1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) giáo dục kỹ năng mềm thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm cho học sinh trường THCS linh đông quận thủ đức thành phố hồ chí minh

138 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

50 Chương 3 - ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM .... Bên cạnh đó, chú trọng đổi mới sinh

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VÕ NGỌC NỮ

GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM THÔNG QUA CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG, QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10/2014

S K C0 0 4 3 7 4

Trang 4

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC

Chức vụ, đơn vị công tác trước khi học tập, nghiên cứu: Giáo viên trường THCS Linh Đông, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 64 đường 13, KP1, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

4 Trình độ ngoại ngữ khác: Anh văn – B

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP

Từ 9/2003 đến nay Trường THCS Linh Đông Giáo viên

Ngày 01 tháng 10 năm 2014 Người khai ký tên

Võ Ngọc Nữ

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2014

Ký tên

Võ Ngọc Nữ

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn!

Người nghiên cứu xin chân thành cám ơn:

TS Phan Long đã tận tình hướng dẫn, định hướng và hết lòng giúp đỡ để người nghiên cứu hoàn thành đề tài

Quý Thầy Cô trong Hội đồng báo cáo chuyên đề 2 đã nhận xét, góp ý và khuyến nghị cho người nghiên cứu hoàn thiện đề tài

Quý Thầy, Cô Viện Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Sư Phạm

Kỹ thuật TP.HCM đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu

Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô và các em học sinh trường THCS Linh Đông đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài

Các Anh, Chị học viên lớp Cao học Giáo dục học 12B của trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật TP.HCM đã đóng góp ý kiến chân thành cho

đề tài của người nghiên cứu

VÕ NGỌC NỮ

Trang 7

MỤC LỤC

TRANG

Lý lịch khoa học i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục viii

Danh mục các chữ viết tắt xii

Danh mục các bảng xiii

Danh mục các hình xv

Danh mục các biểu đồ xvi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng - Khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

NỘI DUNG Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm 12

Trang 8

1.2.1 Kỹ năng 12

1.2.2 Kỹ năng mềm (soft skills) 12

1.2.3 Giáo dục kỹ năng mềm 14

1.2.4 Công tác chủ nhiệm 14

1.3 Phân biệt kỹ năng sống và kỹ năng mềm 16

1.4 Giáo dục kỹ năng mềm 17

1.4.1 Cơ sở khoa học 17

1.4.2 Công tác giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục phổ thông 20

1.5 Giáo dục KNM cho HS THCS 22

1.5.1 Mục tiêu của giáo dục KNM cho HS THCS 22

1.5.2 Nguyên tắc giáo dục KNM 23

1.5.3 Con đường hình thành KNM 24

1.5.4 Nội dung giáo dục KNM 25

1.5.5 Hình thức và phương pháp sử dụng trong giáo dục KNM cho HS THCS 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2 - THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH LỚP 8 TẠI TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG, QUẬN THỦ ĐỨC 36

2.1 Giới thiệu về trường THCS Linh Đông, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh 36

2.2 Giới thiệu về GV trong tổ Chủ nhiệm 37

2.3 Nội dung tích hợp giáo dục KNM cho HS THCS trong tiết SHCN và NGLL 38

2.4 Thực trạng giáo dục KNM tại trường THCS Linh Đông 39

2.4.1 Mục tiêu khảo sát 39

2.4.2 Phạm vi khảo sát 39

2.4.3 Đối tượng khảo sát 39

2.4.4 Phương pháp khảo sát 39

2.4.5 Thời gian khảo sát 39

2.4.6 Nội dung 39

Trang 9

2.5 Kết quả khảo sát 40

2.5.1 Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu của giáo viên và học sinh 40

2.5.2 Về nhận thức KNM và giáo dục KNM 41

2.5.3 Về xác định mục tiêu giáo dục KNM cho học sinh THCS 44

2.5.4 Công tác giáo dục KNM trong nhà trường 44

2.5.5 Mức độ rèn luyện KNM của học sinh THCS 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50

Chương 3 - ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 51

3.1 Cơ sở khoa học của việc đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho HS lớp 8 thông qua công tác GVCN 51

3.1.1 Cơ sở pháp lý 51

3.1.2 Cơ sở thực tiễn của kết quả khảo sát thực trạng giáo dục KNM cho HS lớp 8 tại trường THCS Linh Đông 52

3.2 Kiểm nghiệm sư phạm không đối chứng các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho HS lớp 8 tại trường THCS Linh Đông 53

3.2.1 Mục đích kiểm nghiệm 53

3.2.2 Đối tượng kiểm nghiệm 54

3.2.3 Kế hoạch kiểm nghiệm 54

3.2.4 Quy trình và nội dung kiểm nghiệm 54

3.3 Thiết kế hình thức tổ chức hoạt động bằng các phương pháp đã đề xuất trong giáo dục KNM cho HS THCS thông qua công tác GVCN 54

3.3.1 Chủ đề 1: Kỹ năng xác định giá trị 55

3.3.2 Chủ đề 2: Kỹ năng thấu cảm 62

3.3.3 Chủ đề 3: Kỹ năng xác định mục tiêu 68

3.3.4 Chủ đề 4: Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp 73

3.4 Đánh giá kết quả kiểm nghiệm sư phạm 79

Trang 10

3.4.1 Đánh giá thái độ và tính tích cực rèn luyện KNM của HS sau quá trình kiểm

nghiệm 80

3.4.2 Khảo sát ý kiến GV về tính khả thi của việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho HS lớp 8 tại trường THCS Linh Đông 84 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Đóng góp của đề tài 89

3 Hướng phát triển của đề tài 89

4 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sinh thời Bác Hồ dành nhiều tình yêu thương, sự chăm sóc cho thế hệ trẻ Bác đã nói: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" Câu nói của Bác thể hiện tầm nhìn sâu rộng của một người vĩ đại Quả thực sự hưng thịnh tồn vong của đất nước bao giờ cũng gắn với thế hệ trẻ Thế hệ trẻ khỏe mạnh thì đất nước vững bền, thế hệ trẻ yếu ớt thì đất nước suy vong Thế hệ trẻ chính là nguồn lực quý giá của đất nước Để có thể đưa đất nước phát triển thì thế hệ trẻ cần được trang bị các kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của môi trường sống, học tập và làm việc cũng như thích ứng với cuộc sống nhiều thay đổi ngày nay

