương
m ại cổ phần 17
Ti ểu kết Chương 1 19 Chương 2: TH ỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LU ẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 20 2.1 Th ực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 20
2.1.1 V ề điều kiện, trình tự, thủ tục sáp nhập ngân hàng thương mại cổ
ph ần 20
2.1.2 Về các quyền của cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ
phần 222.1.3 Về thiết chế nội bộ bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương
Ti ểu kết Chương 2 50 Chương 3: CÁC KI ẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
B ẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NHẬP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 51 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp
Trang 43.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập
ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 52
3.2.1 V ề nguyên tắc định giá tài sản của ngân hàng thương mại cổ phần trong quá trình sáp nh ập 52
3.2.2 V ề thủ tục sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 54
3.2.3 V ề quyền tiếp cận thông tin của cổ đông liên quan đến sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 54
3.2.4 V ề các thiết chế nội bộ bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần 56
Ti ểu kết Chương 3 57
K ẾT LUẬN 58
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PH Ụ LỤC 63
Trang 6M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo tốc độ phát triển của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế diễn ra hằng ngày xung quanh chúng ta và cũng trở thành nguồn thu hút lớn đối với các nhà đầu tư Như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1990 tại Mỹ và các nước phát triển khác, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính kéo theo sự đổ vỡ của
một hoạt ngân hàng
Tại Việt Nam, một số vụ sáp nhập ngân hàng đã diễn ra từ những năm
90 của thế kỉ XX nhằm mở rộng quy mô hoạt động cho các ngân hàng tham gia sáp nhập Tuy nhiên, giai đoạn này tại Việt Nam chưa xuất hiện một vụ
khủng hoảng tài chính thực sự nào Những thương vụ sáp nhập ngân hàng đầu tiên chưa lộ ra nhiều vấn đề pháp lý đáng chú ý Đến cuối năm 2011, trước
những khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, hệ thống ngân hàng bộc lộ hàng loạt yếu kém Vào khoảng thời gian này, tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng cao và một loạt khoản vay đổ vào bất động sản và chứng khoán Hậu quả là thanh khoản của hệ
thống tổ chức tín dụng thiếu hụt nghiêm trọng, lãi suất liên ngân hàng tăng cao, có thời điểm lên đến trên 30%/năm, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống, các
tỷ lệ an toàn vốn của từng ngân hàng và toàn hệ thống sụt giảm Trước
những bất ổn của hệ thống ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
254/QĐ-TTg ngày 1-3-2012 thông qua Đề án 254 về “Cơ cấu lại hệ thống
các t ổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” Theo nội dung của Đề án, giải
pháp cơ cấu lại NHTMCP là khuyến khích sáp nhập các ngân hàng yếu kém vào các ngân hàng có năng lực tài chính lành mạnh với mục tiêu tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các tổ
chức tín dụng; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các tổ chức
Trang 7tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng Đây cũng là lúc thị trường chứng kiến một loạt thương vụ sáp
nhập NHTMCP Nối tiếp những kết quả thu được sau Đề án 254, tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề
án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn
2016-2020” Theo đó, định hướng tái cơ cấu đối với NHTMCP là tiếp tục thúc đẩy
việc mua bán, sáp nhập trên cơ sở tự nguyện các tổ chức tín dụng thành các định chế có quy mô lớn và quản trị tốt hơn, khuyến khích các định chế tài chính nước ngoài sáp nhập NHTMCP yếu kém của Việt Nam
Việc sáp nhập giữa các ngân hàng đồng nghĩa với việc chuyển giao các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của ngân hàng bị sáp nhập ( bao gồm tài
sản, các khoản nợ cùng với quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể khác) sang ngân hàng nhận sáp nhập Các quyền và nghĩa vụ của cổ đông cả ngân hàng
bị sáp nhập và ngân hàng nhận sáp nhập sẽ bị ảnh hưởng bởi sự kế thừa giữa hai chủ thể sáp nhập này Từ đó, các vấn đề pháp lý cần đặt ra xung quanh
việc đảm bảo quyền lợi của các cổ đông trong quá trình sáp nhập giữa các ngân hàng khi mà khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sáp nhập ngân hàng ở
Việt Nam vẫn còn chưa được hoàn thiện
Bởi những lý do trên, em chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Khóa luận là đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam Để đạt được mục đích nghiên cứu đó, Khóa luận tập trung nghiên cứu với mục tiêu như sau:
(1) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về sáp nhập NHTMCP, quyền
của cổ đông, làm rõ yêu cầu bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP, các cơ chế bảo vệ cổ đông và nội dung pháp luật bảo vệ cổ đông trong
Trang 8(2) Nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành quy định pháp luật nhằm bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập NHTMCP
(3) Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập NHTMCP
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
(1) Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu đối với lĩnh vực pháp lý có liên quan
(2) Góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp
nhập NHTMCP
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo lợi ích của
cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam và thực
trạng việc bảo vệ lợi ích của cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ
phần tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận này tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam, với hình thức pháp lý của ngân hàng là NHTMCP và thông qua cơ chế tự bảo
vệ và thiết chế nội bộ Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận tiếp cận pháp
luật bảo vệ cổ đông dựa vào các quy định của LDN 2014, Luật TCTD 2010,
Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2010), Thông tư NHNN quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng, Thông tư 36/2015/TT-NHNN quy định việc tổ chức lại tổ chức tín dụng và các Luật, nghị định, thông tư khác có liên quan
04/2010/TT-5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu nhằm làm sáng
