1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT

57 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 652,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận * Khái niệm văn nghị luận Văn nghị luận là loại văn trong đó người nói, người viết sử dụng lí luận, bao gồm l

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP

VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT

2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 05/09/2014

3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không

4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm 4.1 Giáo viên dạy rập khuôn theo SGK: trong giờ dạy kiến thức lí thuyết

Thao tác lập luận bác bỏ giáo viên mới chỉ thực hiện các nội dung SGK theo

những định hướng trong SGV Thông thường, giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu theo phần nội dung trong SGK, sau đó nhận xét, bổ sung rồi rút ra kết luận theo phần ghi nhớ trong SGK Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào việc giải quyết các bài tập trong SGK

Bên cạnh đó, thời gian dành cho bài “Thao tác lập luận bác bỏ” là một tiết

và một tiết cho bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” Do đó, giáo viên ít có điều kiện mở rộng kiến thức và việc luyện tập cũng chưa được kĩ càng, sâu sắc

Bên cạnh những thành công đạt được do việc đổi mới chương trình SGK Ngữ văn, việc giảng dạy của giáo viên cũng còn gặp nhiều lúng túng, chất lượng

sử dụng thao tác lập luận bác bỏ chưa đạt như mong muốn Học sinh mắc khá nhiều lỗi thông thường Việc giảng dạy đã có lí luận nhưng việc vận dụng lí luận

đó vào thực tiễn viết bài dùng thao tác lập luận bác bỏ của học sinh còn gặp không

ít khó khăn

4.2 Học sinh thụ động nghe - chép: trong quá trình học thao tác lập luận

bác bỏ, nhìn chung, học sinh vẫn còn thụ động Mặc dù, giáo viên khi lên lớp đã

cố gắng đổi mới phương pháp dạy - học, lấy học sinh làm trung tâm, dạy học tích cực hóa, nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, học sinh chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo mà phần lớn các em vẫn học theo kiểu cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì giáo viên nói mà chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học Thực tế, mặc dù được học thao tác lập luận bác

bỏ nhưng giờ luyện thực hành còn khá ít Các đề kiểm tra cũng ít khi đề cập tới tai lieu, document1 of 66.

Trang 2

thao tác này Đây cũng là một bất cập khiến các em học sinh không được trau dồi

kĩ năng làm văn bác bỏ

Ngoài ra, cần phải nói tới thực trạng học sinh ngại chữa lỗi trong các bài kiểm tra của mình Khi giáo viên hướng dẫn, các em nhận ra lỗi sai nhưng không trực tiếp chữa những lỗi sai đó vào bài Nó cho thấy các em chưa ý thức đầy đủ

về giờ luyện tập thực hành

5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:

5.1 Trong những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn

đề được quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục Điểm mấu chốt của đổi mới phương pháp dạy học là việc người học - đối tượng của hoạt động dạy, chủ thể của hoạt động học - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức

và chỉ đạo, để khám phá những điều mình chưa rõ, chứ không phải là tiếp thu một cách thụ động những tri thức đã được giáo viên sắp đặt, từ đó nắm chắc kiến thức,

kĩ năng, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

5.2 Trước cải cách giáo dục, Làm văn được tách thành một phân môn và

được soạn thành sách giáo khoa (SGK) riêng Quan điểm tích hợp gần đây đã dẫn tới sự ra đời của SGK Ngữ văn với ba bộ phận: Văn học - Làm văn - tiếng Việt, dựa trên sự thống nhất về mục tiêu hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt cho học sinh Làm Văn là môn thực hành tổng hợp Năng lực mà học sinh có được ở phần Văn học (đọc hiểu và tiếp nhận văn bản), Tiếng Việt (năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt) tạo điều kiện trực tiếp để đạt tới mục tiêu quan trọng nhất của làm văn: tạo lập văn bản (nói và viết) Giáo dục phổ thông coi trọng trình

độ viết văn của học sinh, bởi với tư cách là "đầu ra", kết quả làm văn của học sinh phản ánh kết quả học Tiếng Việt và Văn học

Trong nhà trường phổ thông, văn nghị luận được đánh giá là trọng tâm của chương trình dạy học Ngữ văn, bởi lẽ, văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những gì mình đề xuất Bản thân văn nghị luận có liên quan trực tiếp tới quá trình các em học sinh tập vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, tri thức

xã hội và đời sống vào quá trình làm văn, rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoa học, tư duy lí luận Những đề bài nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết lí luận và thực tiễn để giải quyết nhằm xây dựng một phương pháp, tư tưởng khoa học để có nhận thức và thái độ đúng trước tai lieu, document2 of 66.

Trang 3

những vấn đề bàn luận cũng tức là giúp học sinh có sự chuẩn bị cần thiết để tiến tới những hành động đúng đắn, tích cực và sáng tạo trong đời sống hiện tại và tương lai Để học sinh làm được các bài văn nghị luận hay, các em phải hiểu được các thao tác lập luận có trong văn nghị luận

5.3 Trước đây, thao tác lập luận được gọi là kiểu bài nghị luận Nhưng do

việc thay đổi quan điểm giáo dục và cũng là do thực tế viết văn nghị luận là phải vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông (THPT) đã đưa thêm một số thao tác lập luận cơ bản trong đó có thao tác lập luận bác bỏ

Có thể nói, trong sáu thao tác lập luận (giải thích, phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh, bác bỏ), bác bỏ là thao tác học sinh ít được rèn luyện hơn

cả Điều này xuất phát từ cái khó của bản thân thao tác Một lí do khác là hiện nay trong các kì thi, dạng đề yêu cầu học sinh vận dụng thao tác lập luận này chưa nhiều, bởi những vấn đề đưa ra bàn luận hầu hết là những vấn đề đúng, mang tính chân lí Thực tế này đưa đến tình trạng học sinh chủ quan với lối tư duy một chiều, chưa có ý thức chuẩn bị tinh thần phản biện trong tranh luận, dẫn đến phiến diện trong tư duy và lập luận

5.4 Về vấn đề thao tác lập luận bác bỏ, từ rất xa xưa con người đã có những

cách bác bỏ ý kiến sai lầm rất thú vị Trong cuốn Phương pháp biện luận - Thuật

hùng biện của Triệu Truyền Đống do Nguyễn Quốc Siêu biên dịch Triệu Truyền

Đống đã đưa ra 280 bài viết tổng kết những cách thức, chiến thuật và mưu mẹo giành chiến thắng trong tranh luận trong đó có nói tới bác bỏ thông qua phần nghiên cứu về tranh luận

Cùng viết về nghệ thuật tranh luận, Dale Breckenridge Carnegie trong Đắc

Nhân Tâm cũng đã đưa ra những phương pháp tranh luận hết sức sắc sảo

Trong 14 bí quyết để luôn tranh luận thành công, do tạp chí Doanh

nghiệp sưu tầm, đã đưa ra 14 bí quyết quan trọng giúp chiến thắng trong các cuộc

tranh luận, biến những cuộc tranh luận thành những trao đổi thú vị, có tinh thần xây dựng và cùng đi tới những kết luận đúng đắn

Như vậy, nghệ thuật bác bỏ đã được bàn đến trong giao tiếp Tuy nhiên, đây là một thao tác mới trong SGK Ngữ văn dành cho bậc THPT Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu nghiêng nhiều về việc tìm hiểu văn nghị luận, chẳng hạn các công trình:

Phương pháp dạy học Làm văn do Phan Trọng Luận chủ biên đã đưa ra

những lí thuyết cơ bản cũng như phương pháp dạy học văn nghị luận cho học sinh Nghiên cứu cách thức tổ chức một giờ giảng lí thuyết và thực hành làm văn

tai lieu, document3 of 66.