Ngày 22 tháng 7 năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 trong đó

có nội dung rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Đến tháng 6 năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ra công văn số 3408/BGDĐT-GDTrH về việc bồi dưỡng cho giáo viên trung học về tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh

Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đã chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng sống trong các trường học Một trong các nhiệm vụ trọng tâm đến năm

2020 là “Tiếp tục tăng cường đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, chú trọng giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống, năng lực thực hành, tổ chức các hoạt động trải nghiệm Bên cạnh đó, chú trọng đổi mới sinh hoạt trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm, giáo dục kỹ năng sống theo tinh thần lồng ghép và tích hợp, nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp, các tổ chức đoàn thể, phối hợp giáo dục toàn diện cho học sinh”

Thực tế, sau một thời gian thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vẫn còn khá nhiều rào cản Việc coi trọng dạy chữ hơn dạy người vẫn tồn tại trong nhà trường Điều đó làm nội dung giáo dục nặng về lý thuyết hơn thực hành, vì vậy giáo

Trang 12

dục kỹ năng sống cho học sinh vẫn chưa thật sự được chú trọng Việc lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm còn khá mới mẽ nên giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ trong việc tiếp cận với nội dung, phương pháp giáo dục và hình thức tổ chức

Qua thực tế 5 năm làm công tác chủ nhiệm lớp 8 tại trường THCS Linh Đông, người nghiên cứu nhận thấy công tác giáo dục kỹ năng sống của nhà trường

đã được lồng ghép thông qua một số hoạt động ngoại khóa, trong một số môn học

và cũng đã đưa vào trong công tác giáo viên chủ nhiệm Tuy nhiên, hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng, chưa thu hút học sinh tham gia, nội dung giáo dục chưa đi vào chiều sâu, còn mang tính hình thức Bên cạnh đó, một số giáo viên chủ nhiệm chưa có nhiều kinh nghiệm nên còn lúng túng trong việc tổ chức và lựa chọn phương pháp để giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường Không phải ngẫu nhiên mà yêu cầu giáo dục kỹ năng sống phải được lồng ghép trong công tác giáo viên chủ nhiệm vì qua thời gian tìm hiểu và thực tiễn làm công tác giáo viên chủ nhiệm người nghiên cứu đã nhận thấy nếu giáo viên biết khai thác thế mạnh trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm và ngoài giờ lên lớp thì việc giáo dục kỹ năng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Thông qua hoạt động sẽ giúp học sinh hình thành nhân cách, giúp các em có sự tự tin, chủ động cũng như khả năng phản ứng đầy chất sáng tạo, xử lý các tình huống trong cuộc sống một cách linh hoạt và nhạy bén

Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài: Giáo dục

kỹ năng mềm thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm cho học sinh trường THCS Linh Đông quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN cho HS trường THCS Linh Đông quận Thủ Đức

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục KNM cho học sinh THCS và công tác GVCN

Trang 13

Nghiên cứu thực tiễn giáo dục KNM cho HS thông qua công tác GVCN tại trường THCS Linh Đông

Đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN cho HS trường THCS Linh Đông

4 Đối tượng - Khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN cho

HS trường THCS Linh Đông

4.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh lớp 8 và GVCN tại trường THCS Linh Đông

Hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN cho HS trường THCS Linh Đông

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu áp dụng phương pháp và tổ chức các hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN như người nghiên cứu đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục KNM cho học sinh THCS

6 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn nên người nghiên cứu chỉ đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM thông qua công tác GVCN theo từng chủ đề, trình bày trong luận văn 4 nội dung theo chủ đề và tổ chức thực nghiệm cho HS lớp 8/2 tại trường THCS Linh Đông

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Người nghiên cứu đã tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các nguồn tài liệu để vận dụng vào đề tài

Người nghiên cứu đã tham khảo các tạp chí, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ và các trang web về giáo dục KNM ở Việt Nam và trên thế giới

Người nghiên cứu đã tham khảo các văn kiện, nghị quyết trong công tác giáo dục KNS nói chung và vấn đề giáo dục KNM nói riêng

Trang 14

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát:

Người nghiên cứu đã dự giờ, quan sát hoạt động của GVCN và HS khối 8 trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm và ngoài giờ lên lớp

Phương pháp thống kê toán học:

Người nghiên cứu đã xử lý, thống kê, mô tả và đánh giá kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh Trung học

cơ sở thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm

Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Linh Đông, quận Thủ Đức

Chương 3: Đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh lớp 8 thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm

Trang 15

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành

tố của học vấn, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt [28] Chính thái độ tích cực, năng động, dấn thân, và những

kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng Bên cạnh đó, những nghiên cứu của UNESCO về khái niệm KNS cho rằng “KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày” Đồng thời không thể không kể đến tổ chức WHO cũng nghiên cứu về KNS như một năng lực cá nhân với những tác động có chủ đích đặc sắc về phương pháp [16, tr.10]

Trên thế giới thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF từ những năm 90 của thế kỷ XX, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [24] Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này thống nhất một số quan niệm chung về KNS và hệ thống các kỹ năng cơ bản cần có cho thế hệ trẻ Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [6]

Trang 16

Khái niệm “Kỹ năng mềm” được bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20, rồi

nở rộ vào những năm đầu thế kỷ 21 này Kỹ năng mềm bắt đầu được đề cập đến không phải từ các cơ quan giáo dục mà là của các cơ quan chăm sóc nguồn nhân lực của Cộng đồng chung Châu Âu (EU) của Canada, rồi lần lượt các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đề cập và trở thành trào lưu thế giới

Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skils – SCANS) Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao” Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động mà đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng thì mới cải thiện được những hiệu quả lao động [19, tr.11] Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu

về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc

Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA)

và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn

“Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8

kỹ năng [25]

Trang 17

Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các

tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) [25]

Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính phủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng [25]

Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency), WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng [25]

Một cuộc khảo sát 461 lãnh đạo doanh nghiệp của Hiệp hội Quản trị Nhân sự Hoa Kỳ cho thấy, các nhà quản lý tập đoàn tuy khẳng định các kỹ năng “cứng” cơ bản vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng kỹ năng "mềm" ngày càng trở nên thiết yếu