tỏ những nội dung của đề tài bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp luật học so sánh
Trang 96 Kết cấu của Khóa luận
Kết cấu của khóa luận bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần và pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Chương 3: Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông trong quá trình sáp nhập các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Trang 10Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NH ẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ PHÁP LU ẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và giao lưu hàng hóa, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Các nhà kinh tế học định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những
trung gian tài chính có gi ấy phép kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền
và m ở tài khoản trên tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thế
s ử dụng được những tờ séc”[13]
Dưới góc độ pháp lý, ngân hàng thương mại là một trong những loại hình TCTD được thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh ngân hàng như cho vay, tiết kiệm, kinh doanh các loại giấy tờ có giá, các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận
Về bản chất, ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp vì vậy hình thức pháp lý của ngân hàng thương mại sẽ là một trong những hình thức pháp lý của một doanh nghiệp thông thường
Như vậy NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng được được thành lập,
tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
và các hoạt động nghiệp vụ có liên quan
1.1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại cổ phần
gọi là cổ phần và được phát hành dưới hình thức cổ phiếu Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với phần tài sản tương ứng với tỉ lệ cổ phiếu họ
Trang 11nắm giữa Đồng thời, cổ phiếu xác nhận phần lợi nhuân được hưởng và quyền chi phối điều hành của cổ đông
Th ứ hai, NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh nhằm mục
đích lợi nhuận, song vốn tự có thường không ổn định Hoạt động kinh doanh
chủ yếu dựa trên vốn huy động từ xã hội, nhưng nguồn huy động này lại chịu tác động từ nhiều yếu tố biến động như ổn định chính trị, tăng trưởng kinh
tế… hoặc đôi khi chỉ là hoạt động của một ngành, một lĩnh vực lớn như bất động sản, chứng khoán… Chính vì vậy, hoạt động của NHTMCP thường chứa đựng tính rủi ro cao Do nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động thường cao và dẫn đến hậu quả là ngân hàng đứng trước bờ vực phá sản
1.1.3 Phân loại ngân hàng thương mại cổ phần
Các NHTMCP được phân loại theo hình thức sở hữu như sau:
Th ứ nhất, loại hình NHTMCP tư nhân thành lập dưới sự góp vốn của
cá nhân hoặc pháp nhân trong đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu
một số cổ phần nhất định
Th ứ hai, loại hình NHTMCP có sự tham gia của cổ đông nhà nước
Trong đó, nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần phát hành
Th ứ ba, loại hình NHTMCP có vốn góp nước ngoài Trong đó, cổ đông
nước ngoài nắm giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định theo quy định của pháp luật
1.2 Khái niệm, phương thức sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
1.2.1 Khái niệm sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
Trên thế giới hiện nay, có nhiều khái niệm về sáp nhập được đưa ra trong các tài liệu báo cáo, nghiên cứu, với những quan điểm khác nhau
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia thì: “Sáp nhập là sự kết
h ợp của hai hay nhiều công ty để tạo ra một công ty mới duy nhất có quy mô
l ớn hơn Sáp nhập thường do tự nguyện của các bên tham gia” [35]
Gaughan (2011) đưa ra định nghĩa “việc sáp nhập là một sự kết hợp
c ủa hai công ty trong đó chỉ có một công ty tồn tại và các công ty còn lại
ấm dứt sự tồn tại” [22]
Trang 12Andrew J Sherman thì coi “sáp nhập là sự kết hợp của hai tổ chức có
s ự tương đồng với nhau” [20]
Tác giả David L.Scott đưa ra định nghĩa về sáp nhập” “Sáp nhập hay
h ợp nhất công ty là khái niệm để chỉ hai hoặc nhiều công ty thỏa thuận chia
s ẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một công ty hoàn toàn m ới, với tên gọi mới, trong khi đó chấm dứt sự tồn tại của các công ty cũ” [20]
Các quan điểm về sáp nhập trên thế giới vẫn có những sự khác biệt nhưng nhìn chung sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều tổ chức để mở rộng quy mô và hậu quả của sáp nhập là sự tồn tại duy nhất của một tổ chức
Tại Việt Nam, định nghĩa về sáp nhập được đưa ra ở nhiều văn bản Luật, cụ thể như sau:
Luật doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014) định nghĩa sáp nhập doanh nghiệp là “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có
th ể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập)
b ằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nh ận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nh ập” (Khoản 1 Điều 195)
Luật cạnh tranh năm 2004 đưa ra khái niệm: “Sáp nhập doanh nghiệp
là vi ệc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ
và l ợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm
d ứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” (Khoản 1 Điều 17)
Thông tư số 36/2015/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định
việc tổ chức lại tổ chức tín dụng (Thông tư 36/2015/TT-NHNN) có cách định
nghĩa “Sáp nhập tổ chức tín dụng là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là
t ổ chức tín dụng nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín d ụng bị sáp nhập.”
Trang 13Như vậy, sáp nhập NHTMCP được hiểu là sự chuyển giao toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của ngân hàng bị sáp nhập sang ngân hàng nhận sáp nhập và chấm dứt sự tồn tại của ngân hàng bị sáp nhập Ngân hàng nhận sáp nhập sẽ kế thừa các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của ngân hàng bị sáp nhập, đồng thời chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ và cam kết
với ngân hàng bị sáp nhập
1.2.2 Các phương thức sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
M ột là, sáp nhập thông qua thương lượng
