1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC – KHÁI NIỆM VÀ ỨNG DỤNG TÍNH TRÌ HOÃN Ở SINH VIÊN

23 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một khó khăn mà sinh viên hay gặp phải việc đối mặt với hạn nộp bài, hay “deadline” - từ quen thuộc với bạn trẻ, dù sinh viên hay làm Bản thân thành viên nhóm Bàn Đầu trải qua vấn đề đồng cảm nên nhóm lựa chọn thảo luận nguyên nhân nỗi sợ “deadline”, tính trì hỗn Mục đích luận lý giải tính trì hỗn dựa theo nghiên cứu tâm lý, nhấn mạnh đến độ nghiêm trọng, trình bày nguyên nhân đề xuất số giải pháp cho vấn đề Bài viết có cấu trúc bốn chương nói khái niệm, hậu quả, nguyên nhân giải pháp Bên cạnh diểm tính trì hỗn, nhóm muốn đề cập đến mối liên hệ tính trì hỗn vấn đề tâm lý Ngồi ra, nhóm nêu lên quan điểm việc chủ nghĩa hồn hảo có phải cách giải thích cho nguồn gốc thói quen trì hỗn hay đay biện minh Nhóm mong viết đem lại kiến thức nhóm tìm tính trì hỗn đến bạn sinh viên để bạn hiểu đối chiếu lên thói quen học tập hay sinh hoạt ngày thân Từ khóa: tính trì hỗn, sinh viên, phổ biến, thói quen trì hỗn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN

BỘ MÔN TÂM LÝ HỌC

TÍNH TRÌ HOÃN Ở SINH VIÊN

TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC – KHÁI NIỆM VÀ ỨNG DỤNG

BÀN ĐẦU Nguyễn Phương Uyên 22000628 Nguyễn Ngọc Ngân 2182169

Mã Gia Kim 2194176 Trần Thị Trúc Giang 2174969 Đặng Hội Hương Thư 2183132

Vũ Thu Thảo 2193891 Trần Huy Hoàng 2190984

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 6 năm 2021

Trang 2

BẢN TRÌNH BÀY NỘI DUNG CÔNG VIỆC CỦA CÁC THÀNH VIÊN

STT Họ và tên MSSV Công việc

Mức độ hoàn thành

(%, theo đánh giá của nhóm trưởng)

1 Nguyễn Phương Uyên 22000628 Tìm tài liệu, viết bài

5 Vũ Thu Thảo 2193891 Tìm tài liệu, tạo PPT 89%

6 Trần Huy Hoàng 2190984 Tìm tài liệu, thuyết

Trang 3

Mục lục

Mục lục ii

Tóm tắt iv

Chương 1 Khái niệm về tính trì hoãn và những vấn đề liên quan 1

1.1 Khái niệm về tính trì hoãn Error! Bookmark not defined 1.2 Sự phổ biến của tình trạng trì hoãn đối với sinh viên Error! Bookmark not defined 1.3 Cách nhận biết người có thói quen trì hoãn 2

1.3.1 Sự khác biệt giữa người không có và người có thói quen trì hoãn 2

1.3.2 Những tiêu chí để phân biệt người thường xuyên trì hoãn trong việc học 3

Chương 2 Hậu quả 4

2.1 Những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đời sống 4

2.1.1 Sự giảm sút trong chất lượng học tập 4

2.1.2 Tác hại của tính trì hoãn đối với sức khỏe thể chất lẫn tinh thần 5

2.2 Mối liên hệ giữa tính trì hoãn và một số vấn đề tâm lý 5

2.2.1 Stress 5

2.2.2 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) và Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) 6

Chương 3 Nguyên nhân sinh viên chọn việc trì hoãn 7

3.1 Yếu tố bên ngoài 7

3.1.1 Tác động của công nghệ đến sự phổ biến của tính trì hoãn 7

3.1.2 Sự thấu hiểu mục đích hay bản chất của công việc ảnh hưởng đến quyết định trì hoãn 8

3.2 Yếu tố bên trong 9

3.2.1 Cơ chế đối phó (Coping mechanism) 9

3.2.2 Có phải Chủ nghĩa hoàn hảo là nguyên nhân cho tính trì hoãn? 9

Chương 4 Giải pháp 11

4.1 Những giải pháp cho tính trì hoãn do các tác động bên ngoài gây ra 11

4.1.1 Hạn chế Internet 11

Trang 4

4.1.2 Nên thưởng hơn là trừng phạt 11

4.2 Giải pháp dựa trên tác động bên trong 12

4.2.1 Chấp nhận và tha thứ 12

4.2.2 Nhận sự giúp đỡ từ các chuyên gia 12

Kết luận 13

Tài liệu tham khảo 14

Trang 5

là cách giải thích đúng cho nguồn gốc của thói quen trì hoãn hay đay là một biện minh Nhóm mong bài viết sẽ đem lại kiến thức nhóm tìm được về tính trì hoãn đến các bạn sinh viên để các bạn hiểu và đối chiếu lên thói quen học tập hay sinh hoạt hằng ngày của bản thân