Trang 4

Cùng tác giả trên, trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện

chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 đã đưa ra phương pháp dạy học

chương trình SGK Ngữ văn, trong đó có phân môn Làm văn Tuy nhiên đây cũng chỉ là những định hướng việc dạy thao tác lập luận bác bỏ ở phương diện lí thuyết cũng như thực hành, chưa có nhiều bài tập cho học sinh rèn luyện

Cuốn Thực hành Làm văn lớp 11 do Lê A chủ biên khẳng định vị trí cũng

như tính chất của làm văn (là môn thực hành tổng hợp), nêu lên những kiến thức

cơ bản về văn nghị luận cũng như các thao tác về văn nghị luận, trong đó có bác

bỏ Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng chưa đi vào nghiên cứu hệ thống bài tập rèn luyện cụ thể về từng thao tác lập luận

Ở nhóm nghiên cứu này, các nhà sư phạm đã quan tâm tới việc dạy lí thuyết

và thực hành, coi trọng cả hai khâu cung cấp kiến thức lí thuyết và rèn luyện kĩ năng Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đã xác định lại vị trí của phân môn Làm văn trong chương trình Ngữ văn ở THPT, đưa ra những phương hướng dạy học, hướng ra đề kiểm tra và chấm bài cho học sinh; đồng thời tích hợp các môn học khác vào dạy học làm văn Nói tóm lại, những công trình này đã xây dựng được một hệ thống kiến thức cơ bản về dạy học làm văn Tuy nhiên vẫn còn thiếu những bài tập cụ thể giúp các em học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn

Thao tác lập luận bác bỏ cũng được đưa vào SGK (SGK Ngữ văn 11 Nâng

cao, tập 2 do Trần Đình Sử làm tổng chủ biện; SGK Ngữ văn 11, tập 2 do Phan

Trọng Luận làm tổng chủ biên); Sách giáo viên; Sách tham khảo (Thiết kế bài

giảng Ngữ văn 11, tập 2 – Phan Trọng Luận) Song cũng vẫn với tinh thần trên,

với lượng thời gian ít ỏi, các bài trong SGK cũng mới chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh nhận biết, nhận diện thao tác mà chưa có điều kiện đi sâu vào thực hành Việc hình thành kỹ năng cho học sinh ở thao tác lập luận này (cũng như một số thao tác lập luận khác) vì thế còn nhiều hạn chế

Với mong muốn thay đổi thói quen tư duy, mài sắc tư duy để đáp ứng tốt

hơn yêu cầu viết văn cũng như phục vụ cho giao tiếp trong cuộc sống, chúng tôi

lựa chọn sáng kiến: Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong

văn nghị luận cho học sinh THPT

6 Mục đích của giải pháp sáng kiến

Thứ nhất, nghiên cứu sáng kiến này, các tác giả nhằm mục đích rèn luyện

kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận cho học sinh Giúp học sinh phát huy được năng lực cá nhân, lối tư duy phản biện, khả năng sáng tạo cũng như sự

tự tin bộc lộ ý kiến riêng trước những vấn đề văn học hay đời sống, xã hội

Thứ hai, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên cũng như chất lượng tai lieu, document4 of 66.

Trang 5

học tập của học sinh trong việc dạy và học văn nghị luận Từ đó, giúp bước đầu xóa bỏ tình trạng thờ ơ với môn văn, sợ viết văn, ngại viết văn của một bộ phận học sinh Giúp cho học sinh và cả giáo viên có thể nối liền khoảng cách văn chương và đời sống, biến những kiến thức sách vở trở nên sinh động trong cuộc sống đời thường, khả năng ứng dụng vào thực tế sinh động và linh hoạt hơn

b Nội dung: Thao tác lập luận bác bỏ là một hoạt động tư duy nhằm giúp

cho con người trên cơ sở nhận thức được cái đúng mà biết phê phán cái sai, cái lệch lạc, phiến diện Tuy nhiên đây là thao tác khá mới trong dạy học Làm văn, song cũng vì mới nên những công trình nhiên cứu về thao tác và dạy học thao tác

này chưa nhiều Vì vậy trong giải pháp này, nhóm tác giả cung cấp kiến thức về:

* Cơ sở lí luận:

- Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động tư duy

- Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận

- Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận

- Kỹ năng và sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

* Cơ sở thực tiễn

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp

c.1 Trình bày cơ sở lí luận:

c.1.1 Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động tư duy

* Khái niệm thao tác

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác được

định nghĩa: Thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó trong sản

xuất

Trong tâm lí học, thao tác được xem là những hệ thống những hành động trong tư duy Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy định

và phụ thuộc chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể

* Khái niệm tư duy

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển Bách

khoa, Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một

tai lieu, document5 of 66.

Trang 6

cách đặc biệt - bộ não người Tư duy phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận…

Như vậy, tư duy chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí

* Khái niệm thao tác lập luận: Lập luận là đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng

một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người

viết muốn đạt tới

Lập luận trong văn nghị luận bao gồm các yếu tố luận điểm, luận cứ, luận chứng, cách thức, phương pháp lập luận Trong đó, luận điểm chính là ý kiến xác định của người viết về vấn đề đặt ra Luận cứ là các tài liệu dùng làm cơ sở cho việc thuyết minh cho luận điểm Còn luận chứng là sự phối hợp tổ chức các lí lẽ

và dẫn chứng để thuyết minh cho luận điểm Thực chất đây là cách đưa luận cứ vào quỹ đạo logic để tạo sức thuyết phục của luận điểm

Thao tác lập luận: là người viết phải sử dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình bày lí lẽ và qua đó đánh giá đúng - sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra các kiến giả, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường quan điểm của bản thân Việc trình bày lí

lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư duy logic như: khái niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống dẫn chứng nhằm đạt được mục đích khiến người đọc tin theo Vậy thao tác lập luận chính là thao tác được sử dụng để thực hiện một hành động lập luận Nói cách khác, thao tác lập luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động lập luận

Trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt, do Lê A chủ biên, các nhà

nghiên cứu cũng nhận thấy: Trước đây, nhiều người cho rằng các vấn đề tư duy logic gắn liền với tất cả các ngành khoa học nên sẽ quá rộng nếu coi tư duy là một trong những tiền đề của việc dạy học làm văn Nhưng gần đây trên con đường xác định một lí thuyết thực sự khoa học cho môn Làm văn, các nhà nghiên cứu lại thấy rằng nhiều vấn đề của làm văn liên quan tới tư duy logic Các thao tác tư duy như suy diễn, chứng minh, bác bỏ… đã và đang được vận dụng triệt để trong làm văn Không nắm được thao tác tư duy, không thể tạo dựng những bài văn chặt

chẽ, mạch lạc về nội dung, trong sáng về diễn đạt Trong SGK Ngữ văn 11, tập 2

cũng viết: Nói một cách tổng quát thì các thao tác trên (phân tích- tổng hợp, diễn

dịch- quy nạp) một mặt là thao tác của logic, tức là của hoạt động tư duy nhằm

tai lieu, document6 of 66.

Trang 7

tìm ra chân lí, cũng tức là tìm ra các ý kiến, mặt khác, là thao tác trình bày các ý trong một bài văn nghị luận hoặc: Nghị luận là vận dụng tư duy và ngôn ngữ

Lập luận trong bài làm văn nghị luận là một hoạt động có mối liên hệ trực tiếp tới các hoạt động tư duy, tới vấn đề logic và đó là một hoạt động mang tính trí tuệ cao

c.1.2 Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận

Bác bỏ là một thao tác lập luận cơ bản của quá trình tư duy

Theo Từ điển Tiếng Việt: bác là bác đi, gạt đi, không chấp nhận (bác bỏ ý

kiến, bác bỏ luận điệu vu khống, dự án bị bác bỏ…)

Khi đứng trước một vấn đề nào đó, có thể có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau: có quan niệm, ý kiến đúng đắn, nhưng cũng có quan niệm, ý kiến không chính xác hoặc không hoàn toàn chính xác, khoa học, người nói (viết) cần có khả năng phát hiện ra những ý kiến, quan niệm mà mình cho là không thỏa đáng để bàn bạc, tranh luận và bác bỏ, có như vậy lập luân mới có giá trị sâu sắc và sức thuyết phục cao

c.1.3 Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận

* Khái niệm văn nghị luận

Văn nghị luận là loại văn trong đó người nói, người viết sử dụng lí luận, bao gồm lí lẽ, dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đề nào đó nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội

* Các thao tác lập luận cơ bản

Trong lập luận có các thao tác cơ bản sau:

- Lập luận giải thích: là thao tác lập luận sử dụng lí lẽ, kết hợp với dẫn

chứng để giảng giải, cắt nghĩa, giúp người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó Thao tác giải thích thường được vận dụng khi đề bài

có những khái niệm, những nhận xét, nhận định cần làm sáng tỏ, hoặc những cách tai lieu, document7 of 66.