Đây là phương thức sáp nhập thông qua quá trình đàm phán, thương lượng và đi đến ký kết hợp đồng sáp nhập giữa các bên tham gia sáp nhập Thông thường, quá trình đàm phán sẽ kéo dài do các bên cần phải cần phải trao đổi, cân bằng lợi ích của tất cả các bên để tất các bên đều đạt được mục tiêu khi thống nhất về phương án sáp nhập Hợp đồng sáp nhập phải bao gồm các điều khoản về các loại tài sản và giá trị tài sản, các khoản nợ trước thời điểm sáp nhập, các nghĩa vụ và cam kết của bên nhận sáp nhập, tỷ lệ hoán đổi
cổ phần…
Sau khi sáp nhập, ngân hàng bị sáp nhập sẽ chấm dứt tồn tại Vì vậy, cổ đông của ngân hàng bị sáp nhập sẽ trở thành cổ đông của ngân hàng nhận sáp nhập thông qua việc nhận cổ phiếu phát hành mới của ngân hàng nhận sáp nhập theo tỷ lệ hoán đổi đã thỏa thuận hoặc nhận tiền mặt khi ngân hàng nhận sáp nhập không phát hành cổ phần
Hai là, sáp nhập thông qua chào mua cổ phần công khai
Phương thức này chỉ áp dụng cho hoạt động sáp nhập của ngân hàng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Theo phương thức này, ngân hàng nhận sáp nhập có thể thực hiện việc chào mua công khai số lượng cổ phiếu nhất định của ngân hàng mục tiêu thuộc đối tượng chào mua công khai theo quy định của Luật chứng khoán, theo điều kiện và thời gian cụ thể Một ngân hàng
có thể mua toàn bộ cổ phần từ các cổ đông của ngân hàng mục tiêu, sau đó ra quyết định sáp nhập ngân hàng mục tiêu
Trang 14Để thực hiện phương thức này, ngân hàng nhận sáp nhập sẽ chào mua công khai với tất cả các cổ đông của ngân hàng mục tiêu, công bố thông tin về nhu cầu mua với một mức giá nhất định trong khoảng thời gian nhất định Nếu tất cả các cổ đông của ngân hàng mục tiêu chấp nhận chào mua thì ngân hàng nhận sáp nhập đã sở hữu toàn bộ cổ phần của ngân hàng mục tiêu và có
thể đưa ra quyết định sáp nhập [18]
Ba là, sáp nhập thông qua thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là phương thức ngân hàng chủ động có ý định thâu tóm sẽ tiến hành mua dần cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc mua lại
từ các cổ đông chiến lược hiện hữu Phương thức này đòi hỏi thời gian và tính
bảo mật vì nếu ý đồ thôn tính được tiết lộ sẽ làm giá cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu dao động mạnh trên thị trường Sau khi thâu tóm cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu, ngân hàng mua lại cổ phần sẽ tiến hành sáp nhập với ngân hàng mục tiêu
1.3 Khái niệm cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần và quyền của cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần
1.3.1 Khái niệm cổ đông ngân hàng thương mại cổ phần
Cổ đông là cá nhân hay tổ chức tham gia góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phần Khi đưa tài sản vào công ty, quyền sở hữu tài sản của
cổ đông được chuyển sang cho công ty và cổ đông nhận được cổ phần như một chứng thư để ghi nhận cổ đông trở thành một trong những chủ sở hữu của công ty Bản chất NHTMCP cũng là một công ty cổ phần có ngành nghề kinh doanh đặc thù, có quyền thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng Bởi
vậy, có thể hiểu cổ đông của NHTMCP là cá nhân, tổ chức sở hữu cổ phần đã phát hành và được ghi tên vào sổ cổ đông của NHTMCP Về bản chất, cổ đông là chủ sở hữu của NHTMCP Lợi ích của cổ đông phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của NHTMCP Về mặt pháp lý, tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu
Trang 15cổ phần khi trả tiền cổ phần, nhận cổ phần phát hành và ghi tên vào sổ cổ đông của NHTMCP
Cổ đông của NHTMCP có thể phân biệt dựa vào tỷ lệ cổ phần mà họ đang năm giữa gồm cổ đông chiến lược và cổ đông nhỏ Nếu xét về quốc tịch thì cổ đông NHTMCP bao gồm cổ đông trong nước và cổ đông nước ngoài
Dựa vào loại cổ phần mà họ nắm giữ thì cổ đông NHTMCP bao gồm cổ đông
phổ thông, cổ đông ưu đãi và cổ đông sáng lập
1.3.2 Quyền của cổ đông của ngân hàng thương mại cổ phần
Quyền của cổ đông trong NHTMCP là các quyền về tài sản và quyền
về quản lý đối với hoạt động ngân hàng Tương ứng với mỗi loại cổ phần và
tỷ lệ cổ phần nắm giữ, cổ đông sẽ có những quyền tương ứng Quyền của của
cổ đông NHTMCP có thể chia thành hai nhóm:
M ột là, nhóm quyền về tài sản của cổ đông sẽ bao gồm: Quyền nhận cổ
tức với tỷ lệ sở hữu, với định mức theo quyết định của ĐHĐCĐ, quyền ưu
tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của
từng cổ đông trong công ty; quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định của pháp luật, Khi ngân hàng giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở
hữu cổ phần tại ngân hàng
Hai là, nhóm quyền về quản lý của cổ đông bao gồm: Quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ, quyền tham dự và phát biểu ý kiến trong các cuộc họp ĐHĐCĐ, được ứng cử, đề cử người vào HĐQT, BKS, quyền tiếp cận thông tin, quyền khởi kiện
Căn cứ vào tỷ lệ sở hữu cổ phần trong NHTMCP, cổ đông và nhóm cổ đông sẽ có những quyền đặc biệt như quyền quyết định đối với những vấn đề quan trọng trong hoạt động của NHTMCP, quyền triệu tập ĐHĐCĐ
1.4 Yêu cầu bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
Ở góc độ kinh tế, sáp nhập là sự chuyển giao, hợp nhất khối tài sản của
Trang 16NHTMCP bị sáp nhập và NHTMCP nhận sáp nhập tạo nên tiềm lực kinh tế
lớn hơn cho ngân hàng sau sáp nhập Ở góc độ pháp lý, sáp nhập là sự kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của ngân hàng bị sáp nhập sang ngân hàng sáp nhập, cùng với đó là sự chấm dứt tồn tại của ngân hàng bị sáp
nhập Từ đây, các quyền là lợi ích của các cổ đông, tức chủ sở hữu của ngân hàng chấm dứt tồn tại sẽ bị ảnh hưởng
Đối với các cổ đông có tỷ lệ cổ phần sở hữu thấp, không đủ lớn để tác động đến quyết định sáp nhập ngân hàng Trong quá trình thâu tóm và sáp nhập ngân hàng, các quyền lợi và ý kiến của cổ đông thiểu số có thể bị bỏ qua trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông để thông qua việc sáp nhập bởi vì số phiếu của họ không đủ để phủ quyết Nghị quyết đại hội đồng cổ đông Lúc này cổ đông có thể lựa chọn theo ba hướng: Bán cổ phần của mình tại ngân hàng, đề nghị ngân hàng mua lại cổ phần của mình hoặc chấp nhận việc sáp
nhập Nếu các cổ đông thiểu số không hài lòng với phương án sáp nhập thì họ
có thể bán cổ phiếu của mình đi Tuy nhiên họ sẽ bị thiệt thòi do khi họ bán
cổ phiếu là thời điểm thương vụ sáp nhập sắp hoàn tất cho nên giá của cổ phiếu lúc này không còn được cao như thời điểm mới có thông tin của thương
vụ thâu tóm và sáp nhập
Về phần các cổ đông của ngân hàng nhận sáp nhập, quyền và lợi ích