Từ khóa: tính trì hoãn, sinh viên, phổ biến, thói quen trì hoãn

Trang 6

Chương 1 Khái niệm về tính trì hoãn và những vấn đề liên quan

1.1 Khái niệm về tính trì hoãn

Trì hoãn là một hành động tạm gác lại việc hoàn thành một công việc nào đó

Từ tiếng Anh của tính trì hoãn – “procrastination”, có nguồn gốc từ chữ

“procrastinatus” trong tiếng Latinh Từ “procrastinatus” được cấu thành bởi tiền tố

“pro” - có nghĩa là “hướng tới” hay tiến tới, và “cratinatus” nghĩa là ngày mai

(Kirst-Ashman & Hull, 2016) Nếu ghép hai bộ phận trên với nhau, ta có thể hiểu theo cách đơn giản được ý của người xưa khi muốn mô tả hành động trì hoãn, đó là

”Để việc đến ngày mai rồi hẵng thực hiện” Trong tiếng việt ta có một thành ngữ dùng để chỉ sự trì hoãn, đó là “nước đến chân mới nhảy” Giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên, rất hay sử dụng thành ngữ này mỗi khi muốn nhắc đến việc gần hạn nộp bài mới bắt đầu làm bài

1.2 Sự phổ biến của tình trạng trì hoãn ở sinh viên

Thực chất tình trạng này không chỉ phổ biến đối với sinh viên và học sinh Việt Nam, mà giới trẻ khắp nơi trên thế giới đều gặp phải vấn đề này trong quá trình học

Ở Hy Lạp, đã có 47% sinh viên tham gia một nghiên cứu cho rằng mình có thói quen trì hoãn (Argiropoulou, 2015) Một nghiên cứu khác ở Mỹ đã cho thấy rằng trong khoảng từ 80 – 90% sinh viên đại học thừa nhận rằng mình có trì hoãn trong quá trình học tập, khoảng 70% khẳng định mình thường xuyên trì hoãn (Steel, 2007) Không những vậy, việc liên tục dời lại công việc phổ biến đến mức có lúc nó được cho là một hội chứng học sinh/sinh viên, hay “student syndrome” trong tiếng Anh (Smith, 2010) Mặc dù đa số sinh viên trong thời gian còn ở giảng đường đều ít nhiều lựa chọn dời việc hoàn thành bài tập để thực hiện những việc khác kém quan trọng hơn,

Trang 7

nhưng những người có trì hoãn và những người thường xuyên trì hoãn có sự khác nhau khá rõ rệt

1.3 Cách nhận biết người có thói quen trì hoãn

1.3.1 Sự khác biệt giữa người không có và người có thói quen trì hoãn

Giáo sư Ferrari đã có một ví dụ khá dễ hiểu khi nói về sự giải thích về lối sống của những người hay trì hoãn trong một cuộc phỏng vấn với Psychological Science, ông nói rằng “Nếu tôi có mười hai việc cần làm, đương nhiên việc thứ mười, thứ mười một và mười hai sẽ được làm sau cùng Người có thói quen trì hoãn cũng có mười hai công việc tương tự, họ sẽ thực hiện một hai việc trong danh sách đó, xong

họ viết lại danh sách, rồi lại thay đổi thứ tự của các công việc, rồi lại đi in thêm một bản danh sách Đó chính là trì hoãn” (Jaffe, 2013) Trong một bài phỏng vấn khác vào năm 2010 giữa giáo sư Joseph Ferrari và APA, khi được hỏi đâu là điểm khác nhau giữa người bắt tay vào làm việc ngay và người tìm đủ mọi lý do để né tránh thực hiện công việc, giáo sư cho rằng trong khi tất cả mọi người đều ít nhiều trì hoãn trong cuộc sống hằng ngày, nhưng chỉ những người biến trì hoãn thành một tật xấu và luôn biện minh cho hành động của mình mới là nghiêm trọng

