Trình bày chủ trương xây dựng Đảng trong HTCT thời kỳ đổi mới. Để phấn đấu trở thành một người đảng viên, anh (chị) cần phải làm gì?” I. Lời mở đầu 1 II. Nội Dung 2 1. Cơ sở lý luận 2 1.1 Khái niệm 2 1.2. Hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới gồm các đặc điểm chính 2 1.3 Mục đích của việc xây dựng Đảng 3 2, Nội dung xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới 3 2.1. Những chủ chương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới 3 2.2 Những thành tựu đạt được trong xây dựng Đảng: 7 2.3. Hạn chế, khuyết điểm 8 2.4. Định hướng tăng cường xây dựng Đảng 8 II.Liên hệ Thực tiễn 9 Liên hệ bản thân 11 III, Kết luận 12 IV. Tài liệu tham khảo 14 I. Lời mở đầu Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, đất nước ta đã tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa.; một xã hội lý tưởng mà lãnh đạo là giai cấp công nhân và nhân dân lao động đoàn kết. Đây là một bước ngoặt lịch sử hết sức to lớn và quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc và mở ra một trang sử hào hùng chói lọi cho đất nước Việt Nam sau gần 100 năm dưới ác nô lệ thuộc địa. Từ những nhiệm vụ mới được đặt ra va phải hoàn thành, dù gặp không ít khó khăn, gian khổ thậm chí còn không biết bao đau thương mất mát nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ và thống nhất đất nước, quy lanh thổ quốc gia về một mối. Đây là những thắng lợi vô cùng to lớn vĩ đại mà không phải đảng nào, quốc gia nào cũng có thể làm được. Chúng ta và thế hệ mai sau không nhưng luôn luôn phải biết ơn về những điều đó mà còn có quyền tự hào về một sự hào hùng như vậy. Từ sau năm 1975, đất nước ta lại bước vào một chặng đường mới những nhiệm vụ mới. Một công cuộc to lớn là xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn qua độ lên CNXH trong cả nước. Cùng với việc xây dựng đường lối Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đường lối đối nội đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức chú trọng đến việc chủ trương xây dựng Đảng trong HTCT thời kỳ đổi mới, vững mạnh, xứng tầm và toàn diện với nhiệm vụ của đất nước. Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Chủ trương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới” làm đề tài nghiên cứu và học tập với mong muốn vận dụng những kiến thức đã tích lũy và tìm hiểu được nhằm nghiên cứu, đưa ra những đánh giá của bản thân và đề xuất những giai pháp nhỏ, vừa tầm với kiến thức, nhận thức của mình để góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính trị tại Việt Nam. II. Nội Dung 1. Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước, đảng phái, đoàn thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia, và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chỉ phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội. Đổi Mới là một chương trình cải cách toàn diện bao gồm kinh tế và nhiều khía cạnh khác của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980. Chính sách Đổi mới được chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986. 1.2. Hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới gồm các đặc điểm chính như sau: a) Tính nhất nguyên chính trị Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam Tính chất nguyên chính của hệ thống chính trị được thể hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng. b)Tính thống nhất Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất. c) Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị Việt Nam. Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội.. Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với d) Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc. 1.3 Mục đích của việc xây dựng Đảng Công tác xây dựng Đảng là 1 công tác có tính quan trọng sống còn đối với 1 đảng lãnh đạo,vì vậy mục đích của việc này là nhằm xây dựng 1 Đảng đoàn kết về chính trị, vững vàng về tư tưởng và kiện toàn,linh hoạt trong việc tổ chức bộ máy đảng. 2, Nội dung xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới 2.1. Những chủ chương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới a) Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận. Để đạt mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Khi huấn luyện cho cán bộ cách mạng từ năm 1925 đến năm 1927, Hồ Chí Minh khẳng định:”Đảng muốn vừng thi phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”1; “chủ nghĩa” ấy là chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh đã ví chủ nghĩa Mác – Lênin như trí khôn của con người, như bàn chỉ nam định hướng cho con tàu đi, điều đó nói lên vai trò cực kỳ quan trọng của lý luận ấy trong tất cả các thời kỳ cách mạng. Với ý nghĩa đó, theo Người, chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành “cốt”, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong việc tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh lưu ý những điểm sau đây: Một là, việc học tập nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin phải luôn phù hợp với từng đối tượng. Hai là việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải luôn luôn phù hợp với từng hoàn cảnh. Theo Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải tránh giáo điều, đồng thời chống lại việc xa rời các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác — Lênin. Điều này hoàn toàn đúng với lời căn dặn của C.Mác. Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đối với những người cộng sản trên thế giới khi các ông cho rằng: những quan điểm của các ông chỉ là phương pháp chỉ dẫn hành động trong thực tế. Ba là, trong quá trình hoạt động, Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác, đồng thời Đảng ta phải tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác — Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết nêu lên những vấn đề cơ bản nhất, trên cơ sở đó, mỗi Đảng vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện riêng của mình. Trong quá trình vận dụng, mỗi đảng lại giải quyết thành công những vấn đề mới, tổng kết thành những vấn đề lý luận bổ sung và làm giàu thêm nội dung lý luận Mác – Lênin. Đây là thái độ và trách nhiệm thường xuyên của Đảng ta. Bốn là, Đảng ta phải tăng cường đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác — Lênin. Chú ý chống giáo điều, cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin; chống lại những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác — Lênin. b) Xây dựng Đảng về chính trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng về chính trị có nhiều nội dung, bao gồm: xây dựng đường lối, chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị… Trong đó, theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Hoạch định đường lối chính trị trở thành một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng trong xây dựng Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có vai trò định hướng phát triển cho toàn xã hội. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chính trị của mình chủ yếu bằng việc đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội cũng như sách lược và quy định những mục tiêu phát triển của xã hội theo hướng lâu dài cũng như từng giai đoạn. Đảng muốn xây dựng đường lối chính trị đúng đắn cần phải coi trọng những vấn đề: đường lối chính trị phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng nó vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong từng thời kỳ; trong xây dựng đường lối chính trị. Phải học tập kinh nghiệm của các đảng cộng sản anh em, nhưng phải tính đến những điều kiện cụ thể của đất nước và của thời đại trong từng giai đoạn hoặc cả thời kỳ dài: để có đường lối chính trị đúng, Đảng phải thực sự là đội tiên phong dũng cảm, là bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, và của cả dân tộc. Hồ Chí Minh lưu ý cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời Người cũng cảnh báo nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với vận mệnh của Tổ quốc, sính mệnh chính trị của hàng triệu đảng viên cũng như của hàng triệu nhân dân lao động. c) Xây dựng Đảng về tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ. – Hệ thống tổ chức của Đảng: Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức, một tổ chức tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân. Hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở phải chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng. Trong hệ thống tổ chức Đảng. Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi bộ. Bởi lẽ, đối với bản thân Đảng, chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên: chi bộ có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng: + Tập trung dân chủ Đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Giữa “tập trung” và”dân chủ” có mối quan hệ khăng khít với nhau, đó là hai vế của một nguyên tắc. Hồ Chí Minh viết về mối quan hệ đó như sau: Tập trung trên nền tảng của dân chủ: dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung hoặc. Người viết “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”‘. + Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Hồ Chí Minh giải thích về tập thể lãnh đạo như sau: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm” về cá nhân phụ trách, Hồ Chí Minh cho rằng: “việc ai đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”‘ Thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng phải chú ý khắc phục tệ độc đoán chuyên quyền, đồng thời phải chống lại cả tình trạng dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm.
Trang 1Câu hỏi tiểu luận:“Trình bày chủ trương xây dựng Đảng trong HTCT thời kỳ đổi mới Để phấn đấu trở thành một người đảng viên, anh (chị) cần
phải làm gì?”