Trang 8

diễn đạt bằng hình ảnh, hình tượng cần làm rõ nghĩa Cũng có khi việc giải thích tập trung vào mối quan hệ giữa các khái niệm, các vế của ý kiến, nhận định Giải thích cần phải sát với khái niệm Nếu rộng quá thì triển khai sẽ bị xa đề, nếu hẹp quá thì bài viết lại nghèo nàn, thiếu ý

- Lập luận phân tích: phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng

thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên

hệ bên trong đối tượng

Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa hình thức với bản chất, nội dung Phân tích giúp nhận thức đầy

đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối tượng Riêng đối với tác phẩm văn học, phân tích là khám phá ba giá trị của văn học là nhận thức, tư tưởng và thẩm mĩ (chân – thiện – mỹ)

Phân tích phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách một cách hợp lí Sau khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ sâu sắc và trình bày ngắn gọn

- Lập luận chứng minh: là đưa ra cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng

tỏ một lí lẽ, một ý kiến để thuyết phục người đọc, người nghe tin tưởng vào vấn

đề

Để chứng minh, chúng ta đưa lí lẽ trước khi chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận chứng minh thuyết phục hơn Cũng có khi thuyết minh trước rồi đưa dẫn chứng sau Việc đưa ra các dẫn chứng, bằng chứng để chứng minh cần đảm bảo: mối quan hệ giữa chất và lượng của dẫn chứng; tính tiêu biểu, toàn diện của dẫn chứng dựa trên việc xử lí hài hòa các mối quan hệ

- Lập luận bình luận: bình luận là đề xuất và thuyết phục người đọc (người

nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học

- Lập luận bác bỏ: là dùng lí lẽ và dẫn chứng để gạt bỏ những quan điểm,

ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe, người đọc Người viết có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứ hoặc cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân hoặc phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác,…của luận điểm, luận cứ, lập luận ấy

- Lập luận so sánh: Là đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong

cùng một sự vật So sánh để chỉ ra những nét giống nhau gọi là so sánh tương đồng; so sánh để chỉ ra sự khác biệt, đối chọi gọi là so sánh tương phản Tóm lại, tai lieu, document8 of 66.

Trang 9

so sánh là để thấy sự giống, khác nhau, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi

sự vật, hiện tượng

* Thao tác bác bỏ trong văn nghị luận

Như đã nói trên, lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác,…Từ đó nêu lên ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe Có thể bác bỏ ở các cấp độ, khía cạnh: bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ lập luận

- Bác bỏ luận điểm: là chỉ ra sự sai lầm của ý kiến (luận điểm) Có nhiều

cách bác bỏ luận điểm, thông thường là hai cách:

+ Dùng thực tế bác bỏ tức tìm ra những điểm trái với thực tế, tác phẩm hoặc đời sống

+ Dùng phép suy luận để tìm ra cái sai của luận điểm cần phải bác bỏ

- Bác bỏ luận cứ: là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lí lẽ và dẫn chứng

được sử dụng

- Bác bỏ lập luận: là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic trong

lập luận của người tạo lập văn bản, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận

Ba cách bác bỏ trên đây được tách ra để thuyết minh cho dễ hiểu, trong thực

tế chúng lại liên kết với nhau rất chặt chẽ Mục đích cao nhất của bác bỏ là bảo

vệ chân lí, lẽ phải Xa rời mục đích này, bác bỏ sẽ trở thành ngụy biện, vô bổ và

có hại

Khi bác bỏ ý kiến nào đó không phải chỉ đơn giản là tuyên bố ý kiến đó sai lầm, mà quan trọng là phải có lập luận đầy đủ để chứng minh là nó sai thì mới thuyết phục được người đọc, người nghe Muốn bác bỏ ý kiến đó sai, trước hết phải trích dẫn ý kiến đó một cách đầy đủ, khách quan và trung thực Sau đó người viết phải làm sáng tỏ hai phương diện: ý kiến đó sai ở chỗ nào và vì sao như thế lại là sai

Để tìm hiểu vì sao ý kiến đó lại sai lầm thì chúng ta phải dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích, lí giải nguyên nhân sai lầm của ý kiến Khi sử dụng thao tác lập luận bác bỏ chúng ta dựa vào mức độ đúng, sai của các ý kiến mà vận dụng thao tác này cho thích hợp và đưa ra kết quả thỏa đáng

* Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn nghị luận

Văn nghị luận chủ yếu dùng các thao tác: chứng minh, giải thích, phân tích,

so sánh, bác bỏ, bình luận Mỗi thao tác đều nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể Trong thực tế, Làm văn nghị luận rất hiếm trường hợp chỉ sử dụng một thao tác tai lieu, document9 of 66.

Trang 10

lập luận duy nhất Bởi vậy, cần biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận Tùy thuộc vào vấn đề, vào đối tượng tiếp nhận mà người viết có thể chọn một số thao tác nhất định Việc lựa chọn này tùy thuộc vào mục đích bàn luận Để người đọc (nghe) bước đầu nhận diện được vấn đề, người viết (nói) phải dùng thao tác giải thích; Nhưng muốn hiểu vấn đề một cách cặn kẽ (hiểu và tin) thì phải dùng phân tích, chứng minh Cần đề xuất ý kiến thì phải dùng thao tác bình luận Ttrong một đoạn văn, một bài văn nghị luận sẽ có một hoặc hai thao tác chính có vai trò nòng cốt tạo nên mạch lập luận của vấn đề đưa ra để nghị luận và những thao tác phối hợp giúp cho lập luận được chặt chẽ sinh động, có nhiều chiều

Thao tác lập luận bác bỏ là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống các thao tác lập luận Bởi trong thực tế, cái đúng, cái sai không tồn tại cách biệt nhau Trong các ý kiến, có ý kiến đúng, có ý kiến sai, trường hợp này đúng, trường hợp kia sai; Có ý kiến mặt này đúng nhưng mặt kia sai Phải tùy theo tính chất đúng, sai của các ý kiến mà vận dụng thao tác lập luận bác bỏ cho thích hợp và nêu ra kết quả thỏa đáng Nói quá hoặc nói chưa tới là tự biến ý kiến của mình thành đối tượng để người khác phê phán, bác bỏ Để ý kiến được chấp nhận, thuyết phục được người khác, bác bỏ phải được thực hiện một cách trung thực, có mức

độ và đúng quy cách

c.1.4 Kỹ năng và sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

* Quan niệm về kỹ năng

- Kỹ năng

Theo Từ điển tiếng Việt: kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức

vào một lĩnh vực nào đó trong thực tế

Trong Tâm lí học, kỹ năng được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là vấn đề hình thành kỹ năng, cùng với đó là sự song song tồn tại nhiều luồng quan điểm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng: Kỹ năng được hình thành trong hoạt động A.N.Leonchiev đã mô tả mô hình cấu trúc của hoạt động như sau: Hoạt động <-> hành động<->thao tác và tương ứng chúng là các yếu tố khách quan: đối tượng (động cơ)<-> mục đích <-> phương tiện (điều kiện)

Như vậy, kỹ năng được hình thành thông qua việc kết hợp giữa hành động, sự nhận thức về mục tiêu hành động và giữa mức độ thực hiện hành động

- Kỹ xảo

Theo Từ điển tiếng Việt: kỹ xảo là hành động tự động hóa nhờ luyện tập

Trong Tâm lí học, kỹ xảo cũng được nghiên cứu khá nhiều Có người hiểu

kỹ năng là những nấc thang đầu, còn kỹ xảo là những nấc thang cuối Nhưng cũng tai lieu, document10 of 66.

Trang 11

có người hiểu là kỹ xảo là thành tố của kỹ năng, là những yếu tố của kỹ năng đã được tự động hóa

Như vậy về cơ bản, kỹ năng mang tính chất máy móc, còn kỹ xảo mang tính chất tự động hóa Ranh giới giữa kỹ năng và kỹ xảo khó có thể chỉ ra một cách thật rạch ròi, dứt khoát trong thực tiễn dạy học Làm văn

* Quan niệm về hệ thống bài tập

Theo cách hiểu chung, hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các các yếu

tố có mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau Mỗi đối tượng trọn vẹn làm một hệ thống Nói đến hệ thống, cần phải nói đến hai điều kiện: tập hợp các yếu tố và những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó

Bài tập được hiểu theo nhiều cách Cách hiểu Bài tập là bài ra cho học sinh

để vận dụng những điều đã học chủ yếu phù hợp với các bài học lí thuyết, là loại

bài mà trong nội dung đã học, có sự phân biệt khá rạch ròi giữa lí thuyết và vận dụng (phần lí thuyết được dạy trước, phần vận dụng được dạy sau bằng một hệ thống bài tập) Bài tập ở bài học lí thuyết chủ yếu giúp học sinh nắm chắc khái niệm lí thuyết, củng cố các đơn vị kiến thức lí thuyết vừa học Còn bài tập trong bài thực hành chủ yếu giúp học sinh hình thành phát triển các kĩ năng Nói cách khác, ở bài học thực hành, phần việc chủ yếu là tổ chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng bằng các bài tập thích hợp

Như vậy, hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận bác

bỏ cho học sinh phải được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa mang đầy đủ đặc trưng của một hệ thống: đó là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố (yếu tố ở đây là loại, kiểu, dạng bài tập) có liên quan với nhau và giá trị của một yếu tố được xác định bởi mối quan hệ giữa nó và các yếu tố khác trong cùng hệ thống Giống như các trường hợp khác, hệ thống bài tập về thao tác lập luận bác bỏ cũng có tính cấp bậc: loại ( bậc 1), kiểu (bậc 2), dạng (bậc 3)…

* Sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

Tâm lí học hiện đại đã kết luận: chỉ trong hoạt động thì kỹ năng mới được hình thành và phát triển Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu hoạt động để đạt tới kết quả nào đó Nếu làm một loại bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được kĩ năng tương ứng Như vậy, có thể coi bài tập là phương tiện, kỹ năng là mục đích trọng yếu, chủ yếu cần đạt tới Bài tập là yếu tố không thể thiếu và có vị trí, vai trò rất quan trọng

Như đã phân tích ở trên, kỹ năng kỹ xảo là sự vận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, là năng lực thực hiện để đạt được kết quả đã đề ra Do đó muốn có kỹ năng trước hết ta phải có tri thức về một tai lieu, document11 of 66.