của họ cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi thông thường các thương vụ sáp nhập diễn ra
đã cho thấy ngân hàng nhận sáp nhập sẽ phải “kế thừa” những khoản nợ xấu
vô cùng lớn và kế hoạch kinh doanh của những người quản lý không chắc
chắn rằng sẽ đem lại hiệu quả và lợi ích cho cổ đông của ngân hàng như đã đề
ra Việc sáp nhập mang lại lợi ích trong việc mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển hệ thống giao dịch trên toàn quốc nhưng đánh đổi lại là sự thiệt hại
về lợi nhuận của các ngân hàng sau khi sáp nhập Một khi lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí các ngân hàng phải chấp nhận chịu lỗ trong khoảng thời gian đầu sau sáp nhập, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông
Trang 17Bên cạnh đó, các vấn đề khác liên quan đến việc định giá tài sản của ngân hàng bị sáp nhập, xác định tỷ lệ hoán đổi cổ phần và những thỏa thuận
về quyền và nghĩa vụ mỗi bên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông từ cả hai phía ngân hàng bị sáp nhập và ngân hàng nhận sáp nhập Trên
thực tế, không phải thương vụ sáp nhập nào cũng có thể hài hòa được lợi ích
của cổ đông, nhất là với các cổ đông nhỏ Vì thế, việc quy định các quyền của
cổ đông và các thiết chế bảo vệ là cơ sở pháp lý cần thiết để bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP
1.5 Các cơ chế bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương
m ại cổ phần
Công ty cổ phần nói chung, NHTMCP nói riêng không phải là sự tập
hợp đơn thuần của cổ đông mà là của một thực thể thống nhất có tổ chức chặt chẽ Bản thân công ty không thể quyết định được ý chí của mình hay tự mình hành động như một thể nhân Ý chí và hành vi của thể nhân giữ cương vị nhất định trong công ty được xem là ý chí và hành vi của công ty Theo lý thuyết đại
diện, sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý làm nảy sinh xung đột giữa người đại diện (các nhà quản lý) và người ủy quyền (các cổ đông) [24] Trên thực tế, quyết định và phương án sáp nhập được thông qua bởi nhóm cổ đông chiếm đa
số và có quyền chi phối hoạt động của công ty Bên cạnh đó, những thỏa thuận sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào sự sắp đặt của các lãnh đạo, những người
nắm quyền điều hành quản lý của ngân hàng cả hai bên bị sáp nhập và nhận sáp nhập Do vậy, quyền lợi của một số nhóm cổ đông trong công ty sẽ bị tổn hại,
dẫn đến mẫu thuẫn và mất cân bằng về mặt về lợi ích trong trong quá trình sáp
nhập NHTMCP Điều này đặt ra yêu cầu cần có những cơ chế bảo vệ cổ đông
của NHTMCP, đặc biệt là trong quá trình sáp nhập
Để ngăn chặn và khắc phục những nguy cơ xâm hại đến quyền và lợi ích
hợp pháp của cổ đông trong quá trình trước, trong và sau sáp nhập NHTMCP, các
cơ chế được xây dựng bao gồm cơ chế tự bảo vệ, các thiết chế nội bộ và các thiết
Trang 18chế bảo vệ bên ngoài giúp cho cổ đông có vận dụng được các quyền hợp pháp, có
ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình và được bảo vệ từ các cơ quan khác
bằng giữa các cổ đông Để bảo vệ cổ đông một cách hiệu quả thì bản thân mỗi
cổ đông cần có ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình, tận dụng được những quyền hợp pháp để đưa ra phương án hành động thích hợp bên cạnh sự tác động từ thiết chế bên trong và bảo vệ từ các cơ quan bên ngoài
1.5.2 Các thiết chế nội bộ
Bảo vệ cổ đông thông qua các thiết chế nội bộ được hiểu là cơ chế mà
cổ đông được bảo vệ thông qua các chủ thể bên trong NHTMCP như ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS
ĐHĐCĐ là cơ quan đại diện có quyền quyết định cao nhất trong NHTMCP Thông qua ĐHĐCĐ, cổ đông có thể thực hiện được quyền quyết định của mình đối với những vấn đề quan trọng trong hoạt động của NHTMCP Mỗi cổ đông dù chỉ sở hữu một cổ phần phổ thông cũng có thể tham gia biểu quyết, góp phần vào việc thông qua những quyết định quan
trọng Việc sáp nhập NHTMCP cũng là một trong những vấn đề cần có sự thông qua của một số phần trăm biểu quyết nhất định của ĐHĐCĐ Bằng việc
bỏ phiếu biểu quyết, cổ đông có thể thực hiện quyền quyết định trực tiếp liên quan đến lợi ích của mình được ghi nhận trong phương án sáp nhập, hợp đồng sáp nhập Ngoài ra, trong quá trình sáp nhập, cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường
có thể được tiến hành khi có sự yêu cầu từ cổ đông hoặc nhóm cổ có tỷ lệ sở
hữu có quyền biểu quyết nhất định
Trang 19HĐQT là cơ quan quản trị của NHTMCP, có quyền đưa ra các quyết định không thuốc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Những quyết định và việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT có thể ảnh hưởng đến quyền
của cổ đông NHTMCP Thành viên HĐQT được đề cử bởi cổ đông, là những người thay mặt cổ đông quản lý ngân hàng Trong quá trình sáp nhập, HĐQT
của ngân hàng hai phía sáp nhập và bị sáp nhập sẽ đàm phán và đưa ra nội dung về phương án sáp nhập, tỷ lệ hoán đổi cổ phần, quyền và nghĩa vụ của các bên trong sáp nhập Về nguyên tắc, thành viên HĐQT phải hành động vì
lợi ích của cổ đông và lợi ích của công ty Thông qua HĐQT, cổ đông sẽ được bảo vệ thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT khi cân nhắc đến lợi ích của cổ đông
Mặc dù về nguyên tắc, thành viên HĐQT phải hành động vì lợi ích của
cổ đông và công ty Tuy nhiên, không thể tránh được trường hợp những người
có đứng đầu này thực hiện những giao dịch tư lợi, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của cổ đông Để khắc phục điều này, BKS là một thiết chế để giám sát
hoạt động của những người quản lý, đảm bảo HĐQT hoạt động đúng với mục tiêu vì lợi ích của công ty và cổ đông Thành viên BKS được trực tiếp bầu ra
và chịu sự giám sát của ĐHĐCĐ Trong cơ cấu tổ chức của NHTMCP, BKS độc lập với HĐQT và thành viên BKS được trao các quyền giám sát hoạt động của HĐQT và quyền quyết định các quyết sách của công ty
1.5.3 Các thiết chế bên ngoài
Cơ chế bảo vệ bên ngoài được hiểu là cổ đông được các chủ thể bên ngoài NHTMCP bảo vệ Khi các cổ đông đã tự bảo vệ mình bằng cách sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép nhưng quyền và lợi ích của họ vẫn bị xâm phạm và các thiết chế bên trong không thực hiện được chức năng bảo vệ
cổ đông thì cơ chế bảo vệ cổ đông từ bên ngoài là cần thiết Các cơ quan bảo
vệ từ bên ngoài sẽ bao gồm cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp
Trang 201.6 Pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương
1.6.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMCP về bản chất là một doanh nghiệp hoạt động trên đối tượng kinh doanh là tiền tệ Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc thù, tính đặc thù thể hiện ở chỗ rủi ro cao, khó quản lý, khó giảm sát Bởi vậy, hoạt động ngân hàng không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật về các loại hình
tổ chức kinh doanh mà còn chịu sự điều chỉnh của các Luật chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng và các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quản
lý nhà nước về ngân hàng ban hành
So với pháp luật về bảo vệ cổ đông trong các hoạt động của CTCP thông thường, pháp luật về bảo vệ cổ đông trong hoạt động của NHTMCP sẽ hàm chứa những quy định đặc thù để đảm bảo, kiểm soát an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cụ thể, do NHTMCP cũng là một pháp nhân kinh doanh nên hoạt động sáp nhập NHTMCP được điều chỉnh bằng cả hệ
thống pháp luật chung về sáp nhập doanh nghiệp và hệ thống pháp luật chuyên ngành về tín dụng Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động ngân hàng, pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP sẽ chịu ảnh hưởng bởi
Trang 21những quy định riêng về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị của ngân hàng Cùng
với đó là sự kiểm soát của NHNN, các quy định riêng đối với hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng thông qua hình thức sáp nhập so việc sáp nhập các loại hình doanh nghiệp khác nhằm đảm bảo tính an toàn của cả hệ thống ngân hàng
1.6.3 Nội dung pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
Nội dung pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP bao gồm các quy định điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhằm đảm
bảo các lợi ích của cổ đông trong mối quan hệ sở hữu của cổ đông với ngân hàng, mối quan hệ giữa cổ đông và những người điều hành, quản lý của ngân hàng và mối quan hệ giữa các chủ thể khác liên quan trực tiếp đến hoạt động sáp nhập NHTMCP, cụ thể, như sau:
M ột là, pháp luật bảo vệ cổ đông thông qua các quy định về sáp nhập
NHTMCP, bao gồm các quy định về điều kiện, nguyên tắc, trình tự thủ tục sáp nhập NHTMCP
Hai là, pháp luật bảo vệ cổ đông thông qua các quy phạm quy định quyền của cổ đông trong sáp nhập NHTMCP bao gồm các nhóm quyền về tài
sản như quyền nhận cổ tức, quyền chuyển nhượng cổ phần, quyền mua lại cổ phần và nhóm quyền quản lý như quyền biểu quyết, quyền tiếp cận thông tin, quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ, quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ, quyền giám sát, quyền khởi kiện
Ba là, pháp luật bảo vệ cổ đông thông qua các quy định các thiết chế bên trong NHTMCP bao gồm các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các thiết chế nội bộ như ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS
Bốn là, pháp luật bảo vệ cổ đông bằng các thiết chế bên ngoài bao gồm các quy định về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong sáp nhập NHTMCP
Trang 22Về tổng thể, các nội dung pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP được quy định trong các luật, nghị định, thông tư và các văn bản hướng dẫn thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến sáp nhập NHTMCP
Trang 23Ti ểu kết Chương 1
Trong nội dung của Chương 1, khóa luận tiếp cận những vấn đề chung
về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP, đưa ra các khái niệm cơ bản về NHTMCP, đặc điểm và phân loại NHTMCP; khái niệm sáp nhập NHTMCP
và các phương thức sáp nhập NHTMCP Tiếp đó, khóa luận đưa khái niệm về
cổ đông của NHTMCP và các quyền của cổ đông NHTMCP, chỉ ra yêu cầu
bảo vệ cổ đông trong quá trình sáp nhập NHTMCP Phần cuối của chương, khóa luận đưa ra các đặc điểm, nội dung của pháp luật bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP Trên cơ sở các vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
bảo vệ cổ đông trong sáp nhập NHTMCP sẽ được trình bày ở Chương 2
Trang 24Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LU ẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG SÁP NHẬP NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
2.1.1 Về điều kiện, trình tự, thủ tục sáp nhập ngân hàng thương
m ại cổ phần
Điều kiện sáp nhập
Luật quy định điều kiện để NHTMCP thực hiện hoạt động sáp nhập là không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 Điều kiện sáp nhập sẽ tạo ra những hạn chế nhằm giảm thiểu rủi
ro do hoạt động sáp nhập mang lại đối với quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng Theo đó, những điều kiện được đặt ra để một thương vụ sáp nhập ngân hàng được tiến hành cũng nhằm đảm bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính nói chung Các tổ chức tín dụng tham gia các hoạt động này phải phối hợp xây dựng đề án thực hiện sáp nhập không trái với nội dung của hợp đồng đã ký Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn lại sau khi tiến hành sáp nhập phải đảm bảo đáp ứng điều kiện về vốn pháp định theo quy định của pháp luật (Điều 10 Thông tư 36/2015/TT-NHNN)
Trình tự, thủ tục sáp nhập
Tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập phối hợp xây dựng đề án sáp nhập,
hợp đồng sáp nhập và điều lệ tổ chức tín dụng nhận sáp nhập Nội dung điều
lệ ngân hàng nhận sáp nhập sau khi sáp nhập, đề án sáp nhập và hợp đồng sáp
nhập phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định của ngân hàng tham gia sáp nhập thông qua Ngân hàng tham gia sáp nhập có văn bản thông báo cho
cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc đề nghị được hưởng miễn trừ đối với trường
hợp sáp nhập bị cấm theo quy định của Luật cạnh tranh
Trang 25Sau đó, ngân hàng tham gia sáp nhập chuẩn bị hồ sơ đề nghị chấp thuận sáp nhập Ngân hàng Nhà nước sẽ lấy ý kiến tham gia của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương, Uỷ ban nhân dân địa phương nơi tổ chức tín dụng tham gia mua lại đặt trụ sở chính và nếu thấy cần thiết sẽ lấy ý kiến của các Vụ, Cục thuộc Ngân hàng Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến một hoặc một số nội dung trong hồ sơ đề nghị mua lại và quan điểm về
việc mua lại để ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận
Nếu được chấp thuận nguyên tắc, các tổ chức tín dụng tham gia phải lấy ý kiến của cơ quan có thẩm quyền của tổ chức tín dụng để thông qua lại các nội dung thay đổi tại đề án trước khi lập hồ sơ chính thức gửi lại cho Ngân hàng Nhà nước để được chấp thuận chính thức Sau đó, các tổ chức
chấm dứt hoạt động cần phải hoàn tất thủ tục rút giấy phép kinh doanh, tổ chức mới phải hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng bố cáo hợp nhất v.v Thông tư 36/2015/TT-NHNN nghiêm cấm việc phân tán tài sản của tổ
chức tín dụng dưới mọi hình thức trong quá trình xin chấp thuận (Điều 9)
Để thực hiện theo các trình tự, thủ tục như trên, thẩm quyền quyết định sáp nhập NHTMCP được pháp luật quy định đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong nội bộ NHTMCP Luật NHNN quy định thẩm quyền quyết định
việc sáp nhập TCTD là NHNN (Khoản 9, Điều 4) Đối với thẩm quyền quyết định tại nội bộ ngân hàng, theo Luật TCTD thì ĐHĐCĐ là cơ quan sẽ thông qua phương án sáp nhập, quyết định việc sáp nhập NHTMCP Luật các TCTD quy định ĐHĐCĐ thông qua thông qua các quyết định nêu trên phải được số
cổ đông đại diện trên 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự
họp chấp thuận hoặc tỷ lệ khác cao hơn do điều lệ của TCTD quy định (điểm c, Khoản 2, Điều 59) Với các quy định của pháp luật hiện hành, có thể hiểu trình
tự, thủ tục mua lại, sáp nhập TCTD chỉ được áp dụng trong trường hợp thực
hiện tự nguyện, không có văn bản pháp luật nào quy định trình tự, thủ tục sáp
nhập bắt buộc
Trang 26Có thể thấy quá trình sáp nhập NHTMCP phải tuân theo trình tự, thủ
tục nhất định theo quy định pháp luật Việc sáp nhập cũng phải được thông qua và nằm trong sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước ngay từ những bước đầu tiên Các NHTMCP muốn thực hiện sáp nhập cũng phải đảm bảo các điều
kiện nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các ngân hàng tham gia sáp
nhập nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung Từ đó, cổ đông cũng đã được bảo vệ khỏi những rủi ro phát sinh khi tiến hành sáp nhập NHTMCP
2.1.2 Về các quyền của cổ đông trong sáp nhập ngân hàng thương mại cổ phần
Quyền biểu quyết
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 114 LDN 2014 thì cổ đông phổ thông có quyền được tham dự biểu quyết tại các cuộc họp của ĐHĐCĐ Cổ đông, là người nắm giữ ít nhất một cổ phần phổ thông đã phát hành của NHTMCP, với tư cách là chủ sở hữu của ngân hàng nên họ phải có quyền tham gia biểu quyết các vấn đề lớn trong hoạt động ngân hàng Đặc biệt, vấn
đề sáp nhập của ngân hàng là một vấn đề lớn, ảnh hưởng đến quyền sở hữu và các quyền khác của cổ đông đối với ngân hàng và liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ khi bỏ vốn đầu tư vào ngân hàng Đối với cả cổ đông của bên ngân hàng sáp nhập và bị sáp nhập, hậu quả pháp lý từ việc tiến hành sáp nhập giữa các ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sở hữu, các quyền và lợi ích được hưởng từ việc đầu tư vào ngân hàng nên quyền biểu quyết là một thiết chế bảo
vệ cổ đông cơ bản nhất trong quá trình sáp nhập các ngân hàng
Bằng cách quy định trong giấy mời ĐHĐCĐ về điều kiện để cổ đông được tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ là phải có lượng vốn tối thiểu như quy định Điều này đã tạo ra sự phân biệt giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ Nếu những
cổ đông nhỏ không sở hữu đủ lượng vốn theo quy định thì sẽ bị mất đi quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ Điều này sẽ tước đi quyền lợi quan trọng của các
cổ đông bởi lẽ, với tư cách là chủ sở hữu của ngân hàng, tất cả các cổ đông
Trang 27đều có quyền theo dõi, giám sát hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là đối với
một quyết định lớn ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngân hàng (đối với ngân hàng bị sáp nhập) như quyết định sáp nhập Quy định nếu cổ đông không tham gia đại hội và thực hiện quyền biểu quyết của mình thì đương nhiên ủy quyền cho HĐQT số phiếu có quyền biểu quyết của mình Quyền biểu quyết
là một trong những quyền cơ bản quan trọng của mỗi cổ đông phổ thông Trên thực tế việc tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ của các cổ đông thiểu số do số
cổ phần của họ không đủ để tạo ra sự thay đổi và ảnh hưởng trong mỗi quyết định Tuy nhiên, dù với tỷ lệ sở hữu cổ phần không lớn trong cơ cấu vốn của ngân hàng, cổ đông tham gia cuộc họp có thể chất vấn và đề nghị Ban lãnh đạo ngân hàng làm rõ các vấn đề liên quan đến đề án sáp nhập để có cở sở
biểu quyết về vấn đề này
Hiện nay, cổ đông có thể thực hiện quyền biểu quyết thông qua hệ
thống điện tử Theo LDN 2014, cổ đông có thể tham gia biểu quyết dưới hình thức khác tham dự cuộc họp và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử; gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua gửi thư, fax, thư điện tử (khoản 2 Điều 140) Quy định này có thể giúp các cổ đông không cần ủy quyền hoặc di chuyển trực tiếp đến nơi tổ chức cuộc họp
để thực hiện quyền của mình mà vẫn có thể tham gia biểu quyết Hình thức này sẽ đảm bảo được sự dân chủ, công bằng, hiểu quả khi thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ và khắc phục được những yếu tố cản trở về mặt địa
lý Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 59 Luật TCTD 2010 thì quyết định việc sáp
nhập các tổ chức tín dụng sẽ phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết
tại cuộc họp ĐHĐCĐ Như vậy, quy định này đã phần nào tạo nên bất lợi cho các cổ đông nếu họ không có điều kiện có mặt tại cuộc họp ĐHĐCĐ vì nhiều lý do khác nhau
Thông thường, ĐHĐCĐ luôn quyết định các vấn đề căn cứ vào ý chí
của những cổ đông lớn, chiếm đa số cổ phần của ngân hàng Nguyên tắc biểu
Trang 28quyết theo đa số của NHTMCP dẫn đến việc một nhóm cổ đông có số cổ phần mang tính quyết định sẽ đưa ra phương án sáp nhập nhằm phục vụ mục đích riêng của họ để trục lợi, họ cũng là những người nắm bắt thông tin và thao túng hoạt động của ngân hàng ngay từ đầu kế hoạch sáp nhập Mặc dù cơ chế
biểu quyết được tạo ra nhằm tạo ra sự dân chủ, công bằng trong hoạt động của NHTMCP song, với một tỷ lệ sở hữu áp đảo, cổ đông lớn và Ban điều hành
của ngân hàng sẽ có cơ hội để áp đặt ý chí của mình và coi nhẹ ý kiến của các
biểu quyết sẽ có hiệu lực trong vòng 3 năm, kể từ ngày ngân hàng được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập sẽ chuyển thành cổ phần phổ thông Như vậy, bên