I Lời mở đầu 1
II Nội Dung 2
1 Cơ sở lý luận 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới gồm các đặc điểm chính 2
1.3 Mục đích của việc xây dựng Đảng 3
2, Nội dung xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới 3 2.1 Những chủ chương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới 3
2.2 Những thành tựu đạt được trong xây dựng Đảng: 7
2.3 Hạn chế, khuyết điểm 8
2.4 Định hướng tăng cường xây dựng Đảng 8
II.Liên hệ / Thực tiễn 9
Liên hệ bản thân 11
III, Kết luận 12
IV Tài liệu tham khảo 14
Trang 2I Lời mở đầu
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới con đường mà chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, đất nước ta đã tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa.; một xã hội lý tưởng mà lãnh đạo là giai cấp công nhân và nhân dân lao động đoàn kết Đây là một bước ngoặt lịch sử hết sức to lớn và quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc và mở ra một trang sử hào hùng chói lọi cho đất nước Việt Nam sau gần 100 năm dưới ác nô lệ thuộc địa
Từ những nhiệm vụ mới được đặt ra va phải hoàn thành, dù gặp không ít khó khăn, gian khổ thậm chí còn không biết bao đau thương mất mát nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ và thống nhất đất nước, quy lanh thổ quốc gia về một mối Đây là những thắng lợi vô cùng to lớn vĩ đại mà không phải đảng nào, quốc gia nào cũng có thể làm được Chúng ta và thế hệ mai sau không nhưng luôn luôn phải biết ơn về những điều đó mà còn có quyền tự hào về một sự hào hùng như vậy
Từ sau năm 1975, đất nước ta lại bước vào một chặng đường mới những nhiệm
vụ mới Một công cuộc to lớn là xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn qua độ lên CNXH trong cả nước Cùng với việc xây dựng đường lối Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đường lối đối nội đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức chú trọng đến việc chủ trương xây dựng Đảng trong HTCT thời kỳ đổi mới, vững mạnh, xứng tầm và toàn diện với nhiệm vụ của đất nước
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Chủ trương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới” làm đề tài nghiên cứu và học tập với mong muốn vận dụng những kiến thức đã tích lũy và tìm hiểu được nhằm nghiên cứu, đưa ra những đánh giá của bản thân và đề xuất những giai pháp nhỏ, vừa tầm với kiến thức, nhận thức của mình để góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính trị tại Việt Nam
Trang 3II Nội Dung
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm
Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước, đảng phái, đoàn
thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia, và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chỉ phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội
Đổi Mới là một chương trình cải cách toàn diện bao gồm kinh tế và nhiều khía
cạnh khác của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980 Chính sách Đổi mới được chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986
1.2 Hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới gồm các đặc điểm chính như sau:
a) Tính nhất nguyên chính trị - Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội
- Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam - Tính chất nguyên chính của hệ thống chính trị được thể hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng b)Tính thống nhất - Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất c)
Trang 4Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân - Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị Việt Nam Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội - Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với
d) Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị - Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc
1.3 Mục đích của việc xây dựng Đảng
Công tác xây dựng Đảng là 1 công tác có tính quan trọng sống còn đối với 1
đảng lãnh đạo,vì vậy mục đích của việc này là nhằm xây dựng 1 Đảng đoàn kết
về chính trị, vững vàng về tư tưởng và kiện toàn,linh hoạt trong việc tổ chức bộ máy đảng
2, Nội dung xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới
2.1 Những chủ chương xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị trong thời
kỳ đổi mới
a) Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận
Để đạt mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin Khi huấn luyện cho cán bộ cách mạng từ năm 1925 đến năm 1927, Hồ Chí Minh khẳng định:”Đảng muốn vừng thi phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”[1]; “chủ nghĩa” ấy là chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã ví chủ nghĩa Mác – Lênin như trí khôn của con người, như bàn chỉ nam định hướng cho con tàu đi, điều đó nói lên vai trò cực kỳ quan trọng của lý luận
ấy trong tất cả các thời kỳ cách mạng Với ý nghĩa đó, theo Người, chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành “cốt”, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 5Trong việc tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin.