Trang 12

lĩnh vực nào đó và phải trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động và phải luyện tập nhiều lần để đạt được kết quả như mong muốn

Hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ cho học sinh trung học phổ thông được đề cập tới ở đây là loại bài tập được sử dụng trong bài học

lí thuyết và cả bài học thực hành Qua các bài tập, giáo viên giúp học sinh hình thành

và phát triển kỹ năng lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

c.2 Cơ sở thực tiễn:

Lâu nay trong chương trình sách Làm văn ít chú ý đề cập tới thao tác lập

luận bác bỏ Nay được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2 và được coi như

một trong những thao tác chính được trang bị lí thuyết và thực hành

Thao tác lập luận bác bỏ được triển khai trong chương trình sách giáo khoa

Ngữ văn lớp 11, tập 2 bao gồm các tiết học cụ thể:

- Về lí thuyết: 01 bài: "Thao tác lập luận bác bỏ"

- Về thực hành: 01 bài: "Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ"

Về số lượng bài tập trong SGK bao gồm có 5 bài, trong đó:

- Bài tập nhận diện : 2 bài - chiếm 40%

- Bài tập tạo lập: 3 bài - chiếm 60%

Để các dạng bài tập trong sáng kiến không xa lạ với học sinh, tác giả tiến hành khảo sát SGK Ngữ văn trong nhà trường Qua khảo sát, chúng tôi rút ra được một số nhận định bước đầu như sau:

Một là, các bài tập trong sách vừa mang tính chất củng cố lí thuyết vừa mang tính chất cung cấp các kỹ năng tạo lập đoạn văn sử dụng thao tác lập luận bác bỏ Bởi vậy, hướng đề xuất bài tập trong sáng kiến cũng cần phù hợp với đặc điểm này

Hai là, các loại bài tập trong SGK chưa đa dạng, số lượng ít Vì vậy, chúng

ta vẫn có thể đưa thêm những bài tập mới để giáo viên có thể tham khảo và đưa

ra những bài tập phong phú hơn, giúp các em học sinh có thêm nhiều ngữ liệu mới trong quá trình học thao tác lập luận này

d Kết quả khi thực hiện giải pháp:

- Về phía giáo viên: hạn chế được rất nhiều tình trạng giáo viên thuyết giảng

lí thuyết khô khan, rập khuôn, máy móc trong các giờ Làm văn Giáo viên chú trọng nhiều hơn đến việc rèn luyện kỹ năng, vận dụng thao tác lập luận cho học sinh một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn, và thành công hơn cả là giáo viên đã giúp học sinh tiếp cận với cuộc sống thực tế một cách tinh tế; để học sinh là những chủ thể chiếm lĩnh tri thức một cách thực sự, tạo cho học sinh những động cơ hứng thú với phân môn Làm văn

tai lieu, document12 of 66.

Trang 13

- Về phía học sinh: có hiểu biết đầy đủ về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của thao tác Học sinh hào hứng với bài học, chủ động khám phá bài học, liên hệ và gắn bài học với thực tế viết bài, với các môn học khác khi tranh biện và thực tế cuộc sống.

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp

c.1 Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nói trên của bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, hệ thống bài tập này phải được biên soạn, xây dựng dựa trên các nguyên tắc nhất định Đó là những nguyên tắc cơ bản sau:

c.1.1 Nguyên tắc khoa học

Tính khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập trước hết đòi hỏi bài tập phải đảm bảo tính chính xác khoa học, đồng thời còn đòi hỏi sự thống nhất, tránh mâu thuẫn giữa nội bộ kiến thức bài tập với các kiến thức được trình bày Các kiến thức trang bị cho học sinh phải là những kiến thức cơ sở của thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Tính khoa học còn đòi hỏi các bài tập đưa ra phải mang tính rõ ràng, rành mạch, phù hợp với lí luận dạy học nhằm phát huy tính chủ thể ở học sinh Cách trình bày bài tập sao cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi, tâm tai lieu, document13 of 66.

Trang 14

lí tiếp nhận và quá trình nhận thức của học sinh, phục vụ đắc lực cho bài giảng

của giáo viên về thao tác lập luận bác bỏ

Bài tập trang bị cho học sinh phải là những bài tập cơ bản giúp học sinh tìm hiểu cách thức làm bài văn nghị luận có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, đồng thời phải hình thành được ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo làm bài văn nghị luận

cơ sở khoa học và mang tính tự nhiên, chứ không hoàn toàn là sự bày đặt, khiên cưỡng Theo tinh thần đó, như bất cứ một hệ thống nào khác, hệ thống bài tập rèn

kĩ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh trung học phổ thông mà đề tài xây dựng, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các kiểu bài tập trong các tài liệu trước, cũng mang đầy đủ đặc trưng của một hệ thống: đó là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố (yếu tố ở đây là nhóm, loại bài tập) có liên quan với nhau và giá trị của nó được xác định bởi quan hệ giữa nó và các yếu tố khác trong cùng hệ thống Những mối liên quan giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống không phải đơn tuyến, một chiều, theo đường thẳng mà tác động lẫn nhau theo nhiều chiều

Nguyên tắc khoa học luôn liên hệ mật thiết với nguyên tắc hệ thống Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống yêu cầu phải đưa các bài tập một cách toàn diện theo một thứ tự hợp lí và nêu được mối quan hệ giữa chúng, đi từ bài tập dễ đến bài tập khó Bởi mục đích xây dựng hệ thống bài tập là nhằm củng cố kiến thức và khái niệm, yêu cầu và cách thức làm bài văn nghị luận

c.1.3 Nguyên tắc vừa sức

Hiện nay có nhiều quan điểm về sức của học sinh "Sức" không phải được chấp nhận như một chỉ số cố định, đồng loạt cho mọi đối tượng, mọi địa bàn, mọi thời đại… "Sức" là cái luôn biến đổi và có sự vận động Vì vậy, đưa ra hệ thống bài tập cần chú ý tới sức của học sinh (tính vừa sức)

tai lieu, document14 of 66.

Trang 15

Tính vừa sức (học sinh) được hiểu là các bài tập đưa ra phải phù hợp với trình độ tri thức và trình độ nhận thức của học sinh

Nếu bài tập quá dễ sẽ không phát huy được tính sáng tạo của các em Nếu bài tập quá khó các em sẽ không đủ kiến thức để giải quyết các bài tập

Học sinh ở mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm lí riêng trong quá trình tiếp thu kiến thức và kĩ năng mới Mặt khác, ở cùng một tập thể học sinh trình độ nhận thức của các em cũng khác nhau vì vậy phải lựa chọn các bài tập khác nhau, giáo viên phải xuất phát từ thực tế trình độ nhận thức của các em để đưa ra các dạng bài tập phù hợp, gây được hứng thú cho các em

Tuân theo nguyên tắc này, người giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lí của các em, nắm chắc trình độ kiến thức của học sinh để đưa ra những bài tập, để hình thành kỹ năng mới cho các em

Để có thể ứng dụng vào thực tế dạy học, hệ thống bài tập không thể không dựa vào nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh

c.1.4 Nguyên tắc tích hợp

Tích hợp nghĩa là tổng hợp một đơn vị học, một tiết học hay một bài tập… nhiều mảng kiến thức liên quan tới nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học

Tích hợp dọc là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau Đây là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề trong từng phân môn, cụ thể đó là hướng tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp), giữa các vấn đề trong cùng một phân môn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp, giữa lớp trước và lớp sau thậm chí giữa các cấp học Đó là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mối liên

hệ theo kiểu xâu chuỗi, móc xích một cách chặt chẽ Khi xây dựng hệ thống bài tập cần tận dụng tất cả những hiểu biết lí thuyết về Làm văn mà học sinh đã được học ở lớp dưới để xây dựng bài tập

Tích hợp ngang là dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề Nói cụ thể thì tích hợp ngang được hiểu là tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời điểm Nói cụ thể hơn đó là sự khai thác triệt để mối liên hệ kiến thức giữa các phần Văn, tiếng Việt và Làm văn trong từng đơn vị bài học, cũng

có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau

Chương trình Làm văn ở THPT được xây dựng theo quan điểm tích hợp trong đó có thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Bởi vậy, hệ thống bài tai lieu, document15 of 66.