để dẫn đến thành công Tương đồng với nhận định trên, trong một hội nghị về kỹ năng “mềm” giữa Bộ Lao động Hoa Kỳ và nhóm doanh nghiệp Hoa Kỳ ưu tú năm

2007, nhóm doanh nghiệp này cũng xác định các kỹ năng cần thiết cho một lao động của thế kỷ XXI Lei Han, chuyên gia cố vấn nghề nghiệp tốt nghiệp trường

Trang 18

kinh doanh danh tiếng Wharton (Mỹ) thống kê có 28 kỹ năng “mềm” khác nhau Challa Ram Phani, giáo sư môn Giao tiếp kinh doanh thuộc trường kinh doanh Sujana (Ấn Độ) công bố danh sách 60 kỹ năng “mềm” gây tranh cãi trong giới nhân

sự và nghiên cứu kỹ năng [25]

Đối với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thì việc nghiên cứu KNS theo hướng áp dụng thử nghiệm hoặc theo hướng ứng dụng trong quá trình huấn luyện là chủ yếu Các nước như Lào, Campuchia, Malaysia, Bangladesh chương trình giáo dục KNS được đưa vào lĩnh vực giáo dục chính quy dưới dạng tích hợp vào các môn học cơ bản hay một môn riêng Còn một số nước khác thì tập trung vào lĩnh vực phi chính quy như Inđônêsia, Thái Lan, Ấn Độ, Nepal, Philipine, Bhutan Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước này là trang bị cho người trẻ tuổi những KNS cần thiết nhằm nâng cao tiềm năng của con người, để có hành vi thích ứng và tích cực đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành [7, tr.33-44]

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI bao gồm: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình Điều này, một lần nữa khẳng định giáo dục KNM cho học sinh có ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho những người làm công tác giáo dục phải quan tâm

1.1.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, dù giáo dục KNS được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý

và phương pháp giáo dục KNS ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa được sự quan tâm đúng mức Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn chưa phát triển Ngoại trừ một số ít các trung tâm giáo dục phi chính quy hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một số ít các trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội,…

có các chương trình giáo dục KNS Còn lại các trường phổ thông nhất là các trường

từ bậc THCS trở lên chưa quan tâm nhiều cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ KNS cho thanh thiếu niên học sinh

Trang 19

Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm mang lại cho học sinh cả nước một “môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội” Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa,… chỉ mới lồng ghép việc giáo dục KNS vào trong các buổi hội thảo chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ từng bộ môn Bên cạnh đó, dần dần cũng có một số

ít cá nhân giáo viên có hứng thú nghiên cứu, vận dụng giáo dục KNS cho học sinh THCS một cách đơn lẻ, tự phát, sáng tạo

Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình Năm 2005, với

đề tài “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” do Nguyễn Thanh Bình làm trưởng nhóm nghiên cứu Đây có thể được coi là đề tài có giá trị về mặt lý luận giáo dục KNS tại Việt Nam Đồng thời, có thể đề cập đến quyển “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống” của Nguyễn Thanh Bình được ra đời sau khi tác giả tham gia dự án đào tạo giáo viên THCS Giáo trình này đã tập trung phân tích những vấn đề đại cương

về KNS, các nguyên tắc và phương pháp nhằm giáo dục KNS cho học sinh [7]

Trong vài năm gần đây, có nhiều nhà giáo dục, tâm lý học đã quan tâm và nghiên cứu về KNS như tác giả Phạm Thanh Vân, với mục đích nhằm tăng cường nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho HS THPT bằng con đường tích hợp giáo dục KNS với HĐNGLL ở trường THPT, tác giả đã thực hiện luận văn tiến sĩ “Giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua HĐNGLL” vào tháng 11 năm 2010 tại Đại học Thái Nguyên [22] Tác giả Lâm Hoàng Yến đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài “Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thuộc quận 6 TP.HCM” vào tháng 9 năm 2011 tại Đại học Sư phạm Kỹ thuật [23] Đề tài đã phản ánh thực trạng giáo dục KNS tại các trường THCS và đề ra các

Trang 20

biện pháp cần thiết giúp cải thiện kết quả giáo dục KNS cho HS tại các trường THCS

Từ Nghiên Cứu Đến Công Bố Kỹ Năng Mềm Cho Nhà khoa Học, tác giả Nguyễn Văn Tuấn, nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM là cuốn sách bàn về những vấn

đề thiết thực trong nghiên cứu khoa học Đối tượng chính của cuốn sách này là các bạn sinh viên và nghiên cứu sinh Gồm 2 chủ đề: khoa học và đạo đức khoa học, và công bố quốc tế Đây là hai chủ đề cũng đang rất "thời sự" ở nước ta [21]

Ngày 24 tháng 4 năm 2012 tại hội trường Làng sinh viên Hacinco, Ban điện

tử Tạp chí Thế giới trong ta (thegioitrongta.vn) kết hợp với Công ty Cổ phần Truyền thông & Hoạt động Xã hội Việt (Masvic) tổ chức Hội thảo “Kỹ năng mềm – Nhu cầu và giải pháp” Phát biểu tại hội thảo, ThS Hà Thị Dung - Phó Vụ trưởng

Vụ Công tác học sinh - sinh viên đã nêu rõ sự cần thiết trong việc đưa giáo dục kỹ năng mềm vào các cấp học, đặc biệt là cấp học Đại học bởi đây là nơi cung ứng cho thị trường lao động nguồn nhân lực có chất lượng

Ngày 14 tháng 6 năm 2012, tại Hội trường C Ủy ban Dân tộc, Viện Dân tộc

đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ để “Các kỹ năng mềm trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực công tác dân tộc” PGS TS Nguyễn Đức Trí, nguyên Giảng viên Đại học sư phạm Hà Nội, nguyên Phó vụ trưởng vụ Giáo viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nói chuyện và trao đổi với các cán bộ của Viện về việc sử dụng các kỹ năng cần thiết trong hoạt động nghiên cứu dân tộc, đặc biệt trong lĩnh vực công tác dân tộc Đề cương trao đổi gồm có 3 nội dung chính đó là: thế kỷ XXI – Kỷ nguyên kinh tế dựa vào kỹ năng; kỹ năng mềm trong nghiên cứu khoa học; trao đổi về kinh nghiệm sử dụng kỹ năng mềm trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam [26]