cạnh việc nắm giữ quyền biểu quyết vượt trội từ cổ phần ưu đãi, nếu các cổ đông sáng lập sở hữu thêm cổ phần phổ thông khác thì sẽ có khả năng vô hiệu hóa quyền sự biểu quyết của các cổ đông nhỏ
Quyền yêu cầu triệu tập và triệu tập họp ĐHĐCĐ
Quá trình từ thương lượng, đàm phán đến khi thông qua quyết định sáp
nhập NHTMCP thường diễn ra trong một thời gian dài Để giúp cho các cổ đông có cơ sở thực hiện quyền theo dõi, giám sát hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là quá trình sáp nhập ngân hàng, pháp luật đã có những quy định về quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ Đặc biệt, LDN 2014 còn đưa ra quy định nhằm
bảo vệ lợi ích của các cổ đông thiểu số khi cho phép nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ (khoản 3 Điều 114) và quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ (khoản 6 Điều 136)
Trang 29Để thực hiện quyền triệu tập ĐHĐCĐ căn cứ vào việc HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, vi phạm nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao thì cổ đông phải cung cấp được tài liệu chứng cứ về việc vi phạm, mức độ vi phạm của HĐQT, những người điều hành quản lý của ngân hàng trong quá trình triển khai sáp nhập NHTMCP Tuy nhiên, không có quy chuẩn nào cho việc xác định mức độ vi phạm thế nào là nghiêm trọng quyền của cổ đông
Việc cho phép các nhỏ lẻ liên kết thành nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu 10% để thực hiện quyền triệu tập ĐHĐCĐ đã là một bước tiến bộ trong nỗ
lực bảo vệ các cổ đông thiểu số LDN 2014 tại điểm đ, khoản 1 Điều 114 cũng đã quy định cổ đông có quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ nhằm tạo điều kiện để các cổ đông có thể liên lạc và liên kết với nhau, tận dụng quyền lợi của mình
Quyền yêu cầu ngân hàng mua lại cổ phần
Theo quy định pháp luật, các nghị quyết của ĐHĐCĐ liên quan đến những hoạt động quan trọng của ngân hàng cần phải có sự thông qua của các
cổ đông, điển hình như nghị quyết về sáp nhập NHTMCP cần có sự thông qua
của cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết
của ngân hàng bị sáp nhập Trong trường hợp phản đối nghị quyết sáp nhập
cổ đông có thể yêu cầu ngân hàng mua lại cổ phần của mình theo quy định tại Điều 129 LDN 2014, cụ thể là:
“1 Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty ho ặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quy ền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Yêu cầu
ph ải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng
c ổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu
c ầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại
Trang 30h ội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề quy định tại kho ản này
2 Công ty ph ải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên t ắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nh ận được yêu cầu Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có th ể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Công ty gi ới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp
để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng”
Với cổ đông của NHTMCP, quyền yêu cầu ngân hàng mua lại cổ phần
của mình được quy định chặt chẽ hơn tại Điều 57 Luật TCTD 2010: “Tổ chức tín dụng chỉ được mua lại cổ phần của cổ đông nếu sau khi thanh toán hết số
cổ phần được mua lại mà vẫn bảo đảm các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, giá trị thực của vốn điều lệ không giảm thấp hơn mức vốn pháp định; trường hợp mua lại cổ phần dẫn đến việc giảm vốn điều lệ của tổ chức tín
dụng thì phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản.”
Quy định này bảo vệ lợi ích của cổ đông trong trường hợp cổ đông hay nhóm cổ đông lớn lạm dụng vị thế chi phối đưa ra những quyết định làm tổn
hại đến lợi ích chính đáng của nhóm cổ đông thiểu số
Như vậy, nếu ĐHĐCĐ của NHTMCP thông qua nghị quyết về việc tổ
chức lại ngân hàng hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ ngân hàng và cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết đó thì có thể yêu cầu ngân hàng mua lại cổ phần
Quyền chuyển nhượng cổ phần
Cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần cho đối tượng khác theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 126 LDN 2014, đó là:
“1 Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định
t ại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn
Trang 31ch ế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định
h ạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng
2 Vi ệc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng
di ện ủy quyền của họ ký Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao
d ịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở
h ữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán…”
Như vậy, trong trường hợp không tán thành với nghị quyết sáp nhập NHTMCP, cổ đông có thể lựa chọn giải pháp chuyển nhượng cổ phần bên
cạnh giải pháp yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Nếu Điều lệ ngân hàng không có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì cổ đông có quyền tự do bán cổ phần của mình cho người khác Việc bán cổ phần được thực hiện bằng hợp đồng hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ
phần phổ thông và các quy định này được nêu rõ trong cổ phiếu thì việc chuyển nhượng của cổ đông thực hiện theo các quy định đó
Quyền tiếp cận thông tin
Đối với mỗi thương vụ sáp nhập, việc tiếp cận thông tin sớm hay muộn
và nội dung những thông tin được tiếp cận là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, bao gồm cả các cổ đông của NHTMCP Quyền tiếp cận thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của cổ đông Trong mỗi hoạt động của NHTMCP, không chỉ riêng hoạt động sáp nhập, cổ đông đều mong muốn được tiếp cận với những thông tin chính xác, đáng tin
cậy một cách kịp thời Đối với NHTMCP, việc công khai thông tin một cách minh bạch là cách để gây dựng lòng tin vào kêu gọi được sự ủng hộ của các
cổ đông trong việc thông qua và tiến hành sáp nhập NHTMCP
Trang 32Cổ đông NHTMCP có thể tiếp cận thông tin thông qua các hình thức: (i) cổ đông chủ động tiếp cận, thu thập thông tin; (ii) cổ đông được các chủ
thể khác cung cấp thông tin
Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của cổ đông NHTMCP Tuy nhiên quyền này cũng phụ thuộc vào loại cổ phần, tỷ lệ sở hữu và thời hạn sở