Hồ Chí Minh lưu ý những điểm sau đây:
Một là, việc học tập nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin phải luôn phù hợp với từng đối tượng
Hai là việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải luôn luôn phù hợp với từng hoàn cảnh Theo Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải tránh giáo điều, đồng thời chống lại việc xa rời các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác
— Lênin Điều này hoàn toàn đúng với lời căn dặn của C.Mác Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đối với những người cộng sản trên thế giới khi các ông cho rằng: những quan điểm của các ông chỉ là phương pháp chỉ dẫn hành động trong thực
tế
Ba là, trong quá trình hoạt động, Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác, đồng thời Đảng ta phải tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác — Lênin Chủ nghĩa
Mác – Lênin là học thuyết nêu lên những vấn đề cơ bản nhất, trên cơ sở đó, mỗi Đảng vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện riêng của mình Trong quá trình vận dụng, mỗi đảng lại giải quyết thành công những vấn đề mới, tổng kết thành những vấn đề lý luận bổ sung và làm giàu thêm nội dung lý luận Mác – Lênin Đây là thái độ và trách nhiệm thường xuyên của Đảng ta
Bốn là, Đảng ta phải tăng cường đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác — Lênin Chú ý chống giáo điều, cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin; chống lại những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác — Lênin
b) Xây dựng Đảng về chính trị
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng về chính trị có nhiều nội dung, bao gồm: xây dựng đường lối, chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị… Trong đó, theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của Đảng Hoạch định đường lối chính trị trở thành một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng trong xây dựng Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có vai trò định hướng phát triển cho toàn
xã hội Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chính trị của mình chủ yếu bằng việc đề
ra cương lĩnh, đường lối chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội cũng như sách lược và quy định những mục tiêu phát triển của xã hội theo hướng lâu dài cũng như từng giai đoạn Đảng muốn xây dựng đường lối chính trị đúng đắn cần phải coi trọng những vấn đề: đường lối chính trị phải dựa trên
Trang 6cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng nó vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong từng thời kỳ; trong xây dựng đường lối chính trị Phải học tập kinh nghiệm của các đảng cộng sản anh em, nhưng phải tính đến những điều kiện cụ thể của đất nước và của thời đại trong từng giai đoạn hoặc cả thời kỳ dài: để có đường lối chính trị đúng, Đảng phải thực sự là đội tiên phong dũng cảm, là bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, và của cả dân tộc
Hồ Chí Minh lưu ý cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh Đồng thời Người cũng cảnh báo nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với vận mệnh của Tổ quốc, sính mệnh chính trị của hàng triệu đảng viên cũng như của hàng triệu nhân dân lao động
c) Xây dựng Đảng về tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ
– Hệ thống tổ chức của Đảng: Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức, một tổ chức tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân
Hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở phải chặt chẽ, có tính kỷ luật cao Mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng
Trong hệ thống tổ chức Đảng Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi bộ Bởi
lẽ, đối với bản thân Đảng, chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên: chi bộ có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng và quần chúng nhân dân
Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng:
+ Tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng Giữa “tập trung” và”dân chủ”
có mối quan hệ khăng khít với nhau, đó là hai vế của một nguyên tắc Hồ Chí Minh viết về mối quan hệ đó như sau: Tập trung trên nền tảng của dân chủ: dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung hoặc Người viết “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”‘
+ Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Hồ Chí Minh giải thích về tập thể lãnh đạo như sau: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?
Trang 7Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề
Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó
Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm” về cá nhân phụ trách, Hồ Chí Minh cho rằng: “việc ai đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy
Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành Như thế thì việc gì cũng không xong”‘
Thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng phải chú ý khắc phục
tệ độc đoán chuyên quyền, đồng thời phải chống lại cả tình trạng dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm
+ Tự phê bình và phê bình, Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi tổ chức tốt lên, phần xấu bị mất dần đi, tức là nói đến sự vươn tới chân, thiện, mỹ Mục đích này được quy định bởi tính tất yếu trong quá trình hoạt động của Đảng ta Bởi
vì, Đảng là một thực thể của xã hội Đảng bao gồm các tầng lớp xã hội đội ngũ của Đảng bao gồm những người ưu tú, những trong Đảng cũng không tránh khỏi những khuyết điểm, không phải mọi người đều tốt, mọi việc đều hay, mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng Chính vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng, thang thuốc tốt nhất là tự phê bình và phê bình
Thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh nêu rõ ở những điểm như: phải tiến hành thường xuyên như người ta mà mặt hằng ngày: phải thẳng thắn, chân thành, trung thực, không nể nang, không giấu giếm mà cũng không thêm bớt khuyết điểm; “phải có tình thương yêu lẫn nhau”
+ Kỷ luật nghiêm minh, tự giác
Sức mạnh của một tổ chức cộng sản và của mỗi đảng viên bắt nguồn từ ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, tự giác Tính nghiêm minh của kỹ luật Đảng đòi hòi tất cả mọi tổ chức đảng, tất cả mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật của Nhà nước, trước mọi quyết định của Đảng Đồng thời Đảng ta là một tổ chức gồm những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cho nên tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức Đảng