Những người biến trì hoãn trở thành lối sống của mình thường có nhiều biện minh khi họ quyết định không hoàn thành ngay một việc nào đó Một trong những ví

dụ về sự biện minh có thể nói đến là người hay trì hoãn dựa vào tâm trạng để quyết định xem mình có nên tập trung làm việc hay không Sinh viên thường trì hoãn khi cho rằng tâm trạng và tinh thần mình chưa đủ ổn định và tịn mình sẽ bắt đầu học cho một bài kiểm tra khi cảm thấy tốt hơn, thời điểm này lại thường rơi vào ngày cuối cùng trước ngày thi (Tice, 2001) Tóm lại, nhóm người không có thói quen trì hoãn

Trang 8

sẽ tập trung vào công việc hơn là bản thân, họ biết mình cần phải làm gì và không bị xao nhãng bởi những yếu tố khác

1.3.2 Những tiêu chí để phân biệt người thường xuyên trì hoãn trong việc học

Những hành vi của một người được cho là chuyên trì hoãn trong học tập nên đáp ứng được ba tiêu chí như sau: một là những hành vi đó không mang lại lợi ích gì

mà còn phản tác dụng, hai là chúng là thừa thãi và không cần thiết cho quá trình hoàn thành nhiệm vụ được giao, và cuối cùng hiển nhiên là mang tính trì hoãn liên tục (Shaw, Wadkins & Olafson, 2007) Một tiêu chí khác cũng làm cho việc hình dung

về tính trì hoãn trở nên dễ dàng hơn, đó là người hay trì hoãn thường tự nguyện dời lại những công việc mình nên làm mặc dù họ nhận thức được rằng điều đó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả cuối cùng (Steel, 2007) Bên cạnh đó, người chuyên trì hoãn thường không lý tính khi quyết định dời lại việc gì đó vì nếu họ muốn ưu tiên một công việc khác hơn bài tập về nhà với lý do hợp lý và thuyết phục, thì họ không nên được xem là lạm dụng việc trì hoãn (Sabini & Silver, 1981) Những tiêu chí trên sẽ

dễ hiểu hơn khi được kết hợp lại để đưa ra một giả sử như sau: một sinh viên ngoài hoàn thành bài luận đúng hạn thì người đó không có vấn đề nào cấp thiết hơn cần xử lý; dù vậy người đó vẫn xem phim và đọc truyện mà không bắt tay vào làm bài cho đến cận hạn nộp bài, mặc cho việc họ nhận thức được rằng xem phim và đọc truyện

sẽ không giúp ích gì cho bài luận, trái lại còn giảm đi thời gian cho quá trình chuẩn bài như tìm kiếm và tham khảo tài liệu; người sinh viên này là người có thói quen trì hoãn

Trang 9

Chương 2 Hậu quả

2.1 Những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống.

2.1.1 Sự giảm sút trong chất lượng học tập

Một nghiên cứu đã được thực hiện bởi Ferarri và Tice vào năm 2000 với một đích giúp cho việc hình dung ra những ảnh hưởng tiêu cực của việc trì hoãn đối với sinh viên trở nên dễ dàng Một nhóm sinh viên được yêu cầu tự đánh giá bản thân về mức độ trì hoãn Sau đó, họ đưa nhóm sinh viên vào phòng thí nghiệm và thông báo rằng cuối buổi sẽ có một bài toán đố Tuy nhiên, chỉ một nhóm sinh viên được cho biết rằng bài toán này sẽ giúp ích cho khả năng tư duy của họ, trong khi nhóm còn lại được biết rằng bài toán chỉ mang tính giải trí và không có ý nghĩa gì Trước khi giải bài toán, những sinh viên tham gia thí nghiệm có một khoảng thời gian để chuẩn bị cho bài toán sắp tới hoặc chơi những trò chơi như xếp hình hay lắp ghép Trong khoảng thời gian này, nhóm sinh viên tự cho rằng họ có thói quen trì hoãn dời lại việc

ôn tập khi họ biết bài toán là dùng để đánh giá khả năng tư duy, nhưng họ lại không

có đặc điểm gì khác biệt với những người không có thói quen trì hoãn khi họ biết rằng bài toán là để thư giãn Qua nghiên cứu này, Ferrari và Tice (Ferrari và c.s., 1995) kết luận rằng việc trì hoãn là một hành động đánh bại chính bản thân, do đó những người có lối sống thường xuyên trì hoãn đang làm hao mòn chính khả năng thực thụ của họ