hữu cổ phần mà cổ đông nắm giữ Theo điểm đ,e Khoản 1 Điều 114 LDN
2014 và Khoản 5,6 Điều 53 Luật TCTD 2010, cổ đông phổ thông có quyền; (i) xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; (ii) xem xét, tra cứu, trích lục và sao chụp Điều lệ ngân hàng, biên bản họp ĐHĐCĐ
và các nghị quyết của ĐHĐCĐ
Theo Điều 170 LDN 2014, cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục
ít nhất một năm có quyền tự mình hoặc cùng với luật sư hoặc kế toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét các báo cáo theo quy định trong thời gian hợp lý như: (i) Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty; (ii) Báo cáo tài chính; (iii) Báo cáo công tác quản lý, điều hành công ty
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ của công ty có quyền xem xét và trích lục sổ biên
bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và
hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;
Trên phương diện công ty cổ phần phải có nghĩa vụ công bố thông tin đối với mỗi loại hình NHTMCP thì sẽ có nghĩa vụ công bố thông tin khác nhau
Đối với hình thức NHTMCP đại chúng, chế độ công bố thông tin được quy định rõ ràng trong Luật chứng khoán năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2010) Đối với NHTMCP chưa đại chúng, LDN 2014 quy định việc công bố thông tin
Trang 33liên quan đến báo cáo tài chính, một số tài liệu quan trọng để phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Về cơ bản pháp luật Việt
Nam đã có hành lang pháp lý cụ thể nhằm bảo vệ nhà đầu tư, trong đó nhất
Quyền được ưu tiên mua cổ phần
Khi một NHTMCP sáp nhập vào một NHTMCP khác, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông sẽ bị giảm đi do việc tăng lên của vốn điều lệ Cổ đông có thể từ
vị thế của một cổ đông lớn của ngân hàng bị sáp nhập chuyển thành cổ đông nhỏ của ngân hàng sau sáp nhập Việc tỷ lệ sở hữu dẫn đến việc mất đi một số quyền nhất định của cổ đông Vậy để khắc phục được điều này, cổ đông có
thể sử dụng quyền được ưu tiên mua lại cổ phần mới phát hành của ngân hàng để gia tăng tỷ lệ sở hữu của mình Luật TCTD 2010 quy định cổ đông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong tổ chức tín dụng (khoản 3 Điều 53)
Quyền giám sát
Quy ền kiểm soát những giao dịch lớn, tư lợi, nội gián
Bản thân người làm ở những vị trí quản lý điều hành NHTMCP thường
là những người trực tiếp thực hiện những giao dịch lớn và quan trọng trong ngân hàng Họ đồng thời là những người nắm rõ được những thông tin nội bộ trực tiếp có lợi cho họ do đó có thể dễ dàng tiến hành những giao dịch nội gián Thực tế quy định về nội dung và cách thức công khai hóa giao dịch có liên quan chưa hợp lý và đầy đủ Bảo vệ cổ đông chính là giảm thiểu rủi ro tài
sản của ngân hàng bị chiếm đoạt bởi các giao dịch nội gián của công ty
Khoản 2 Điều 162 LDN 2014 quy định: “HĐQT chấp thuận các hợp
Trang 34đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” So với Luật doanh nghiệp 2005, giá trị giao dịch mà HĐQT
có quyền thông qua đã giảm xuống từ mức nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất đến 35% Quy định này đã
tạo thêm cơ hội cho cổ đông thiểu số thông qua các giao dịch có giá trị lớn
của công ty
Đối với hợp đồng có liên quan đến cổ đông lớn hoặc ban điều hành, theo Khoản 1 Điều 162 LDN 2014 thì cổ đông, người đại diện ủy quyền của
cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; hoặc thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận Những hợp đồng này tiềm ẩn nguy cơ trục lợi của những cổ đông chiến lược hoặc Ban điều hành có thể lợi dụng vị trí, địa vị của mình để tạo điều
kiện thuận lợi cho mình hoặc những người có liên quan Để cổ đông thực sự
kiểm soát được những giao dịch này đòi hỏi phải có một cơ chế giám sát nội
bộ hoạt động hiệu quả, những quy tắc đạo đức áp dụng cho người quản lý công ty phải được tuân thủ Do đó, quyền kiểm soát những giao dịch này của
cổ đông không hề dễ dàng Một môi trường pháp lý vững chắc và việc thực thi kiên quyết là điều quan trọng để kiềm chế các hành vi trục lợi, đảm bảo đối xử công bằng với tất cả các cổ đông và tạo dựng độ tin cậy cho các nhà đầu tư
Quy ền yêu cầu thanh tra, kiểm tra tình hình hoạt động của ngân hàng
Quyền được yêu thanh tra, kiểm tra tình hình của NHTMCP phụ thuộc vào số lượng cổ phần và thời gian nắm giữ cổ phần Theo đó có 2 nhóm đối tượng như sau:
(1) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ
Trang 35thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ ngân hàng có quyền: Yêu cầu BKS kiểm tra từng
vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của ngân hàng khi xét thấy cần thiết
(2) Cổ đông sở hữu cổ phần của ngân hàng liên tục trong thời hạn ít
nhất một năm có quyền yêu cầu HĐQT đình chỉ thực hiện quyết định của HĐQT thông qua trái với quy định pháp luật hoặc Điều lệ công ty gây thiệt
hại cho ngân hàng thì các thành viên chấp thuận thông qua quyết định đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về quyết định đó và phải bồi thường thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối trách nhiệm nói trên được miễn trừ trách nhiệm theo quy định tại khoản 4 Điều 149 LDN 2014
Tuy nhiên quyền thanh tra, kiểm tra tình hình hoạt động ngân hàng của các cổ đông không phải là quyền chủ động, họ hoàn toàn bị động do chỉ có quyền yêu cầu BKS thực hiện Nếu BKS không thực hiện hoặc thực hiện qua loa thiếu trách nhiệm thì cổ đông sẽ khó có thể có được những thông tin trung
thực Việc yêu cầu HĐQT đình chỉ thực hiện quyết định của HĐQT trái luật hoặc Điều lệ ngân hàng cũng khó khả thi do HĐQT không có trách nhiệm thông báo phiên họp và cổ đông thiểu số cũng không có quyền dự họp ĐHĐCĐ do vậy nếu ngân hàng không cung cấp quyết định của HĐQT thì cổ đông thiểu số cũng không thể biết để yêu cầu HĐQT ngừng thực hiện
Quyền khởi kiện
Để bảo vệ quyền lợi của mình, cổ đông có thể thực hiện khởi kiện được quy định tại Điều 161 LDN 2014 Theo đó, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít
nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 6 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, giám đốc hoặc tổng giám đốc trong các trường hợp sau: vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty theo quy định tại Điều 160 của Luật này; không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao, không thực hiện,