Chiến lược phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng như vậy, việc nghiên cứu và xây dựng phát triển là vấn đề rất quan trọng. Như chúng ta đã biết, đất nước ta đã trải qua hàng nghìn năm phong kiến lạc hậu, sau đó lại phải đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Khi mà đất nước còn quá non trẻ, nước ta đã áp dụng nền kinh tế bao cấp khiến cho đất nước càng chậm phát triển. Trong khi xu hướng chung của nền kinh tế thế giới thời bấy giờ là nền kinh tế thị trường và đã đạt được những bước phát triển nhất định. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định thực hiện bước chuyển biến lớn đưa đất nước thoát khỏi nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ đó giúp nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, ổn định và theo kịp các quốc gia đang phát triển khác. Bước đầu tiến lên nền kinh tế thị trường chúng ta đã gặp phải rất nhiều khó khăn tiêu biểu là cuộc khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên việc vận dụng chủ động, sáng tạo, hiệu quả những nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Qua đó, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN phát triển, kích thích sản xuất, nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Để thể hiện sự ủng hộ của bản thân em cũng như phần nào giúp mọi người hiểu thêm về đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của đất nước, em chọn đề tài: “Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====000=====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
I CẶP PHẠM TRÙ CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG – CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 2
1 Khái niệm cái chung và cái riêng 2
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 4
3 Ý nghĩa phương pháp luận 6
II VẬN DỤNG CƠ SỞ LÍ LUẬN GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 7
1 Khái niệm kinh tế thị trường 7
2 Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan 8
3 Kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam 11
3.1: Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường thế giới 11
3.2: Những nét đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 12
3.3: Những thắng lợi bước đầu mà kinh tế thị trường mang lại 14
3.4: Một số thực trạng và giải pháp tiếp tục phát triển đối với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 15
3.4.1: Thực trạng 15
3.4.2: Giải pháp 17
PHẦN KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU 21
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Chiến lược phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của hầu hết các quốcgia trên thế giới Việt Nam cũng như vậy, việc nghiên cứu và xây dựng pháttriển là vấn đề rất quan trọng Như chúng ta đã biết, đất nước ta đã trải quahàng nghìn năm phong kiến lạc hậu, sau đó lại phải đấu tranh chống kẻ thùxâm lược Khi mà đất nước còn quá non trẻ, nước ta đã áp dụng nền kinh tếbao cấp khiến cho đất nước càng chậm phát triển Trong khi xu hướng chungcủa nền kinh tế thế giới thời bấy giờ là nền kinh tế thị trường và đã đạt đượcnhững bước phát triển nhất định Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đãquyết định thực hiện bước chuyển biến lớn đưa đất nước thoát khỏi nền kinh
tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ đógiúp nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, ổn định và theo kịp các quốcgia đang phát triển khác
Bước đầu tiến lên nền kinh tế thị trường chúng ta đã gặp phải rất nhiềukhó khăn tiêu biểu là cuộc khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên việc vận dụng chủđộng, sáng tạo, hiệu quả những nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt
là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, đã đưa đất nước thoát khỏi khủnghoảng Qua đó, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN pháttriển, kích thích sản xuất, nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội côngbằng văn minh
Để thể hiện sự ủng hộ của bản thân em cũng như phần nào giúp mọingười hiểu thêm về đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của đất nước, em
chọn đề tài: “Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta”.
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I CẶP PHẠM TRÙ CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG – CẶP PHẠM TRÙ
CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
1 Khái niệm cái chung và cái riêng
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với một số sự vật,hiện tượng và quá trình khác nhau Mỗi sự vật hiện tượng đó là một cái riêngđồng thời giữa chúng cũng tồn tại những cái chung nhất định
Để hiểu rõ hơn về các khái niệm ta có thể mô hình hóa như sau:
Cái phổ biến Cái chung
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật hay một hiện tượng riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ nào đó, như
là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt nam chẳng hạn Hay nếu chúng taquan niệm mỗi trường đại học là một sự vật hiện tượng để phân biệt với cáctrường đại học khác thì ĐH Ngoại Thương, ĐH Bách Khoa, ĐH Sư Phạm,
B A
C
Trang 5đều sẽ là một cái riêng Mỗi con người là một chỉnh thể để phân biệt ngườinày với người khác thì người A là một cái riêng, người B là một cái riêng
Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật gia nhập vào một nhómcác sự vật rộng hơn, phổ biến hơn Sự tồn tại cá biệt đó của cái riêng cho thấy
nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính không lặp lại ở những sự vậthiện tượng khác Tính chất này được diễn đạt thông qua khái niệm đơn nhất
Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những
mặt chỉ có ở một sự vật hiện tượng nhất định mà không lặp lại ở sự vật hiệntượng khác Ví dụ: dấu vân tay của một người là cái đơn nhất bởi nó cho biếtđặc điểm nhận dạng của riêng người đó mà không lặp lại ở bất kỳ một ngườinào khác