Trang 16

tập được đưa vào đề tài phải đảm bảo tích hợp được các thao tác lập luận khác trong văn nghị luận

Tính tích hợp là đặc trưng nổi bật của dạy học Làm văn trong quá trình đổi mới Vì vậy khi xây dựng hệ thống bài tập cần chú ý tới nguyên tắc này

c.2 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

c.2.1 Giới thiệu khái quát bài tập

Sáng kiến chia hệ thống bài tập thành hai nhóm:

- Nhóm 1: Bài tập nhận diện

- Nhóm 2: Bài tập tạo lập

Cơ sở để phân nhóm chủ yếu dựa vào mục đích, tác dụng của bài tập (tạm gọi là đích bài tập) Cụ thể, đích của nhóm bài tập 1 là giúp học sinh hiểu được thao tác lập luận bác bỏ, trước hết ta phải nhận diện được thao tác lập luận bác bỏ cũng như cách thức lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Đích của nhóm bài tập 2

là trong việc luyện tập thực hành thao tác lập luận bác bỏ, chúng ta cũng phải biết cách tạo lập một văn bản có sử dụng thao tác này Hệ thống bài tập này vừa giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nhận diện thao tác lập luận bác bỏ, đồng thời rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

Ở mỗi nhóm, các bài tập được chia thành nhiều loại Cụ thể, ở nhóm 1, căn

cứ vào những đặc điểm cần nhận diện của thao tác lập luận bác bỏ, các bài tập chia thành hai loại: bài tập nhận diện yếu tố bị bác bỏ và bài tập nhận diện cách thức bác bỏ Ở nhóm 2, căn cứ vào các cách thức bác bỏ và các kỹ năng cần được hình thành, bài tập được chia thành sáu loại: bài tập viết đoạn văn bác bỏ một luận điểm, viết đoạn văn bác bỏ một luận cứ, viết đoạn văn bác bỏ một lập luận, viết đoạn văn theo cách thức nêu cái sai chỉ ra nguyên nhân, viết đoạn văn theo cách thức nêu dẫn chứng chỉ ra cái sai, viết đoạn văn theo cách thức dùng lí lẽ bác bỏ kết hợp so sánh

Như vậy, ở mỗi nhóm bài tập có một tiêu chí phân loại riêng, bởi vì mỗi

nhóm có đặc trưng riêng, mục đích riêng, tác dụng riêng

Trang 17

bài tập này là ngắn gọn, rõ ràng, khoa học Bài tập giúp học sinh tái hiện tri thức một cách dễ dàng, nhớ lâu những kiến thức mà học sinh nắm bắt được trong quá trình học tập

Đây là loại bài tập cho sẵn ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận diện các yếu tố bị bác bỏ, cách thức bác bỏ trong đoạn văn… nói chung là nhận biết thao tác lập luận bác bỏ có trong ngữ liệu

Bên cạnh đó, bài tập nhận diện còn yêu cầu học sinh phải dựa vào những đặc trưng cơ bản của thao tác lập luận bác bỏ, có thể bỏ qua những biểu hiện chi tiết, để nhận diện, phân tích đoạn văn sử dụng thao tác lập luận nào, từ đó củng

cố thêm khái niệm và cách thức bác bỏ của bài văn nghị luận

- Cấu tạo

Loại bài tập này thường có 2 phần: phần trình bày yêu cầu và phần dẫn ngữ liệu Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, cho biết, phân tích, tìm hiểu… Đồng thời có thể thêm một số yêu cầu khác

- Mục đích của bài tập

Bài tập nhận diện có tác dụng làm sáng tỏ, củng cố các kiến thức về lí thuyết của thao tác lập luận bác bỏ Giúp học sinh nắm được các yếu tố bị bác bỏ cũng như cách thức bác bỏ trong bài văn nghị luận Cụ thể phải hiểu được:

+ Bác bỏ là gì?

+ Các yếu tố bị bác bỏ?

+ Các cách thức bác bỏ?

Từ lập luận cho sẵn nhận ra các yếu tố bị bác bỏ trong lập luận đó

Nhận ra chính xác cách thức lập luận được sử dụng trong đoạn văn đó

Ví dụ minh họa:

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Huyền Đức lại nói:

- … Viên Thiệu ở Hà Bắc, bốn đời làm tam công, có nhiều đầy tớ cũ; hiện nay như con hổ dữ hùng cứ ở Kí Châu; bộ hạ nhiều tay tài giỏi, có thể cho là anh hùng được chăng?

Tháo lại cười nói:

- Viên Thiệu ngoài mặt mạnh bạo, trong bụng nhút nhát, thích mưu mẹo

mà không quyết đoán, làm việc lớn lại lo đến bản thân, thấy lợi nhỏ thì lại quên mình, không thể gọi là anh hùng được

( Tào Tháo uống rượu luận anh hùng, SGK Ngữ văn 10, tập 2)

+ Đoạn văn bản trên nói về vấn đề gì?

+ Luận điểm nào bị bác bỏ và bác bỏ bằng cách nào?

tai lieu, document17 of 66.

Trang 18

* Cách thức hướng dẫn chung

Với loại bài tập này, khi thực hành, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện yếu tố bị bác bỏ cũng như cách thức bác bỏ thông qua những kiến thức về khái niệm, yêu cầu và cách thức của thao tác lập luận bác bỏ

- Bước 1: Đọc kĩ đề bài, xác định yêu cầu chính của đề bài

- Bước 2: Ghi lại những vấn đề quan trọng, vận dụng kiến thức lí thuyết vào nhận diện các yếu tố, cách thức bác bỏ có trong đoạn văn: bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ lập luận

- Bước 3: Kiểm tra độ chính xác của bài tập, sửa chữa kịp thời (đối chiếu yếu tố được nhận diện với lí thuyết đã học)

Ví dụ: Vấn đề nào bị bác bỏ trong đoạn văn sau? Người nói (viết) đã bác

(Theo Lã Nguyên, Đây thôn Vĩ Dạ, trong sách Giảng văn chọn lọc văn

học Việt Nam,Trần Đình Sử (tuyển chọn), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003)

Hướng dẫn:

- Bước 1: Đọc đề bài, xác định yêu cầu của đề bài: yêu cầu phân tích ngữ liệu, tìm ra yếu tố bị bác bỏ và cách thức bác bỏ

- Bước 2: Ghi lại những vấn đề quan trọng?

+ Thao tác lập luận: thao tác bác bỏ

+ Yếu tố bị bác bỏ: có nhiều từ chỉ địa danh khiến nhiều người bình giảng nghĩ rằng đó là bức tranh tả thực vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ, vùng nông thôn ngoại ô Huế

+ Cách bác bỏ: bác bỏ luận điểm (dùng suy luận và thực tế để bác bỏ)

- Bước 3: Đối chiếu kết quả và sửa chữa những lỗi sai (đối chiếu với kiến thức lí thuyết như: thao tác bác bỏ là gì? Luận điểm là gì? Luận điểm đó có sai hay không? Luận điểm có cần phải bác bỏ hay không? )

* Một số dạng bài tập nhận diện

- Bài tập nhận diện yếu tố bị bác bỏ

tai lieu, document18 of 66.