Ngày 23/08/2012 hội thảo khoa học "Kỹ năng mềm của sinh viên sư phạm"

do bộ môn tâm lý học - khoa tâm lý giáo dục ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức Qua khảo sát, 62,4% sinh viên sư phạm dễ để cảm xúc ảnh hưởng đến học tập và công việc, 57% không biết kềm chế cơn nóng giận và 56,4% không biết cách giải tỏa cảm xúc tiêu cực Nội dung này thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Phát triển kỹ năng mềm của sinh viên các trường đại học sư phạm" do PGS.TS Huỳnh Văn Sơn,

Trang 21

trưởng bộ môn tâm lý học - khoa tâm lý giáo dục ĐHSP TP.HCM và các cộng sự thực hiện [17]

Quyển sách “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên ĐHSP” - PGS.TS Huỳnh Văn Sơn - chủ biên, đây là nguồn cung cấp tri thức cơ bản và là cơ sở quan trọng nhằm rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên các trường ĐHSP, ĐHSP Ngoại ngữ,

ĐH Giáo dục và ĐHSP Kỹ thuật, khoa sư phạm ở các trường ĐH trong toàn quốc [17]

Bên cạnh đó, tạp chí thiết bị số 100 tháng 12.2013 của tác giả Ngữ Thị Việt Hoa về giáo dục KNM lồng ghép trong chương trình đào tạo môn Công nghệ bậc THPT trình bày phương pháp dạy KNM cho học sinh THPT trong môn học chuyên môn

Những phân tích trên đây cho thấy, giáo dục KNM cho HS trung học mặc dù

đã được định hướng bởi mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục nhưng triển khai thực tiễn hoạt động này trong nhà trường còn rất hạn chế Giáo dục KNM cho HS trung học chỉ mới được thực hiện như một nội dung, một mục tiêu phụ của các chương trình / dự án cho cấp học này

Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên thực hiện đối với đối tượng là sinh viên

ở các trường đại học – lứa tuổi trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn, ý thức được vị trí, vai trò của mình Người nghiên cứu nhận thấy các đề tài trên chưa đề cập đến việc giáo dục KNM ở các trường phổ thông nói chung và cấp THCS nói riêng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất và nhiều biến động nhất ở các em Đồng thời giáo dục KNM ở trường phổ thông chỉ mới dừng lại ở việc lồng ghép vào môn học, còn hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho học sinh THCS thông qua công tác GVCN là vấn đề thật sự còn lạ lẫm, chưa được các đơn vị trường học cũng như lực lượng giáo dục quan tâm thực hiện một cách có hệ thống

Vì vậy, trong đề tài này người nghiên cứu tập trung vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNM cho HS THCS thông qua công tác GVCN

Trang 22

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Kỹ năng

Trong Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi:

“Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [13, tr.390]

Theo từ điển Giáo dục học: Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là những hành cụ thể hay hành động trí tuệ [10, tr.220]

Trong Tâm lý học, kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện những thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân

Kỹ năng chính là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức của bản thân

Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống

1.2.2 Kỹ năng mềm (soft skills)

Kỹ năng mềm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong nhiều tài liệu Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO: Kỹ năng mềm hay còn gọi là kỹ năng sống

là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [19, tr.29]

Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF: Kỹ năng mềm là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng

về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc UNESCO: Kỹ năng mềm là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Kỹ năng “mềm” (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ – Emotional Intelligence Quotient) của con người như: một số nét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ năng làm việc nhóm… Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người

Trang 23

khác Những kỹ năng này thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải là kỹ năng đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người Kỹ năng mềm quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc [14, tr.105]

Kỹ năng mềm là kỹ năng nằm ngoài các chương trình giáo dục chính Sau này một số kỹ năng cần thiết cho cuộc sống học sinh được đưa vào chương trình giáo dục thì không còn là kỹ năng mềm nữa

Phân biệt KNM trên cơ sở năng lực của con người, nhu cầu cuộc sống đòi hỏi kỹ năng chuyên môn, còn kỹ năng hỗ trợ cho chuyên môn đó là KNM, người chuyên môn này làm công việc với KNM, người chuyên môn khác làm công việc với kỹ năng cứng

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kỹ năng mềm bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của kỹ năng mềm là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả

Với ý nghĩa KNM là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội cần thiết đối với thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử một cách tự tin đồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản thân mình trước mọi người và cộng đồng thì kỹ năng mềm cần thiết cho học sinh THCS, dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực sức khỏe, UNESCO đưa ra cách phân loại KNM thành 3 nhóm [14, tr.109]:

+ Kỹ năng nhận thức: bao gồm các kỹ năng cụ thể như: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác đinh giá trị…

+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc: bao gồm động cơ, ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát và

tự điều chỉnh…

Trang 24

+ Kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác: bao gồm kỹ năng giao tiếp; tính quyết đoán; kỹ năng thương thuyết / từ chối; lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác…

Theo tài liệu về giáo dục kỹ năng sống hợp tác với UNICEF (Bộ Giáo dục và Đào tạo) kỹ năng mềm được phân thành 3 nhóm chính sau đây, cần được giảng dạy

và tổ chức cho HS thực hành [14, tr.110]:

+ Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình gồm: kỹ năng tự nhận thức; lòng tự trọng; sự kiên định; đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng

+ Những kỹ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm: kỹ năng quan

hệ / tương tác liên nhân cách; sự cảm thông (kỹ năng thấu cảm); đứng vững trước

áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả

+ Các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả bao gồm các kỹ năng: tư duy phê phán; tư duy sáng tạo; ra quyết định; giải quyết vấn đề

Tóm lại, trong cuộc sống, các kỹ năng mềm thường không hoàn toàn tách rời nhau và để đạt được hiệu quả mong muốn thì việc giáo dục kỹ năng mềm cho trẻ không nên giảng dạy riêng biệt mà phải được thực hiện như là một phần không thể tách rời của các chương trình giáo dục đa dạng gồm giáo dục sức khỏe thể chất, giáo dục trách nhiệm công dân,