Bên cạnh đó, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau,chứng tỏ giữa chúng có một điểm chung nào đó Những đặc điểm chung đóđược triết học khái quát thành khái niệm cái chung
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những đặc điểm, những tính quy định có ở nhiều sự vật hiện tượng
Hay hiểu một cách đơn giản hơn cái chung là những dấu hiệu thuộc tính
mà có sự lặp lại ở những cái riêng Cái chung thường chứa trong nó nhữngquy luật, sự lặp lại Ví dụ như ở trên chúng ta đã nói mỗi một người là mộtchỉnh thể thì người A là một cái riêng và người B cũng là một cái riêng, nhưng đã là con người thì họ đều phải chịu sự tác động của những quy luậtchung như đồng hóa hay dị hóa, thì khi đó đồng hóa và dị hóa chính là nhữngcái chung; hay chúng ta coi mỗi thủ đô của một quốc gia là một sự vật hiệntượng thì Hà Nội là một cái riêng, Tokyo là một cái riêng , nhưng đó đều làtrung tâm về văn hóa và chính trị của một dân tộc, thì khi đó đặc điểm chung
về văn hóa và chính trị chính là cái chung
Trang 6Trong số những cái chung, những dấu hiệu mà được lặp lại ở nhiều sự
vật hiện tượng nhất thì được gọi là cái chung nhất hay cái phổ biến Vậy nên
cái phổ biến là phạm trù triết học để chỉ cái chung nhất của sự vật hiện tượng
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Phạm trù cái chung, cái riêng được bàn đến nhiều trong triết họcphương Tây thời trung cổ Phái duy thực đồng nhất thượng đế vối cái chung
và nhấn mạnh rằng chỉ có cái chung mới tồn tại độc lập khách quan, là cộinguồn sản sinh ra cái riêng Phát triển ý tưởng của Platôn về ý niệm, và củaArirstote về “hình dạng thuần tuý” các đại biểu nổi tiếng của trường phái nàynhư G.Ơrigenơ và Thomas d Aquincho rằng chỉ có khái niệm phổ biến là tồntại thực sự, có trước các sự vật riêng biệt Đối lập với chủ nghĩa duy thực, cácnhà triết học duy danh như P Abơla (1079-1142), Đumxcot (1265-1308) lạicho rằng chỉ có những sự vật hiện tượng tồn tại riêng biệt với những chấtlượng riêng của chúng mới là có thực, còn các khái niệm chung (cái phổbiến) là sản phẩm của tư duy con người Thấy được và khắc phục hạn chế củahai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cáiriêng có mối liên hệ mật thiết với nhau và cả hai đều tồn tại một cách kháchquan
- Thứ nhất, cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng
mà biểu hiện sự tồn tại Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái
riêng Ví dụ như khi xem xét nguyên nhân biểu tình ở một công ty có thể là docác nguyên nhân trực tiếp như: trả lương không đúng kỳ hạn hay mức lươngquá thấp so với sức lao động mà công nhân bỏ ra Đó là những cái riêng trongtừng điều kiện Nhưng sau tất cả những cái riêng đó thì tồn tại một cái chung
là đều do tư bản bóc lột gái trị thặng dư của công nhân
Trang 7- Thứ hai, cái riêng nằm trong mối liên hệ đưa đến cái chung Không có
cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập Ví dụ như mỗi con người là một cái riêng nhưng khổng thể nào tồn tại ngoài mối liên hệ với tự nhiên và xã hội
- Thứ ba, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là cái toàn bộ nhưng phong phú hơn cái chung Cái riêng phong phú
hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái riêng phản ánh thuộc tính còn cái chungphản ánh mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng Có thể khái quát bằng công thức sau đây:
Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất
Cái chung chỉ giữ phần bản chất hình thành nên chiều sâu của sự vậtcòn cái riêng là cái toàn bộ vì nó hình thành nên thực tế sống động Trong cáiriêng luôn tồn tại cái chung và cái đơn nhất Nhờ thế giữa cái riêng vừa có sựtách biệt, vừa có thể tác động qua lại lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau Cũng nhờ
sự tương tác này mà cái riêng được phát hiện Ví dụ: người nông dân ViệtNam bên cạnh những cái chung với nông dân của các nước khác trên thế giới
là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn, còn có đặc điểmkhác là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, các tập quan lâu đời và điều kiện
tự nhiên của đất nước nên rất cần cù chịu khó
- Thứ tư, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định Sở dĩ như vậy là vì khi thực hiện cái mới bao giờ
cũng xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoànthiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau,khi không phù hợp với điều kiện mới mà bị mất dần đi và trở thành cái đơnnhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện củaquá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa từ chung
Trang 8thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định Ví
dụ quá trình phát triển của sinh vật, xuất hiện những biến dị ở một hoặc ít cáthể riêng biệt, biểu hiện thành đặc tính mà khi ngoại cảnh thay đổi nó trởthành phổ biến của nhiều cá thể Và những đặc tính không phù hợp sẽ mấtdần đi và trở thành cái đơn nhất
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị
sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng
- Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải đưa ra cái chung
để nhằm cải tạo cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lí chung (không hiểu biết lí luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng Mặt khác cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tùy theo từng cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp Ví dụ khi áp dụng những nguyên lí
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thời kì lịch sử ở mỗi nước để vận dụng những nguyên lí đó cho thích hợp, có vậy mới đem lại kết quả trong hoạt động thực tiễn
- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định
cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trang 9Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung, ta đã dưa