Trang 19

Đây là bài tập cho trước ngữ liệu (đoạn văn) trong đó có chứa thao tác lập luận bác bỏ, từ đó yêu cầu học sinh phát hiện, chỉ ra yếu tố bị gạt bỏ (luận

điểm, luận cứ, lập luận sai lệch, thiếu chính xác)

Như vậy, kiểu bài tập này có thể đưa về những dạng cụ thể: nhận diện luận điểm bị bác bỏ, nhận diện luận cứ bị bác bỏ, nhận diện lập luận bị bác bỏ

+ Loại thứ nhất: luận điểm bị bác bỏ

Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh nhận biết luận điểm bị bác bỏ trong lập luận

Với bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về luận điểm cũng như thao tác lập luận bác bỏ:

Thế nào là luận điểm? Luận điểm là tư tưởng, quan điểm của người viết với vấn đề nghị luận trong bài văn, được thể hiện dưới hình thức những câu văn khẳng định hay phủ định

Thế nào là bác bỏ một luận điểm? Bác bỏ luận điểm là chỉ ra ý kiến, quan điểm sai lầm qua hai phương thức chính là dùng thực tế và dùng suy luận

Dùng thực tế bác bỏ tức tìm ra những điểm trái với thực tế đời sống hoặc văn học

Dùng phép suy luận để tìm ra cái sai của luận điểm cần phải bác bỏ được bộc lộ đầy đủ

Trong một lập luận thường có cấu tạo bao gồm ba yếu tố: luận điểm, luận

cứ, lập luận Khi luận điểm (ý chính) bị bác bỏ, Người viết phải đưa ra những lí

lẽ và dẫn chứng phù hợp nhằm thuyết phục người đọc nhận ra cái sai trong luận điểm đó

Khi thực hiện bài tập, trước hết giáo viên phải yêu cầu học sinh xác định ý chính của đoạn văn (luận điểm) và tìm hiểu ý chính đó nói về vấn đề gì? Sai hay đúng? Và người viết đã sử dụng những lí lẽ và dẫn chứng như thế nào để bác bỏ luận điểm đó

Ví dụ minh họa:

Đọc đoạn văn sau và cho biết yếu tố nào bị bác bỏ:

Có người nói: “Đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy là không cần thiết” Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm Đội mũ bảo hiểm giúp bảo vệ chính bản thân người đội mũ khi đi lại trên đường nếu chẳng may gặp phải tai nạn rủi ro Các số liệu thống kê cũng cho thấy đội mũ bảo hiểm giúp giảm 30% thương vong do chấn thương sọ não trong các vụ tai nạn giao thông Vì vậy việc đội mũ bảo hiểm khi

đi xe máy là hết sức cần thiết

tai lieu, document19 of 66.

Trang 20

Ở đoạn văn trên, người viết đã bác bỏ quan điểm : Đội mũ bảo hiểm khi đi

xe máy là không cần thiết Đây là một quan niệm sai lầm, cần phải loại bỏ trong

suy nghĩ của mỗi người, đặc biệt là đối với giới trẻ hiện nay Người viết đã dùng thực tế để bác bỏ (số liệu thống kê cũng cho thấy đội mũ bảo hiểm giúp giảm 30% thương vong do chấn thương sọ não trong các vụ tai nạn giao thông), bằng những câu khẳng định nhằm nhấn mạnh và khẳng định chắc chắn đó là một quan niệm sai lầm Vì vậy, đây là bác bỏ luận điểm

+ Loại thứ hai: luận cứ bị bác bỏ

Tương tự như bài tập nhận diện luận điểm bị bác bỏ, bài tập nhận diện luận

cứ bị bác bỏ yêu cầu học sinh nhận ra những luận cứ sai lầm trong lập luận

Với bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về luận cứ:

Luận cứ là gì? Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa nhận Dùng làm sáng tỏ luận điểm cũng như làm cơ sở, chỗ dựa cho việc rút ra kết luận

Thế nào là bác bỏ luận cứ? Bác bỏ luận cứ là vạch ra tính chất sai lầm giả tạo trong lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng

Với loại bài tập này, học sinh nhận ra những luận cứ không chính xác trong lập luận : luận cứ sai lầm, mâu thuẫn, thiếu tính thuyết phục bị bác bỏ và người viết đã vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong luận cứ đó như thế nào ?

Ví dụ minh họa:

Cho đoạn văn sau :

Nhiều đồng bào của chúng ta, để biện minh cho việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình còn nghèo nàn Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào Ngôn ngữ của Nguyễn

Du nghèo hay giàu?

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người ?

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức)

Yếu tố nào bị bác bỏ trong đoạn văn trên?

Ở ngữ liệu trên, tác giả bác bỏ luận cứ tiếng nước mình còn nghèo nàn bằng cách phê phán trực tiếp: lời trách cứ này không có cơ sở nào cả, từ đó phân tích bằng lí lẽ và dẫn chứng, tìm nguyên nhân của luận cứ sai lệch (đó là do sự bất tài

tai lieu, document20 of 66.

Trang 21

của con người chứ không phải do tiếng nước mình còn nghèo nàn) Như vậy, đây

là một lập luận bị bác bỏ luận cứ

+ Loại thứ ba: lập luận bị bác bỏ

Với dạng bài tập này, giáo viên hướng học sinh nắm được các kiến thức lí thuyết như: Lập luận là gì? Thế nào là lập luận bị bác bỏ?

Lập luận là đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đó mà người viết, người nói muốn hướng tới

Bác bỏ lập luận là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic trong lập luận, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận

Ví dụ minh họa:

Cho đoạn văn sau:

Khởi đầu chương VI, nói về cá tính Nguyễn Du ta đọc thấy: "Trước hết ta phải ghi điều nhận xét quan trọng này: Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh" (tr 20) rồi xa một chút ít: " một cảnh đêm thu, trong một túp lều, dưới một ngon đồi, thi nhân đang quằn quại trên giường, vì bệnh thần kinh của mình" (tr 131)

Ta tự hỏi: Tác giả căn cứ vào đâu mà biết như vậy rằng Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh, một thứ "bệnh thần kinh không có sự tổn thương về khí quan"? Căn cứ vào những chứng ngôn của người cùng thời với Nguyễn Du, hay vào những di bút của thi sĩ? Không thế đâu Về di bút của Nguyễn Du, tác giả có dẫn mấy câu trích bài "Mạn hứng", bài " U cư", nhưng những câu đó chỉ nói rằng Nguyễn Du mắc bệnh thôi, chứ không nói là Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh Pa-xcan cũng là người mắc bệnh, mà tư tưởng ông vẫn sáng suốt và khỏe mạnh phi thường Tác giả đã căn cứ vào cái khiếu ảo giác của Nguyễn Du, biểu thị ra ở bài Văn tế thập loại chúng sinh và mấy bài thơ khác nữa Tác giả cho ra rằng Nguyễn Du nhìn thấy ma quỷ thực (ở bài "Lam giang") chứ không phải thấy chúng trong tưởng tượng Căn cứ vào mấy bài thơ mà quyết đoán rằng người làm ra nó mắc chứng bệnh loạn thần kinh đến nỗi luôn luôn trông thấy ảo hình, đã là một sự quá bạo Gia dĩ tác giả lại không đem bằng chứng nào khác nữa để bênh vực thuyết của ông ngoài cái lòng tin quả quyết của ông Để chứng minh rằng một người trông thấy ma quỷ thực mà vẫn dẫn mấy câu tựa như: "Dĩ ngạn băng bạo lôi - Hồng đào kiến kì quỷ", thì lối lập luận ấy có khoa học không? Nếu không có bằng chứng

gì khác mấy bài thơ tả sợ hãi và sầu muộn của Nguyễn Du, thì cái mà tác giả bảo

là ảo giác, ta cho là tưởng tượng của một nghệ sĩ Có những thi sĩ Anh Cát Lợi,

Na Uy, Đan Mạch thường sẵn thứ tưởng tượng kì dị, có khi quái dị ấy Thiết tưởng một người bạn ngày trông thấy ma quỷ, ban đêm trông thấy âm hồn, tất phải là

tai lieu, document21 of 66.

Trang 22

người có Bộ thần kinh rối loạn và khủng hoảng tới cực độ và người ấy không tài nào có được cái nghệ thuật minh mẫu của kẻ tạo ra "Truyện Kiều"

(Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lí trí, NXB Văn học, Hà Nội, 1996)

Nội dung bị bác bỏ của lập luận: Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh Ở

đây tác giả chỉ ra những suy diễn vô căn cứ trong lập luận (mắc bệnh trong U cư,

Mạn hứng; khiếu ảo giác trong Văn tế thập loại chúng sinh; mấy bài thơ tả nỗi

sầu muộn và sợ hãi) mà đã quyết rằng Nguyễn Du mắc chứng bệnh thần kinh Bên cạnh đó, tác giả so sánh lối viết đó của Nguyễn Du với một số thi sĩ nước

ngoài có lối viết tương tự nhằm khẳng định đó không phải là "ảo giác" mà là trí

tưởng tượng của người nghệ sĩ Kết hợp với một số câu hỏi tu từ như thì lối lập luận ấy có khoa học không ? Từ đó một lần nữa khẳng định lập luận cho rằng

Nguyễn Du bị mắc chứng bệnh thần kinh là hoàn toàn sai lầm

Đây là thao tác bác bỏ một lập luận

Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu: cách thức lập luận là gì?