1.2.3 Giáo dục kỹ năng mềm

- Giáo dục kỹ năng mềm là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của

cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống

Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến thức và năng lực cần thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những khó khăn trong thực tế đời sống

Trang 25

- Giáo dục kỹ năng mềm là hoạt động giúp cho người học có khả năng về mặt tâm lý xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu” Nhưng giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường mà giáo dục kỹ năng mềm phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi

1.2.4 Công tác chủ nhiệm

Trong lí luận giáo dục học (GDH) truyền thống công tác chủ nhiệm lớp chủ yếu được xem xét từ bình diện của GDH, mà ít được quan tâm phân tích từ bình diện quản lí, trong khi đó hai chức năng này bổ trợ và quy định lẫn nhau GVCN thực hiện chức năng quản lí toàn diện tập thể lớp để thực hiện chức năng giáo dục từng cá nhân có hiệu quả

Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để giảng dạy và giáo dục học sinh là lớp học Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Comenxki

đề xướng Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp Giáo viên chủ nhiệm được hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói công tác chủ nhiệm lớp là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm [8]

Quan niệm công tác chủ nhiệm là dễ và đơn giản nếu người GVCN chỉ thực hiện có chừng mực những công việc được quy định trong công tác chủ nhiệm lớp, lặp đi lặp lại với những công việc như: làm việc theo kế hoạch chung, theo đợt phát động và tổng kết thi đua, tham dự những tiết chào cờ, tổ chức những giờ sinh hoạt lớp hàng tuần, tổ chức những buổi họp phụ huynh học sinh trong từng học kì, đôi khi gặp gỡ trao đổi với cha mẹ và HS cá biệt, đánh giá HS, ghi sổ chủ nhiệm, sổ liên lạc, phê học bạ hay thu tiền học phí,…

Trang 26

Bên cạnh đó, lại có những GVCN làm những việc thấy cần phải làm vì HS với tâm huyết, tinh thần trách nhiệm cao Những GVCN như vậy sẽ thấy công tác chủ nhiệm vô cùng khó khăn và phức tạp, chiếm nhiều thời gian và tâm trí của họ

1.3 Phân biệt kỹ năng sống và kỹ năng mềm

Theo UNESCO (căn cứ vào thể chất, sức khỏe), kỹ năng sống cơ bản gồm hai loại kỹ năng là kỹ năng mềm (soft skills) và kỹ năng cứng (hard skills) [27]

Kỹ năng sống chính là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý,

kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo

ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển Kỹ năng sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại

Dựa trên khái niệm kỹ năng sống và kỹ năng mềm đã xác lập, có thể nhận thấy giữa chúng không có sự tách bạch nhau Kỹ năng sống và kỹ năng mềm hoàn toàn không phải là hai mảng khác nhau, mà nó nằm trong mối quan hệ khăng khít nhưng mối quan hệ này lại không thể đồng nhất kỹ năng sống và kỹ năng mềm là một Bởi lẽ, kỹ năng sống nằm trong một phạm trù mang nghĩa phổ quát và rộng hơn nhiều so với kỹ năng mềm Kỹ năng sống bao hàm tất cả các kỹ năng thuộc về mặt tâm lý xã hội giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống Hay nói một cách đơn thuần hơn đó là những kỹ năng giúp chúng ta phản ứng hiệu quả trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Còn kỹ năng mềm trước hết liên quan đến mặt tương tác với người khác bằng những yếu tố liên quan đến mặt cảm xúc, ngôn ngữ, thái độ nhằm thiết lập ra những mối quan hệ xã hội tích cực để đạt được hiệu quả cao cho công việc Kỹ năng mềm chỉ hỗ trợ đắc lực cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong công việc nhưng không hoàn toàn đầy đủ để giúp cá nhân thích ứng được với các vấn đề khác nảy sinh từ cuộc sống

Nói tóm lại, kỹ năng mềm không đồng nhất với kỹ năng sống nhưng không phải là một phạm trù tách biệt với kỹ năng sống Kỹ năng mềm là một bộ phận quan

Trang 27

trọng của kỹ năng sống Hiểu theo khía cạnh đơn thuần, có thể cho rằng kỹ năng sống giúp con người sống hạnh phúc trong cuộc sống thì kỹ năng mềm giúp con người hạnh phúc trong công việc mà công việc là một bộ phận quan trọng cấu thành nên cuộc sống Kỹ năng mềm dẫu rằng được định dạng tương đối nhưng sẽ phụ thuộc vào nghề nghiệp mà đặc biệt là đối tượng của nghề nghiệp hướng đến

1.4 Giáo dục kỹ năng mềm

1.4.1 Cơ sở khoa học

1.4.1.1 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi của học sinh THCS

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”

Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này [9, tr20]

Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động… của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:

- Mặt thứ nhất: Những điểm yếu của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: đó là trẻ chỉ bận tâm vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội

- Mặt thứ hai: Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: đó là sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình

Trang 28

gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn

Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:

- Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít

- Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn

- Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực

tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, … không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con

Đặc biệt, đối với HS lớp 8 (từ 14-15 tuổi), đây là thời gian xảy ra rất nhiều các biến đổi ở các mức độ khác nhau trong cơ thể trẻ; sự hình thành nhân cách dần dần được hoàn thiện Trong bước quá độ vươn lên làm người lớn, trong quá trình hình thành và khẳng định cái “Tôi” có ý nghĩa xã hội, các em gặp không ít những khó khăn, trở ngại cần phải vượt qua Bên cạnh đó nhu cầu về lựa chọn nghề nghiệp cũng phát triển, các em thích chọn những nghề thật “hot” so với nhu cầu thời đại Ở đây, ngoài sự trưởng thành của chính bản thân mình, các em cần có sự hỗ trợ đắc lực và kịp thời, có hiệu quả từ phía người lớn và xã hội mà trước hết là các giáo viên với tư cách là những nhà giáo dục theo đúng nghĩa của từ này Để thực sự phát huy vai trò chủ thể của người học, GV cần có những thay đổi căn bản trong quan hệ với HS M.Balson chuyên nghiên cứu về hành vi của những HS “khó bảo” đã cho rằng: “Sẽ không có gì đạt được hiệu quả nếu GV không thay đổi quan hệ với HS”

Giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu những kết quả nghiên cứu khoa học về mối quan hệ Thầy - Trò để mở rộng nhận thức về học sinh Đặc biệt đối với những HS “có vấn đề” – những HS không dễ dàng phát triển các mối quan hệ tích cực với giáo viên Việc hiểu được những yếu tố tạo nên chất lượng của mối

Trang 29

quan hệ giữa giáo viên và HS, hiểu về các đặc điểm khí chất của HS khi đến trường giúp giáo viên có khả năng tốt hơn để thúc đẩy, nuôi dưỡng mối quan hệ chất lượng cao với HS và có thể tạo nên thành công trong nghề nghiệp

Sự hiểu biết về các đặc điểm cá nhân của học sinh, về những mặt mạnh của học sinh có thể giúp cho giáo viên thay đổi suy nghĩ thông thường về các em, vượt

ra khỏi các khuôn mẫu đã có và nhìn nhận lại hệ thống tác động sư phạm của bản thân mình

Như vậy, ở lứa tuổi HS lớp 8 những cơ sở, phương thức chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, và tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý HS lớp 8 sẽ giúp người làm công tác giáo dục có cách giáo dục và đối xử đúng đắn để các em có một nhân cách toàn diện

+ Chuẩn bị cho HS có thể: Học lên trung học phổ thông; Học nghề kỹ thuật; Bước vào cuộc sống lao động

+ Đây là cấp học kế thừa thành tựu của giáo dục tiểu học, chuẩn bị những điều kiện cho HS bước vào cuộc sống, học lên…

- Hoạt động dạy học ở THCS tạo điều kiện cho HS nghiên cứu cơ sở của những khoa học với sự phong phú, đa dạng của những bộ môn, khối lượng tri thức lớn phức tạp, sâu sắc, hệ thống hơn

Các nội dung chương trình trong THCS được thiết kế giúp phát triển nhân cách toàn diện cho HS Các nội dung này vừa sức với HS tạo cho họ sự tích cực, hứng thú, sáng tạo trong hoạt động nhận thức

Trang 30

- Hoạt động dạy học theo từng môn học được chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của GVBM tương ứng

1.4.2 Công tác giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục phổ thông

Theo điều 31, điều lệ trường phổ thông, (ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), giáo viên chủ nhiệm lớp là người thay mặt Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính về việc tổ chức, quản lý việc giáo dục toàn diện cho học sinh trong một lớp học [2, tr.15]

Gíáo viên chủ nhiệm lớp có những nhiệm vụ như sau:

a Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát với đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của từng học sinh và của

d Tham gia hướng dẫn hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục và rèn luyện học sinh do nhà trường tổ chức;

e Báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng Với nhiệm vụ trên của giáo viên chủ nhiệm, nếu được thực hiện tốt, lớp học

sẽ trở thành môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh trong việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh, có tác động hiệu quả đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Trong thực tế, để đạt được mục tiêu giáo dục nhân cách cho học sinh, công tác chủ nhiệm lớp luôn chịu sự tác động của môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của tổ chức

Trang 31

Vì thế, bên cạnh nhiệm vụ dạy học theo qui định chuyên môn như các giáo viên khác, gíáo viên chủ nhiệm lớp, theo sự phân công của Hiệu trưởng, phải xử lý nhiều mối quan hệ khác nhau từ môi trường bên ngoài và bên trong của tổ chức, cũng có nghĩa là phải đồng thời vượt qua nhiều thách thức để đạt được hiệu quả giáo dục

Vai trò, các mối quan hệ của GVCN

CMHS

GV

bộ môn

Học sinh

Tổ trưởng TCN

TPT, BTĐ

QH kết hợp

Hình 1.1: Vai trò, các mối quan hệ của GVCN [15]

Theo sơ đồ hình trên cho thấy vai trò và mối quan hệ của GVCN như sau:

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với Hiệu trưởng và các thành viên trong Ban giám hiệu: thay mặt Hiệu trưởng quản lý một lớp học

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với tập thể và từng học sinh lớp chủ nhiệm: Gíáo viên chủ nhiệm lớp được xem như “linh hồn” của lớp, chịu trách nhiệm tập hợp học sinh thành một khối đoàn kết

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với Tổng phụ trách, Bí thư Đoàn: là cố vấn đắc lực cho Tổng phụ trách, Bí thư Đoàn trong các tổ chức sinh hoạt tập thể học sinh

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với gíáo viên bộ môn: giữ vai trò chủ đạo trong

việc trực tiếp thu nhận và xử lý thông tin về nề nếp, ý thức, chất lượng học tập tất cả

Trang 32

các môn học trong nhà trường, về các hành vi, phẩm chất đạo đức của học sinh trong suốt thời gian học sinh có mặt tại trường

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với Tổ trưởng tổ chủ nhiệm: gián tiếp thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch hoạt động chủ nhiệm của Hiệu trưởng, báo cáo định kỳ và đột xuất các diễn biến về sinh hoạt của học sinh lớp chủ nhiệm

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp với Tổ chức tư vấn tâm lý của trường: quan hệ tư vấn

- Gíáo viên chủ nhiệm lớp phối hợp với gia đình học sinh và các lực lượng giáo dục khác ngoài xã hội: Để tập hợp thông tin nhiều mặt về tình hình học sinh lớp chủ nhiệm, tìm ra giải pháp tối ưu cho việc giúp đỡ học sinh tiến bộ về mọi mặt

- có thể thông qua diễn đàn, email, trang web của trường, thông báo tình hình học tập, sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, nề nếp kỷ luật, điểm thi, kiểm tra của học sinh cho gia đình để kịp thời phối hợp

Môi trường bên trong đối với hoạt động chủ nhiệm lớp ở đây gắn liền những đặc điểm văn hóa của một tổ chức, được xác lập bởi các biện pháp tổ chức quản lý của Hiệu trưởng nhà trường trong việc thực hiện điều lệ nhà trường, tạo điều kiện cho gíáo viên chủ nhiệm lớp hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

