1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vấn đề chung của hợp đồng môn hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

16 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 230,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục:Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 4 Câu 1: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.. Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

🙢🙢🙢

BÀI THẢO LUẬN THỨ HAI

Môn: Hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng

Giảng viên thảo luận: Ngô Thị Anh Vân

Lớp: 114-TM45.2

Nhóm: 07

STT Họ và Tên Mã số sinh viên Ghi chú

1 Võ Trung Hiếu 2053801011 087

2 Khưu Thị Mộng Kha 2053801011 112

3 Thái Nguyên Kim 2053801011 121

4 Trần Thị Kim Liên 2053801011 125

5 Phan Bảo Long 2053801011 136

6 Lâm Cao Minh 2053801011 142

7 Nguyễn Thị Cẩm Nga 2053801011 152

8 Đỗ Thị Kim Ngân 2053801011 155

9 Nguyễn Thị Mỹ Ngân 2053801011 157

10 Nguyễn Hồng Ngọc 2053801011 163

11 Nguyễn Thị Bích Ngọc 2053801011 164

12 Nguyễn Thị Nguyên 2053801011 172

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2021

1

Trang 3

Mục lục:

Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 4

Câu 1: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên 4

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng 5

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong

Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 7

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được 9

Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015

và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu: 9 Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 10 Câu 3: Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? 12

Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng có giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản: 13

Tóm tắt Quyết định số 259/2014/DS-GĐT về vấn đề: Vụ án tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 13 Tóm tắt Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

 Đối với vụ việc thứ nhất 14 Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 14 Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 14 Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp

 Đối với vụ việc thứ 2: 15 Câu 5: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 15 Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn

Câu 7: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 16

Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

❖ Tình huống:

Trang 4

Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một

đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D)

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới

Câu 1: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn

đề trên.

+ Vấn đề 1: Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Hướng giải quyết này của Toà án là hợp lý Vì D (bên được đề nghị) đã không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (bên đề nghị) Và C (bên đề nghị) cũng không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D (bên được đề nghị) Tuy nhiên, việc Toà án áp dụng Điều 400 BLDS 2015 vào trường hợp này là chưa hợp lý Vì ngoại trừ Khoản 1 có nói: " Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết" là có liên quan thì các khoản còn lại từ 2-4 đều chỉ đề cập đến quy định về thời điểm giao kết hợp đồng xác định theo hình thức hợp đồng Do đó, căn cứ vào Điều 400 ta không thể xác định được bên đề nghị có nhận được chấp nhận đề nghị hay chưa Việc Toà án áp dụng Điều 400 để giải quyết vấn đề này là chưa hoàn toàn hợp pháp

+ Vấn đề 2: Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý: Hướng giải quyết này của tòa án là hợp pháp Vì tháng 1 năm 2018, A, B và C đã gửi cho D một

đề nghị giao kết hợp đồng nhưng mãi đến hơn 2 năm sau, tức tháng 1 và tháng 2 năm

2020 thì D mới lần lượt gửi cho A và B chấp nhận giao kết hợp đồng của mình Thời hạn trả lời 2 năm là quá dài và chưa hợp lý Vì trong 2 năm đó quyền lợi của bên đề nghị có thể bị ảnh hưởng do không nhận được chấp nhận trả lời Do bên đề nghị không xác định thời hạn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 394 BLDS 2015: “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực

Trang 5

hiện trong một thời hạn hợp lý." Vậy nên hướng giải quyết của Toà án trong vấn đề 2

là hoàn toàn hợp pháp

+ Vấn đề 3: Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới: Hướng giải quyết của Toà án rất khách quan, mềm dẻo và phù hợp với thực tế Bởi lẽ, khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 chỉ quy định hướng giải quyết cho trường hợp trả lời chấp nhận khi hết thời hạn mà bên đề nghị đã ấn định, chứ không có quy định trường hợp bên đề nghị không ấn định thời hạn Nhận thấy quy định trên được đặt ra nhằm khiến bên được đề nghị trả lời chấp nhận của bên đề nghị trong khoảng thời gian hợp lý để tránh phát sinh những thiệt hại không đáng có Vì lẽ đó, Luật quy định việc trả lời chấp nhận đề nghị

có hiệu lực trong thời hạn mà bên đề nghị ấn định để tạo sự tự do trong giao kết hợp đồng chứ không cứng nhắc nó Chính vì thế, việc Toà án xác định bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời là thoả đáng

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng

Tình huống:

Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm

7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL

Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày

03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê Thị Tường, anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm

- Nội dung án lệ: “Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ

Trang 6

tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà

Tý Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã

sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.”

- Khái quát nội dung án lệ: Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng

mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận

và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

- Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005: “Hợp đồng dân sự cũng xem như được

giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.”