Và cách thức bác bỏ trong văn nghị luận là gì? Từ đó hướng tới việc tìm hiểu các cách thức bác bỏ

Cách thức lập luận: là cách trình bày, tổ chức, liên kết các luận cứ, luận chứng theo những cách thức, suy luận nào đó để dẫn đến một kết luận và làm nổi bật kết luận

Cách thức bác bỏ trong văn nghị luận là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ luận chứng theo các cách thức như nêu tác hại, chỉ nguyên nhân; phân tích những khía cạnh sai lầm của lập luận Từ đó bác bỏ những ý kiến sai lầm, phiến diện, bảo vệ những quan điểm, ý kiến đúng đắn

Nhận diện cách thức bác bỏ là chỉ ra cách thức nghị luận bác bỏ được sử dụng trong đoạn văn, bài văn nghị luận

Một số dạng bài tập nhận diện thường gặp:

+ Loại thứ nhất: bác bỏ bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Cách thức bác bỏ nêu tác hại, chỉ nguyên nhân là cách thức lập luận xuất phát từ việc chỉ ra tác hại của quan niệm sai trái, và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến cách nhìn nhận sai lầm đó Với cách thức này, lập luận thường được triển khai theo hướng nêu nhận định, ý kiến quan niệm cần bác bỏ, sau đó đi từ việc phân tai lieu, document22 of 66.

Trang 23

tích tác hại của quan niệm đến nguyên nhân dẫn đến cách nhìn nhận như vậy bằng

lí lẽ và dẫn chứng khoa học

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Có người bảo "Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi !" Xin đáp lại: hút thuốc là quyền của anh, nhưng anh không có quyền đầu độc những người gần anh Anh uống rượu say mèm, anh làm anh chịu Nhưng hút thuốc thì người gần anh cũng hít phải luồng khói độc Điều này hàng nghìn công trình nghiên cứu đã chứng minh rất rõ

Vợ con, những người làm việc cùng phòng với những người nghiện thuốc cũng bị nhiễm độc, cũng đau tim mạch, viêm phế quản, cũng bị ung thư Anh có quyền hút, nhưng có mặt người khác, xin mời anh ra ngoài sân, ngoài hành lang

mà hút

Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm độc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu Hút thuốc cạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác

Bố và anh hút, chú bác hút không những đầu độc con em mà còn nêu gương xấu

(Nguyễn Khắc Viện, Ôn dịch, thuốc lá)

Đoạn văn trên bác bỏ bằng cách nào?

Ở ngữ liệu trên, người viết bác bỏ ý kiến: tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi Cách

bác bỏ tác giả sử dụng ở đây là nêu tác hại, chỉ nguyên nhân sai lầm của quan điểm đó Trước hết, tác giả đưa ra sự so sánh giữa tác hại của rượu và tác hại của thuốc lá: uống rượu thì chỉ người uống chịu, còn hút thuốc lá thì những người ở gần người hút cũng hít phải luồng khói độc Từ đó, ông phân tích tác hại do những người hút thuốc lá gây ra: đầu độc, gây bệnh cho những người xung quanh, làm nhiễm độc, suy yếu thai nhi, nêu gương xấu cho con trẻ Cách thức bác bỏ này giúp cho người đọc thấy được tác hại của việc suy nghĩ sai lầm, từ đó đi đến những hành động có trách nhiệm hơn (bỏ thuốc lá, hoặc không hút thuốc ở nơi công cộng )

+ Loại thứ hai: bác bỏ bằng cách chỉ ra những khía cạnh sai lầm của lập luận:

Phân tích những khía cạnh sai lầm chính là việc tìm ra những khía cạnh sai trái của luận điểm, luận cứ, lập luận từ đó phân tích mặt sai, mặt đúng của những khía cạnh đó và đi tới kết luận

Ví dụ minh họa

tai lieu, document23 of 66.

Trang 24

Cho ngữ liệu sau:

Trong lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975, khi đánh giá về Tự lực văn đoàn, không chỉ có những ý kiến khẳng định, đồng tình mà còn

có những ý kiến phản biện Xu hướng này thể hiện rõ trong cuộc thảo luận với chủ đề nhìn lại Văn nghệ Tiền chiến ở Việt Nam trên tạp chí Sáng Tạo số tháng 10/1960 Đó là ý kiến của Thanh Tâm Tuyền phê phán cái nhìn hạn hẹp của các nhà văn Tự lực văn đoàn trong việc phản ánh đời sống xã hội Theo ông: “Các nhà văn Tự lực văn đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình, cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp.”[…]

Như vậy, trong suy nghĩ của Thanh Tâm Tuyền thì nhãn quan của các nhà văn Tự lực văn đoàn chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình cá nhân mà chưa nhìn thấy được sự tất yếu phải đến của một cuộc cách mạng xã hội Nhận định này, theo chúng tôi là chưa thỏa đáng Bởi lẻ, thông qua tác phẩm của mình, các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng đã dự báo về những đổi thay của xã hội lúc bấy giờ Những đổi thay ấy, tuy chưa phải là những đổi thay mang tính cách mạng theo nghĩa tích cực mà nhiều khi còn rơi vào chủ nghĩa cải lương, nhưng dẫu sao những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết những xung đột cũ / mới , cá nhân / gia đình mà các tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn luận bàn cũng có những tác động nhất định đến những thay đổi về một số phương diện nào đó của đời sống

xã hội lúc bây giờ Và đây cũng là một trong những nhân tố góp phần đổi mới và hiện đại hóa văn học, làm tiền đề cho sự phát triển của văn học Việt Nam vốn đã ngủ quá lâu trong lũy tre làng của nền văn học trung đại để bước đầu hội nhập vào nền văn học hiện đại của thế giới

(Theo Trần Hoài Anh – ĐH Văn Hóa TP.Hồ Chí Minh )

Ngữ liệu trên bác bỏ vấn đề gì và cho biết tác giả đã dùng cách thức nào để bác bỏ?

Ở ngữ liệu trên, tác giả đã bác bỏ ý kiến cho rằng: Cái nhìn của các nhà văn

Tự lực văn đoàn là cái nhìn rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình, cá nhân, mà không

hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp Đây là một ý kiến chưa chính xác,

và tác giả đã phân tích các khía cạnh cho rằng Tự lực văn đoàn có cái nhìn hạn hẹp trong việc phản ánh đời sống Trước hết, đó là việc thông qua tác phẩm của mình thì Tự lực văn đoàn cũng đã có những dự báo về sự thay đổi của xã hội, mặc

dù nhiều khi rơi vào chủ nghĩa cải lương, nhưng cũng đã bàn tới việc giải quyết tai lieu, document24 of 66.

Trang 25

xung đột cũ, mới Và khẳng định đây là một nhân tố góp phần đổi mới văn học chứ không phải chỉ là cái nhìn hạn hẹp trong phạm vi gia đình, cá nhân

+ Loại thứ ba: bác bỏ bằng câu hỏi tu từ

Trước hết, để nhận diện được cách bác bỏ bằng câu hỏi tu từ, giáo viên cần gợi cho học sinh nhớ lại khái niệm câu hỏi tu từ đã được học ở trung học cơ sở,

từ đó phát hiện ra những câu hỏi tu từ có trong ngữ liệu

Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi không có mục đích hỏi, vì nội dung của nó đã bao hàm một ý trả lời, và biểu thị cảm xúc hoặc gợi liên tưởng Đối với câu hỏi

tu từ, hỏi chỉ là hình thức biểu hiện chứ không phải là mục đích

Như vậy, bác bỏ bằng cách nêu câu hỏi tu từ là cách thức lập luận đưa ra những luận điểm, luận cứ, lập luận sai lầm, từ đó nêu câu hỏi tu từ nhằm bác bỏ

ý kiến sai lầm của đối phương Cách bác bỏ này vừa chặt chẽ, vừa thể hiện sự sai lầm của đối phương trực tiếp trong câu hỏi, đồng thời cũng thể hiện được thái độ của người viết đối với quan niệm đó

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Trả lời những nhận định của Nhất Chi Mai về Số đỏ 1937 : Đọc xong một

đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối Không phải phẫn uất, khó chịu cái vết thương xã hội tả trong câu văn mà là vì cảm thấy tư tưởng hắc

ám, căm hờn, nhỏ nhen trong đó,Vũ Trọng Phụng đã viết:

Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bi quan, căm hờn cũng có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ "vui vẻ trung", trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ như các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỉ một cách đáng sỉ nhục

Còn bảo nhỏ nhen thì thế nào?

Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người

có nhiều tiền, kêu ca sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabrax (Mabrô), Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng nhỏ nhen ?

Trong ngữ liệu trên, Vũ Trọng Phụng đã bác bỏ ý kiến của Nhất Chi Mai bằng cách nào?