1.5 Giáo dục KNM cho HS THCS

1.5.1 Mục tiêu của giáo dục KNM cho HS THCS

Theo tài liệu của tổ chức WHO (2001) quan điểm về mục tiêu giáo dục KNM là “giúp con người trong việc ra quyết định – giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, giao tiếp hiệu quả, xây dựng những mối quan hệ lành mạnh, thấu cảm với người khác, kiểm soát và quản lý cuộc đời mình theo cách làm lành mạnh và sinh lợi”

Trong khi đó, theo quan niệm của tổ chức UNICEF cho rằng mục tiêu của giáo dục KNM là “nhằm chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết), thái độ và giá trị (cái chúng ta nghĩ, cảm thấy hoặc tin tưởng) thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế (cái cần làm và cách thức cần làm nó) theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng”

Trang 33

Ở Việt Nam, mục tiêu giáo dục đã chuyển hướng từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự phát triển của thế giới hiện đại Vì vậy, giáo dục KNM cho học sinh trong nhà trường phổ thông cụ thể là học sinh THCS nhằm hai mục tiêu: Một là trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hằng ngày; Hai là tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

- Hiểu được bản thân để tự tin và có thái độ sống tích cực

- Giao tiếp, ứng xử đúng mực với gia đình, thầy cô, bạn bè

- Hình thành và phát triển các kỹ năng: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, quản

lí thời gian, kiểm soát cảm xúc, giải quyết vấn đề, thuyết phục… để học tập hiệu quả và sống vui vẻ

- Chủ động ứng phó với các vấn đề xảy ra và thích ứng với cuộc sống hiện đại đầy biến động

1.5.2 Nguyên tắc giáo dục KNM

- Tương tác: Kỹ năng mềm không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn

đề nào đó Nhiều kỹ năng mềm được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với các bạn cùng học và những người xung quanh (kỹ năng thương lượng, kỹ năng giải quyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập và các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện

ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng người khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động

có tính tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNM hiệu quả

- Trải nghiệm: Kỹ năng mềm chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm các tình huống thực tế Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó,

Trang 34

chứ không chỉ nói về việc đó Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm của mình và người khác

- Tiến trình: Giáo dục KNM không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành

vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới Do

đó, nhà giáo dục có thể tác động lên bất kỳ mắc xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ

- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNM là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNM thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi thái

độ và giá trị của từng con người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thói quen mới

- Thời gian – môi trường giáo dục: Giáo dục KNM cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống Giáo dục KNM được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNM được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động sinh hoạt chủ nhiệm, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động khác

Trang 35

- Giáo dục: KNM được hình thành hiệu quả qua những tác động có mục đích, có kế hoạch từ gia đình, nhà trường và xã hội Đây được xem là những tác động chủ đạo

KNM được hình thành qua nhiều con đường khác nhau, tuy nhiên chủ đạo vẫn là thông qua giáo dục Nếu các tác nhân giáo dục có những biện pháp tác động khoa học và hệ thống, thì các KNM sớm được hình thành ở người được giáo dục; nói cách khác hoạt động giáo dục KNM sẽ đạt hiệu quả cao hơn

1.5.4 Nội dung giáo dục KNM

Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế VN, 10 kỹ năng sau là căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay [19, tr.30]:

1 Kỹ năng học và tự học (Learning to learn)

2 Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal branding)

3 Kỹ năng tư duy (thinking skills)

4 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)

5 Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)

6 Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills)

7 Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)

8 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

9 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)

10 Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)

Qua tìm hiểu, người nghiên cứu nhận thấy 10 nhóm KNM cần thiết cho học sinh THCS:

Trang 36

6 Kỹ năng giải quyết vấn đề

7 Kỹ năng xác định mục tiêu

8 Kỹ năng giao tiếp, ứng xử

9 Kỹ năng xác định giá trị

10 Kỹ năng tư duy sáng tạo

Nội dung giáo dục KNM cho học sinh THCS là những KNM cốt lõi cần hình thành và phát triển cho các em Theo giới hạn nghiên cứu của luận văn, người nghiên cứu tập trung vào các kỹ năng: kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng thấu cảm,

kỹ năng xác định mục tiêu và kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp

Kỹ năng xác định giá trị

Giá trị là cái mà bản thân mỗi người coi là quan trọng Nó có thể rất cụ thể như tiền bạc, quần áo, các phương tiện sinh hoạt hoặc trừu tượng như lòng thủy chung, sự cảm thông, thông minh, sáng tạo, nhân ái, giá trị nghề nghiệp,… Giá trị chịu tác động của thời gian, kinh nghiệm sống, sự giáo dục của gia đình, môi trường

xã hội mà người đó đang sống và làm việc

Kỹ năng xác định giá trị là khả năng xác định những đức tính, niềm tin, thái

độ, chính kiến nào của mình cho là quan trọng và giúp ta hành động theo phương hướng đó Xác định giá trị ảnh hưởng đến ra quyết định và hành động của con người

Kỹ năng thấu cảm

Thấu cảm là khả năng hiểu mọi người, thế giới từ quan điểm của người khác

và luôn hành động, ứng xử với người khác dựa vào nỗ lực hiểu biết

Thấu cảm có cả phần tình cảm và phần tư duy Thấu cảm có nghĩa là cảm được cảm xúc của người khác (đau khổ, buồn, ân hận, tức giận, vui vẻ,…) Thấu cảm cũng có nghĩa là hiểu biết logic về suy nghĩ, cảm xúc của người khác

Kỹ năng thấu cảm là khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác khi họ phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh hoặc do những hành động của chính bản thân họ gây ra để hiểu được tình cảnh của họ và tìm ra cách giảm bớt gánh nặng bằng sự chia sẻ chân tình với người đó thay vì lên án, thương

Trang 37

hại hoặc coi khinh họ với bất kỳ lý do nào Cảm thông cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của họ một cách nhanh chóng nhất

Kỹ năng xác định mục tiêu

Mục tiêu là những trạng thái, cột mốc mà con người muốn đạt được trong một khoảng thời gian xác định

Thông thường có 2 loại mục tiêu: Mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn

Kỹ năng xác định mục tiêu là kỹ năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện mục tiêu đó

Điều kiện: S.M.A.R.T

Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp

Nghề nghiệp hay hoạt động nghề nghiệp được hiểu là hoạt động phục vụ cho

cơ sở tồn tại và hướng vào việc kiếm sống, việc này phải làm miệt mài, lâu dài và