và đảng viên Tính nghiêm minh, tự giác đòi hỏi đảng viên phải gương mẫu
Trang 8trong cuộc sống, công tác Uy tín của Đảng bắt nguồn từ sự gương mẫu của mỗi đảng viên trong việc tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể nhân dân
+ Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Sự đoàn kết thống nhất của Đảng phải dựa trên cơ sở lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin: cương lĩnh, điều lệ Đảng; đường lối, quan điểm của Đảng; nghị quyết của tổ chức đảng các cấp Đồng thời, muốn đoàn kết thống nhất trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi ở trong Đảng, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác, phải “sống với nhau có tình, có nghĩa”, có đoàn kết tốt thì mới tạo ra cơ sở vững chắc để thống nhất ý chí và hành động, làm cho “Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như
là một người”
Cán bộ, công tác cán bộ của Đảng
Hồ Chí Minh đề ra một hệ thống các quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ Người nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng Cán
bộ là cái dây chuyền của bộ máy, là mất khẩu trung gian nối liền giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Muốn việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém Người cán bộ phải có đủ đức và tài, phẩm chất và năng lực, trong đó, đức, phẩm chất là gốc
Hồ Chí Minh cho rằng, công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng Nội dung của
nó bao hàm các mật khẩu liên hoàn, có quan hệ chặt chẽ với nhau: tuyển chọn cán bộ, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ; đánh giá đúng cán bộ, tuyển dụng, sắp xếp, bố trí cán bộ; thực hiện các chính sách đối với cán bộ
d) Xây dựng Đảng về đạo đức
Hô Chí Minh khẳng định: Một Đảng chân chính cách mạng phải có đạo đức Đạo đức tạo nên uy tín, sức mạnh của Đảng, giúp Đảng đủ tư cách lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng nhân dân
Xét về thực chất, đạo đức của Đảng ta là đạo đức mới, đạo đức cách mạng Đạo đức đó mang bản chất của giai cấp công nhân, cũng là đạo đức Mác – Lênin, đạo đức cộng sản chủ nghĩa mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu Vì thế, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán
bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Có đạo đức cách mạna trong sáng Đảng ta mới lãnh đạo nhân đân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng Đó là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cữn là tư cách số một của Đảng cầm quyền
Trang 9Giáo dục đạo đức cách mạng là một nội dung quan trọng trong việc tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên Nó gắn chặt với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức nhằm làm cho Đảng luôn luôn thật sự trong sạch
Đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức, gắn đạo đức với tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh đã góp phần bổ sung, mở rộng, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về nội dung công tác xây dựng Đảng phù hợp với truyền thống văn hóa, lịch sử của các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
2.2 Những thành tựu đạt được trong xây dựng Đảng:
Nhận thức lý luận về xây dựng Đảng trong 30 năm qua đạt được những thành tựu nhất định
Một là, Đảng ta đã xác định rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của Đảng: Tiếp tục khẳng định Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân như các đại hội trước, Đại hội X đã bổ sung Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam
Hai là, quy định rõ hơn vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống đó
Ba là, đã xác định ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn nền tảng tư tưởng của Đảng Bốn là, nhận thức rõ yêu cầu đối với Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền
Năm là, ngày càng xác định đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về vị trí, nội dung, nhiệm
vụ công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
2.3 Hạn chế, khuyết điểm
Bên cạnh những thành tựu trên, nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng
có những hạn chế, khuyết điểm
Về nhận thức, lý luận về Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đến nay chưa đủ rõ cả về khái niệm, nội dung, mô hình, phương thức cầm quyền
Trang 10Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền, nói chung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, nói riêng, chưa được xác định thật rõ và cụ thể Chậm cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.”
Nhận thức về nội dung công tác xây dựng Đảng mới dừng lại ở mức độ nhận thức chung là Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhiều vấn
đề chưa được cụ thể hóa thành các quy định để thực hiện
Nhận thức về dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền còn hạn chế Nhiều vấn đề lý luận đặt ra từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng chưa được lý giải đầy
đủ Chưa thấy hết được tầm quan trọng về xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng; chưa coi trọng đúng mức xây dựng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên
2.4 Định hướng tăng cường xây dựng Đảng
Trong những năm tới, cần tiếp tục xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng là nhân
tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới Trên nền tảng chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức; phát huy bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên
Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu và sự suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng "tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách, nhất là tổ chức thực hiện nhiệm vụ Tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; củng cố quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân
II.Liên hệ / Thực tiễn
Hiện nay, đất nước đã hòa bình và đang bước trên đà hội nhập và phát triển Để
có thể sánh vai được với các cường quốc năm châu thì cần có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước; dựa trên sự lớn mạnh và phát triển của Đảng viên về