ra một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam một cách vững chắc, theo kịp các quốc gia khác đồng thời cung cấp cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
Trang 10II VẬN DỤNG CƠ SỞ LÍ LUẬN GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
1 Khái niệm kinh tế thị trường
Để hiểu rõ về khái niệm kinh tế thị trường trước hết ta cần biết thịtrường là gì Trên góc độ vĩ mô, thị trường là một phạm trù kinh tế tồn tại mộtcách khách quan cùng với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa và lưuthông hàng hóa Ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy cóthị trường Theo David Begg, thị trường "là sự biểu hiện thu gọn của quá trình
mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàngnào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào vàcái quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dunghòa bằng sự điều chỉnh giá cả" Hay ta cũng có thể định nghĩa thị trường là nơidiễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu
Loài người đã chứng kiến sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự hìnhthành, phát triển của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Kinh tế thị trường làhình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó từ sản suất đến tiêudùng đều thông qua thị trường Nói cách khác, kinh tế hàng hoá phát triển,trong đó mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá thì gọi là kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường,
tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn
có của nó, cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là gì, nhưthế nào và cho ai Một cơ chế bao hàm các nhân tố cơ bản là cung, cầu, giá cả
Cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn độn, mà là một trật tự kinh
tế, là bộ máy vi tính phối hợp một cách không có ý thức hoạt động của ngườitiêu dùng với các nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trường Không aitạo ra nó, nó tự phát sinh và phát triển cùng với sự ra đồi và phát triển củakinh tế hàng hoá
Trang 112 Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan
Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đanghoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá, dịch vụ
và đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước
ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới Tương quan giá cả của cácloại hàng hoá trong nước gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế.Thị trường trong nước gắn liền với thị trương thế giới Nền kinh tế Việt Nam
là một bộ phận của nền kinh tế thế giới Chính điều này tạo nên một chỉnh thểhoàn chỉnh của nền kinh tế thế giới
Như vậy với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thì việctiếp thu những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoànthiện nền kinh tế Việt Nam là tất yếu Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếpthu một cách hình thức phải tiếp thu có chọn lọc cho phù hợp với điều kiện đấtnước Phải giữ dược những nét đặc trưng riêng tức là phải bảo tồn cái đơnnhất của kinh tế Việt Nam từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trườngmới về chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thịtrường TBCN
Xét về hoàn cảnh lịch sử, xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta là kinh
tế phong kiến Ngoài ra nước ta vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh giữnước khốc liệt, mà ở đó, cơ sở vật chất vốn đã ít ỏi còn bị tàn phá nặng nề
Sau chiến tranh, ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hoátập trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Trong thờigian đầu sau chiến tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ củacác nước trong hệ thống XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy đượctính ưu việt của nó Từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kếhoạch hoá nhà nước đã tập trung vào tay mình một lượng vật chất quan trọng
về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế
Trang 12Sau ngày giải phóng miền Nam, trên bức tranh về nền kinh tế nước tatồn tại một lúc cả ba gam màu: kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tậptrung và kinh tế hàng hoá Do sự không hài hoà giữa các nền kinh tế và sự chủquan cứng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý mà chúng
ta đã không tạo ra được động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn gâylãng phí tài nguyên, ô nhiễm môi trường Lúc này, nước ta đồng thời cũng bịcắt giảm nguồn viện trợ từ các nước XHCN Tất cả những nguyên nhân đó đãkhiến cho nền kinh tế nước ta trong những năm cuối thập kỷ 80 lâm vàokhủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân bị giảm sút, thậm chí ở một số nơicòn bị nạn đói đe doạ Nguyên nhân của sự suy thoái này là từ những sai lầm
cơ bản như:
- Ta đã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất trên mộtquy mô lớn trong điều kiện chưa cho phép, khiến cho một bộ phận tài sản vôchủ và không sử dụng có hiệu quả nguồn lực vốn đang rất khan hiếm của đấtnước trong khi dân số ngày một gia tăng với tỉ lệ khá cao 2,2%
- Thực hiện việc phân phối theo lao động cũng trong điều kiện chưa chophép Khi tổng sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối bìnhquân vừa phân phối lại một cách gián tiếp đã làm mất động lực của sự pháttriển
Việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công cụ hành chính,mệnh lệnh theo kiểu thời chiến không thích hợp với yêu cầu tự do lựa chọncủa người sản xuất và người tiêu dùng đã không kích thích sự sáng tạo củahàng triệu người lao động
Chính vì việc quá tập trung vào bên ngoài cái riêng, đó là những mụctiêu phát triển, xây dựng mà quên đi cái riêng là những sở hữu tư nhân và cánhân Điều đó trái với quy luật phát triển và quan hệ giữa cái chung và cáiriêng dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, làm kìm hãm sự phát triển của