Ở đây, Vũ Trọng Phụng đã bác lại ý kiến của Nhất Chi Mai cho rằng trong

Số đỏ có tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen trong đó Cách bác bỏ ở đây chính

là tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ: Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa

hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca sự thống khổ của dân nghèo

tai lieu, document25 of 66.

Trang 26

bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabrax (Mabrô), Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng nhỏ nhen? Khi Nhất Chi Mai cho rằng cảm thấy tư tưởng nhỏ nhen

ở trong đó, tác giả đã đưa ra câu hỏi ngược lại đồng thời dẫn ra một số tác giả tiêu biểu khác trên thế giới như Huygô, Macxim Gorki, Cách sử dụng câu hỏi tu từ; dùng lí lẽ kết hợp so sánh đã làm cho lập luận có sức thuyết phục

+ Loại thứ tư: bác bỏ bằng phân tích kết hợp so sánh

Bác bỏ bằng cách phân tích kết hợp so sánh là cách thức đưa ra ý kiến, quan điểm sai lầm, phân tích những sai lầm đó, so sánh với những quan điểm khác nhằm làm nổi bật quan điểm ý kiến đúng đắn, phê phán và thấy rõ cái sai trong luận điểm cần bác bỏ

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một

cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, gọn gàng và sạch sẽ Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm trong một thời gian dài, nhất

là lớp rào bao quanh không làm họ vướng mắt nữa Nhưng hễ có một cơn giông

tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất

kì một nơi hoang dại nào Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh như thế Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng, nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân , không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn

(Theo A.L Ghéc-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà

Nội, 1997)

Đoạn văn trên bác bỏ bằng cách nào?

Ngữ liệu trên, tác giả bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: cuộc sống bó hẹp

trong ngưỡng cửa của nhà mình Ghec-xen đã dùng lí lẽ bác bỏ trực tiếp, kết hợp

với so sánh (mảnh vườn rào kín - đại đương mênh mông bị bão táp nổi sóng) vừa bác bỏ, vừa nêu ý đúng, động viên người đọc làm theo

Cách bác bỏ này khiến đoạn văn sinh động, thân mật và có sức thuyết phục cao

c.2.2.2 Bài tập tạo lập

* Miêu tả bài tập

tai lieu, document26 of 66.

Trang 27

Bài tập tạo lập là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo nên sản phẩm theo yêu cầu nào đó Việc thực hiện bài tập này gắn với hoạt động viết văn hàng ngày của học sinh nhưng vẫn ở dạng luyện tập theo yêu cầu Đây là loại bài tập phát huy tư duy sáng tạo của học sinh, vừa củng cố lí thuyết thao tác lập luận bác

bỏ, vừa rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, rèn cho học sinh đầu óc phê phán cái xấu, đồng tình với cái tốt Loại bài tập này giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng viết văn, phục vụ cho các giờ Làm văn Và đây cũng chính là quá trình học sinh đi từ

lí thuyết tới thực hành

- Cấu tạo

Loại bài tập này không cho đoạn văn ngữ liệu như bài tập nhận diện mà chỉ

có yêu cầu về một số phương diện nào đó của sản phẩm: lập dàn ý, viết đoạn văn, viết bài văn có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ… Có thể có nhiều mức độ yêu cầu: từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Cho nên việc tạo lập sản phẩm phải luôn luôn chú ý để đáp ứng được các yêu cầu này Việc đáp ứng các yêu cầu cũng

là quá trình rèn luyện năng lực tư duy về phương diện đó

- Mục đích bài tập

Trong nhà trường, năng lực của học sinh được thể hiện rõ nhất qua quá trình tạo lập văn bản Vì vậy, kiểu bài tập tạo lập có vị trí rất quan trọng trong dạy học Làm văn Mục đích của việc luyện tập kiểu bài tập này nhằm rèn kỹ năng lập luận có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, phá vỡ thói quen tư duy một chiều, nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh

- Bước 1: giáo viên đưa bài tập, học sinh đọc và xác định yêu cầu đề bài

- Bước 2: Lập dàn ý sơ lược (hình thành ý, cố định hóa các ý, sắp xếp các

ý theo trình tự logic, hợp lí)

- Bước 3: Học sinh luyện tập, chuyển hóa dàn ý thành đoạn văn hoàn chỉnh

- Bước 4 : Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đoạn văn và nhận xét

tai lieu, document27 of 66.

Trang 28

- Bước 5: Cuối cùng giáo viên đánh giá lại việc sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong quá trình tạo lập văn bản cho học sinh Điều chỉnh những chỗ chưa phù hợp hoặc bổ sung những chỗ còn thiếu trong bài văn của các em

Vậy để thực hiện kiểu bài tập này, yêu cầu nhất thiết là phải tăng thời gian thực hành Mặt khác, giáo viên cũng phải căn cứ vào thời gian thực hành để lựa chọn cách ra những bài tập thích hợp với thời gian để không làm chậm tiến trình học tập

Để hướng dẫn học sinh chuẩn bị nói hoặc viết đoạn văn bác bỏ, giáo viên chú ý nhắc các em xem kĩ lại đoạn nói, viết sao cho luận cứ sáng sủa, rành mạch, sắp xếp hợp lí, dẫn chứng chuẩn mực, khoa học và chặt chẽ

tác lập luận bác bỏ để phản bác tư tưởng: chỉ có tiền tài và địa vị mới có hạnh

phúc Đây là một quan điểm không đúng cần phải tranh luận , phê phán theo

hướng: nêu rõ tư tưởng sai của câu nói, từ cái sai đó xây dựng một tư tưởng đúng

về hạnh phúc của con người

Bước 2: Lập dàn ý sơ lược: chú ý tập trung vào vấn đề cần bác bỏ, và bác

bỏ bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ kết hợp lí lẽ

Bước 3: Học sinh tiến hành tạo lập sản phẩm

Sau ba bước trên, cần kiểm tra xem sản phẩm tạo lập có đáp ứng đúng và

đủ các yêu cầu của bài luyện tập không Nếu sai sót thì cần tiến hành sửa chữa

* Một số dạng bài tập tạo lập

Bài tập này chủ yếu căn cứ vào nội dung luyện tập của thao tác thực hành Làm văn nói chung và thao tác lập luận bác bỏ nói riêng Dựa vào các phương diện nội dung cần luyện tập, các kỹ năng bộ phận cần hình thành, phát triển cho học sinh, đề tài chia bài tập vận dụng sáng tạo thành một số dạng nhỏ:

- Tạo lập đoạn văn (bài văn nghị luận) để bác bỏ một luận điểm, một luận cứ hay một lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Đây là loại bài tập giáo viên đưa ra ngữ liệu và yêu cầu học sinh tạo lập đoạn văn hay bài văn nghị luận sử dụng thao tác lập luận bác bỏ bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

tai lieu, document28 of 66.

Ngày đăng: 05/12/2021, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ,(2009), Thực hành Làm văn lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thực hành Làm văn lớp 11
Tác giả: Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
2. Lê A, Đình Cao (1992), Làm văn tập 1, 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Làm văn tập 1, 2
Tác giả: Lê A, Đình Cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
3. Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
5. Nguyễn Đức Dân, (1998), Lôgic và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lôgic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Triệu Truyền Đống, (1999), Phương pháp biện luận, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp biện luận
Tác giả: Triệu Truyền Đống
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
7. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức, (1991), Giáo dục học đại cương 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương 2
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
8. Lê Văn Hồng (chủ biên), (2007), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
9. Phan Trọng Luận (chủ biên), (2006), Thiết kế Ngữ văn lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thiết kế Ngữ văn lớp 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
10. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách giáo viên Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách Bài tập Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Bài tập Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
13. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 THPT
14. Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phòng (2000), Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT, NXB ĐHQG Hà Nội.tai lieu, document56 of 66.luan van, khoa luan 56 of 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phòng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội. tai lieu
Năm: 2000
15. Trần Đăng Suyền (1984), Từ điển văn học (tập 2), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (tập 2)
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1984
16. Trần Đình Sử (2001), Bàn về vấn đề dạy làm văn trong chương trình SGK ở THPT, Tạp trí ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về vấn đề dạy làm văn trong chương trình SGK ở THPT
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2001
17. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thanh Huyền (2001), Dạy và học nghị luận xã hội, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học nghị luận xã hội
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thanh Huyền
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
18. Lê Thánh Tông, Nguyễn Lệ Thu, Phương pháp làm bài văn nghị luận, NXB Đà Nẵng.tai lieu, document57 of 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp làm bài văn nghị luận
Nhà XB: NXB Đà Nẵng. tai lieu

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w