Khi làm bất kỳ loại bài tập hay chuẩn bị cho kì thi, sinh viên khó mà đạt được kết quả tốt nếu họ không dành nhiều thời gian và công sức để ôn luyện Khả năng học tập thực sẽ không có cơ hội để phát huy và tiến bộ nếu sinh viên không sử dụng nó Điều này sẽ dẫn đến những hậu quả dĩ nhiên như điểm số không cao hay tệ hơn là ảnh hưởng đến khả năng xin việc và làm việc sau này Trong một nghiên cứu đã cho

Trang 10

rằng, khi chia dân số thanh hai nhóm dựa trên tần suất trì hoãn của họ, thì trong nhóm những người có thói quen trì hoãn có 57% là thất nghiệp (Nguyen, Steel & Ferrari, 2013)

2.1.2 Tác hại của tính trì hoãn đối với sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Thói quen trì hoãn là sự cản trở lớn đối với sự thành công trong học tập vì nó không những làm suy giảm quá trình học tập cả về số lượng và chất lượng, nó còn thậm chí mang lại nhiều hệ quả tiêu cực đối với sức khỏe của sinh viên (Ferrari et al., 1995; Milgram, Gehrman, & Keinan, 1992) Việc biến trì hoãn thành một tật xấu ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe thể chất Ví dụ như một sinh viên đến sát hạn nộp bài mới bắt đầu làm thì lượng công việc cần thực hiện sẽ bị dồn vào một khoảng thời gian ngắn, người sinh viên này nếu muốn hoàn thành thì không cách nào khác phải thay đổi sinh hoạt như ngủ ít, nghỉ ngơi ít hơn hơn hoặc thậm chí bỏ bữa để có nhiều thời gian làm bài Do đó, sinh viên với tật trì hoãn thường bị mất ngủ hoặc đuối sức nhiều hơn so với những người khác (Sirois, Melia-Gordon, Pychyl, 2003)

Bên cạnh sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần cũng đương nhiên sẽ bị ảnh hưởng Trong một khảo sát, 94% người đã thừa nhận rằng tính trì hoãn gây tác động tiêu cực lên niềm vui của họ và 18% cho rằng hệ quả này rất nghiêm trọng (Steel, 2007) Cụ thể hơn là những người thường xuyên trì hoãn cũng thường có những cảm xúc như tội lỗi, xấu hỗ và buồn bã (Grunschel, Patrzek & Fries, 2012) Những cảm xúc tiêu cực đó có thể là do khi đang gấp rút hoàn thành công việc, họ nhận ra mình không nên trì hoãn để rồi phải bỏ ra nhiều công sức hơn nhưng kết quả chưa chắc tốt 2.2 Mối liên hệ giữa tính trì hoãn và một số vấn đề tâm lý

2.2.1 Stress

Trang 11

Tính liên tục trì hoãn thực chất có mối liên hệ mạnh mẽ với trạng thái thần kinh liên tục căng thẳng (Sirois, 2007; Sirois, Melia-Gordon, & Pychyl, 2003; Tice & Baumeister, 1997) Trạng thái này không những là hệ quả của việc thường xuyên tránh né hoàn thành những việc cần thiết và quan trọng, nó còn là do những người có lối sống trì hoãn cũng sẽ lảng tránh việc chăm sóc sức khỏe tinh thần của mình (Sirois

et al., 2003) Việc này khá phổ biến trong giới trẻ do họ cho rằng nó phức tạp và không thú vị (Lawrence & Schank, 1993; Turk & Meichenbaum, 1991)

2.2.2 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) và Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)

Mối liên hệ giữa thói quen trì hoãn lên tục và ADHD – một rối loạn sức khỏe tâm thần đã được tìm thấy (Ferrari, 2010) Khi một người đang gặp phải kiểu rối loạn này thường dễ bị mất tập trung bởi tác động bên ngoài và cả bởi những suy nghĩ bên trong Vì vậy, việc bắt đầu thực hiện bài hay công việc được giao sẽ khá khó khăn, đặc biệt là nếu công việc không gây thích thú hoặc đầy thử thách (Altgassen, Scheres

& Ede, 2019)

Bên cạnh ADHD, lối sống thường xuyên trì hoãn cũng khá phổ biến đổi với những người gặp phải rối loạn ám ảnh cưỡng chế - OCD Lý do là vì OCD thường bao gồm những đặc điểm như sở hữu tính cầu toàn quá mức, đến nỗi việc mắc phải sai lầm trở thành nỗi sợ, luôn nghi ngờ liệu bản thân có đang làm đúng hay không và

lo lắng về kỳ vọng cử người khác Vì thế, những người mắc phải OCD tốn rất nhiều thời gian để suy tính về quyết định của mình thay vì trở nên quyết đoán hơn (Limburg, Watson, Hagger & Egan, 2017)