- Bổ sung chế định về im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tại Khoản

2, Điều 393 Bộ Luật Dân sự 2015: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi

là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.”

Có thể thấy, BLDS 2015 theo hướng kế thừa và bổ sung so với quy định của BLDS 2005 về chế định này BLDS 2015 theo hướng thông thường im lặng không là chấp nhận giao kết hợp đồng, chỉ có một số trường hợp ngoại lệ được liệt kê trong Bộ

Trang 7

luật Tuy nhiên, việc liệt kê quá cụ thể, chi tiết là điều bất cập của BLDS 2015 về vấn

đề này, vì ngoại trừ trường hợp có thỏa thuận và thói quen thì sẽ xem im lặng là không đồng ý Và trong quá trình xét xử thì Tòa án đã xét xử theo hướng im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng nếu có những biểu hiện sau:

- Bên im lặng biết bên kia thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng nhưng không phản đổi

- Bên im lặng đã thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên kia

- Im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng nhưng sau đó yêu cầu bên kia thực hiện hợp đồng

Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Xét đến tình huống này chưa đề cập rõ đối với độ tuổi của các con bà Chu, ông Bùi nên sẽ có trường hợp là các trường hợp sau để làm rõ vấn đề ở những khía cạnh khác nhau:

- Thứ nhất: các con ông, bà đã đủ mười tám tuổi, không ai mất năng lực hành vi

dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Thứ hai: các con ông bà có người chưa đủ mười tám tuổi hoặc có người mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân sự

 Đối với trường hợp thứ nhất:

Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là hoàn toàn thuyết phục vì bản chất của vụ việc là giống nhau:

- Thứ nhất cả án lệ và tình huống trên đều là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do giao dịch chưa có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu đối với tài sản chung Cụ thể là trong án lệ mảnh đất chuyển nhượng là tài sản chung của của vợ chồng ông Ngự, bà Phấn nhưng khi giao dịch chỉ có ông Ngự ký tên giao dịch Còn trong tình huống này không có chữ ký của các con bà Chu, ông Bùi

- Thứ hai, cả hai trường hợp đều cho thấy những biểu hiện, cơ sở chứng minh

sự đồng ý trong giao dịch của các đồng chủ sở hữu dù không ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng

Trang 8

Đối với án lệ, có nội dung sau: “Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và

trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến

khi xây dựng nhà.”, cho thấy bà Phấn hoàn toàn biết và không phản đối đối với hợp đồng chuyển nhượng này

Tương tự đối với tình huống, “ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì.” Việc không ý kiến gì cũng đã thể hiện các con bà Chu, ông Bùi biết và đồng tình với hợp đồng chuyển nhượng này

Như vậy, đối với tình huống thứ nhất, vì các con của bà Chu, ông Bùi đã nhận thức được hợp đồng chuyển nhượng này, cho nên sự im lặng đó áp dụng bản án 04 này

để giải quyết là hợp lí

 Đối với trường hợp thứ hai:

Bởi vì các có một số con của bà Chu, ông Bùi chưa đủ mười tám tuổi, hoặc có người mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân sự được quy định tại điều 22, 23, 24 BLDS 2015, cho nên trong khi giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua người đại diện Như vậy, thực chất lúc ký hợp đồng chuyển nhượng bà Chu, ông Bùi đã đại diện cho những người còn thuộc các trường hợp trên ký kết Nên đến hiện tại, nếu các người con đó đã đủ mười tám tuổi, hoặc được Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân

sự và không đồng ý với giao dịch đó thì không thể áp dụng án lệ 04 để cho rằng họ đã đồng ý do im lặng Vì xét đến cùng, án lệ 04 áp dụng với các trường hợp các đồng sở hữu không ký kết hợp đồng nhận thức được giao dịch và họ im lặng trong quá trình đó thì sẽ hợp lí hơn Bởi lẻ các trường hợp nêu trên, họ im lặng tại thời điểm chưa có đủ khả năng nhận nhận thức, nên sự im lặng trong trường hợp này chưa phải là biểu hiện,

là cơ sở của việc đồng ý giao kết hợp đồng Cho nên, nếu Tòa án áp dụng án lệ 04 để giải quyết trường hợp thứ hai này là chưa thỏa đáng

Trang 9

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được Tình huống:

Ông A thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho Ngân hàng Hợp đồng thế chấp đã được xác lập phù hợp với quy định về hình thức, đăng ký nhưng trên đất có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) Khi có tranh chấp, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được

Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 nêu rõ hợp đồng chỉ bị vô hiệu khi có

đối tượng không thể thực hiện được ở thời điểm “ngay từ khi giao kết” Đây là một điểm khác so với khoản 1 Điều 411 BLDS 2005, thay từ “ký kết” bằng “giao kết”.