Nếu việc trì hoãn gây cản trở nhiều cho cuộc sống hằng ngày thì có khả năng người đó đang mắc phải các rối loạn tâm thần và cần được chuẩn đoán và điều trị bởi chuyên gia

Trang 12

Chương 3 Nguyên nhân sinh viên chọn việc trì hoãn

Với những hậu quả được nêu trên, thực chất người trì hoãn còn có thể nhận biết được chúng nhưng họ lại không thể thay đổi lối sống của mình Cụ thể là có những nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên vẫn tiếp trục trì hoãn mặc cho những hậu quả rõ ràng (Conti, 2000; Saddler & Buley, 1999)

3.1 Yếu tố bên ngoài

3.1.1 Tác động của công nghệ đến sự phổ biến của tính trì hoãn.

Nền công nghệ phát triển đã đem lại cho mọi người nhiều phương tiện giải trí hơn, nhưng vì tính giá trị cao của những phát mình này mà chúng trở thành một trong những nguyên nhân gây xão nhãng trong cuộc sống hằng ngày Kết quả khảo sát một nhóm sinh viên ngành y cho thấy rằng trong 8.85% sinh viên thừa nhận rằng mình luôn trì hoãn thì có 3.43% là những người nghiện sử dụng mạng Internet (Hayat, Kojuri & Amini, 2020) Có những lý do sau là chủ yếu cho vấn đề vì sao việc sử dụng Internet lại là một trong những nguyên nhân phổ biến của thói quen trì hoãn (Hofmann

et al., 2017) Một là nhờ vào điện thoại và các thiết bị thông minh khác, mọi người

có thể truy cập mạng Internet mọi lúc mọi nơi, đến mức khiến nó trở thành ưu tiên trong cuộc sống của đa số người trẻ tuổi (Klimmt et al., 2018) Hai là những hoạt động sử dụng mạng Internet như mạng xã hội hay trò chơi điện tử luôn được quảng cáo là đem lại hiệu quả giải trí tức thời, do đó càng là giải pháp hàng đầu cho những người đang tím kiếm sự xao nhãng khi làm bài (Sirois and Pychyl, 2013) Rõ ràng rằng việc tham gia các mạng xã hội hay chơi các trò chơi trên Internet sẽ vui và đơn giản hơn nhiều so với việc làm và giải bài tập về nhà, vì vậy nhiều sinh viên bắt đầu đưa trì hoãn vào lối sống hằng ngày, trở thành một điều quen thuộc như việc sở dụng điện thoại thông minh

Trang 13

Tuy nhiên, sự xuất hiện của mạng Internet không sinh ra vấn nạn trì hoãn trong

xã hội Con người ta đã gặp khó khăn để hoàn thành công việc từ lúc còn là một phần của nền văn minh cổ đại Vào khoảng năm 800 trước công nguyên đã có một nhà thơ người Hy Lạp, Hesiod, cảnh báo mọi người rằng không nên để công việc đến ngày mai hay là ngày mốt mới bắt đầu làm (Jaffe, 2013) Do đó ta có thể nói rằng, internet không phải nguyên nhân mà nó là sự thúc đẩy, góp phần làm xấu đi việc trì hoãn trong cuộc sống sinh viên

3.1.2 Sự thấu hiểu mục đích hay bản chất của công việc ảnh hưởng đến quyết định trì hoãn

Một trong những lý do phổ biến đối với sinh viên khi được hỏi vì sao họ lại trì hoãn, đó là họ không hiểu rõ được bài tập hay công việc được giao (Steel & B Klingsieck, 2016) Đó có thể là họ chưa nắm được cách bài tập được đánh giá và chấm điểm như thế nào hoặc mục đích của bài tập này là gì Ngoài ra, có khả năng

do họ không xác định được hạn nộp bài mà dẫn đến việc họ cũng không thể xác định được lộ trình làm bài của mình Dù vậy, nhưng trở ngại trên có thể được giải quyết nếu giao tiếp giữa giáo viên và sinh viên hiệu quả, nhưng yếu tố này đôi lúc cũng không được đảm bảo Kết quả của tất cả những trở ngại trên là sinh viên cảm thấy việc học trở nên nhàm chán hoặc khó khăn với họ, và đây là một trong những nguyên nhân tiêu biểu của việc trì hoãn, thậm chí trong một nghiên cứu có đến 50% người tham gia khẳng định việc này (Steel, 2007; Ferrari, 1991; Solomon and Rothblum, 1984)

Ngày đăng: 05/12/2021, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w