Theo nhóm thì việc quy định này giúp mở rộng hơn về phạm vi áp dụng của điều 408,

sở dĩ nếu như theo điều 411 BLDS 2005 thì phạm vi áp dụng bị thu hẹp vì “ký kết” chỉ

dành cho những hợp đồng được thiết lập trên hình thức văn bản, còn các loại hợp đồng được hình thành không qua ký kết như giao kết hợp đồng bằng lời nói, … thì sẽ không

được áp dụng Điều 408 BLDS 2015 đã khắc phục được hạn chế này của điều 411

BLDS 2005

Thứ hai, cũng tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2015, đã xóa bỏ cụm từ “vì lý do

khách quan” Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 quy định hợp đồng vô hiệu do đối tượng

không thể thực hiện vì lý do khách quan làm thu hẹp phạm vi áp dụng của điều luật và việc luật quy định như thế cũng không triệt để Vì trong thực tiễn xét xử có rất nhiều tình huống, đối tượng không thể thực hiện được vì lý do chủ quan rất nhiều, như trường hợp đối tượng của hợp đồng không được các bên xác định cụ thể (Ví dụ: một

cá nhân sở hữu 2 mảnh đất cạnh nhau và muốn bán 1 mảnh nhưng không nêu rõ là mảnh đất nào trong hợp đồng thì hợp đồng không thể thực hiện được) - đây là lý do chủ quan và BLDS 2005 không đưa ra hướng giải quyết Và trước khi có BLDS 2015 thì nhiều tòa án xét xử vẫn áp dụng Điều 411 BLDS 2005 để giải quyết ngay cả khi đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do chủ quan Ví dụ, trong bản án

số 04/2007/KDTM-ST, TAND thành phố Pleiku nhận định: “Thấy rằng, các bên

không chứng minh được là đã có thỏa thuận rõ ràng, chi tiết với nhau về đối tượng

Trang 10

của hợp đồng là tài sản phải giao, giữa các bên lại không có thói quen đã được thiết lập Chính vì vậy, Hội đồng xét xử xác định, đây là một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được Theo quy định tại Điều 411 của Bộ luật dân sự thì hợp đồng này

vô hiệu.”.1 Vì vậy việc BLDS 2015 sửa đổi bỏ đi cụm từ “vì lý do khách quan” theo nhóm là hoàn toàn hợp lí và thuyết phục

Ngoài ra thì Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã được thay cụm từ “giá trị pháp

lý” trong Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 bằng cụm từ “có hiệu lực” Đây là điểm mới

của BLDS 2015 Theo nhóm thì việc dùng cụm từ “hiệu lực” tạo sự khái quát, bao quát hơn so với dùng cụm từ “giá trị pháp lý” vì dùng “giá trị pháp lý” chỉ mang ý nghĩa luật định còn “hiệu lực” thì có ý nghĩa trong việc thực thi.

Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được, hiện nay việc áp dụng quy định tại Điều 408 BLDS 2015 vẫn chưa quy định cụ thể nên đã gây ra một vướng mắc lớn về vấn đề thời hiệu Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm chúng em cần áp dụng các chế định chung về thời hiệu trong lĩnh vực hợp đồng để giải quyết Căn cứ vào Điều 429 BLDS 2015 để xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được Cụ thể Điều 429 BLDS 2015 quy định như sau: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” Sở dĩ như vậy là vì:

Theo một tác giả2, trong trường hợp này, cần áp dụng quy định tại Điều 429 BLDS 2015 về thời hiệu khởi kiện chung cho lĩnh vực hợp đồng là 3 năm (2 năm theo Điều 427 BLDS 2005) Tuy nhiên, vấn đề này có thể gây tranh cãi bởi lẽ quy định này nằm trong phần “Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng” do đó liệu có thể áp dụng cho chế tài

vô hiệu (chế tài áp dụng cho giao kết hợp đồng)? Theo chúng tôi, không thể giới hạn phạm vi áp dụng của Điều 429 trong các tranh chấp liên quan đến sửa đổi, chấm dứt hợp đồng bởi lẽ:

- Thứ nhất, về hình thức, Điều 429 mặc dù được đặt ở cuối Tiểu mục 3

“Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng”, nhưng cần phải hiểu một cách rộng hơn rằng điều luật này nằm cuối Mục 7 “Hợp đồng” Do đó, Điều 429 phải được coi là quy định chung

1

Xem thêm: Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2), 774.

2 Nguyễn Hồng Hải, “Một số vấn đề về hợp đồng vô hiệu trong pháp luật tư hiện hành của Việt Nam”.

Ngày đăng: 05/12/2021, 19:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w