để hoàn thành cần có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm (trình độ chuyên môn) theo

tổ hợp đặc biệt

Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp là kỹ năng chọn nghề phù hợp, phát huy được hết khả năng của bản thân và có được những thành công trong nghề nghiệp sau này Việc định hướng nghề nghiệp trong tương lai giúp đưa ra được những hoạt động cho bản thân nhằm trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng bổ trợ để mang lại thành công trong công việc mình lựa chọn sau này

1.5.5 Hình thức và phương pháp giáo dục KNM cho HS THCS

1.5.5.1 Hình thức giáo dục KNM cho HS THCS

Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNM vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa KNM vào chương trình chính khóa ở tiểu

Trang 38

học và trung học Việc giáo dục KNM cho học sinh ở các nước được thực hiện theo

3 hình thức: KNM là môn học riêng, KNM được tích hợp vào một số môn học chính, KNM được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình [2, tr12]

Ở Việt Nam, nội dung giáo dục KNM không thể bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông bởi KNM phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp, do đó giáo dục KNM phải thực hiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục Vì vậy, cơ hội thực hiện giáo dục KNM rất nhiều và rất đa dạng, có thể đề cập tới một số phương thức tổ chức sau: 1/ Thông qua dạy học các môn học; 2/ Thông qua chủ đề

tự chọn; 3/ Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; 4/ Thông qua hoạt động câu lạc bộ [22]

Việc dạy học các môn học và triển khai hoạt động giáo dục NGLL, SHCN là những hình thức thích hợp cho việc tổ chức thực hiện giáo dục KNM Những hoạt động trên tạo điều kiện học sinh hình thành và phát triển những KNM cần thiết như giao tiếp, giải quyết vấn đề, hợp tác, chia sẻ, ứng phó với những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời học sinh có cơ hội bộc lộ những KNM mà các em

đã có được

1.5.5.2 Hai cách tiếp cận trong giáo dục KNM [14, tr.113]

- Thứ nhất, các hoạt động tập trung vào các KNM cốt lõi như kỹ năng xác

định giá trị, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp… Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ thể, người học sẽ hiểu KNM đó là gì, cách hình thành KNM đó và vận dụng nó để giải quyết các tình huống giả định

- Thứ hai, mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề hay nảy sinh trong cuộc sống ở

lứa tuổi này, và để giải quyết nó thì cần phải vận dụng những KNM khác nhau Qua

đó, hình thành và rèn luyện những KNM ấy Trong trường hợp này các KNM được gắn liền với các vấn đề cụ thể

Trang 39

1.5.5.3 Một số phương pháp thường sử dụng trong giáo dục KNM cho HS THCS

Để tạo thuận lợi cho việc học tập KNM của HS bậc trung học cơ sở, có thể

kể đến một số phương pháp giáo dục cụ thể sau [14, tr.113-118]:

Phương pháp động não: là phương pháp giúp cho người học trong

một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào

đó Đây là một phương pháp có ích để thu thập một danh sách các thông tin Để nắm bắt được các ý tưởng của đối tượng về một chủ đề, ta có thể đặt câu hỏi, nêu vấn đề, thăm dò đối tượng bằng phương pháp động não Với phương pháp này, ta yêu cầu đối tượng nói ra cái mà họ nghĩ về chủ đề được đặt ra để xem mức độ hiểu vấn đề và cách mô tả vấn đề bằng thuật ngữ riêng của họ Phương pháp này cho phép tạo cơ hội để ý tưởng của mỗi người đều có giá trị và chấp nhận không cần phê phán đồng thời cũng là một cách rất hiệu quả để nghe các ý tưởng từ các đối tượng trong một giai đoạn thời gian hạn chế

- Khi nêu tình huống, cần hiểu rõ chủ đích của nội dung đề cập đến

- Tình huống, câu chuyện đang nêu cần tạo có sự liên hệ thiết thân với các thành viên tham dự

Trang 40

- Người GVCN sau khi đưa tình huống, đặt ra câu hỏi

- Các câu hỏi đặt ra cho người tham gia trong tình thế bị thúc bách, cần phải suy tư đưa ra: những sáng kiến, giải pháp, quan điểm, thái độ, kế hoạch,… nhằm giải đáp cho vấn đề đang được nêu ra

- Trong quá trình các thành viên tư duy Người GVCN cần động viên, khích

lệ mọi người phát biểu tích cực, không rụt rè, mặc cảm sợ sai, khuyến khích mọi người lắng nghe ý kiến, tôn trọng, không chê cười, phỉ báng, làm nhục ý chí của người khác

- Các ý kiến đều được chấp nhận bất kể ai

- Không có ý kiến nào phản bác hay phê phán, nếu có ý kiến phản bác GVCN nên hướng dẫn để các thành viên hiểu

- Người GVCN giữ lại và tổng hợp ý kiến đóng góp với dự kiến ban đầu

Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống

thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể thực hiện qua quan sát băng video hay một băng catsset mà không phải ở dạng văn bản Tình huống sử dụng cần phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những hoàn cảnh khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

Ngày đăng: 05/12/2021, 10:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chiến lược phát triển GD-ĐT đến năm 2020, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển GD-ĐT đến năm 2020
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010, 159 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3. Bộ Giáo dục và đào tạo, Điều lệ trường trung học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường trung học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chiến lược phát triển Giáo dục thời kỳ 2011 – 2020, Số: 711/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 06 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục thời kỳ 2011 – 2020
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013”, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013
6. Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn, Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam
7. Nguyễn Thanh Bình, Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2007, 190 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Hà Nội
8. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo viên chủ nhiệm trong trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, Hà Nội, tháng 6/2011, 225 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo viên chủ nhiệm trong trường trung học cơ sở, trung học phổ thông
9. Nguyễn Đức Chữ, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
10. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa
11. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh - Thực trạng và giải pháp, Phòng GD-ĐT quận Phú Nhuận, 2012, 323 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh - Thực trạng và giải pháp
12. TS. Võ Thị Ngọc Lan, Giáo trình Xã Hội Học Giáo Dục, Trường Đại Học SPKT TP. HCM, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. HCM, 2012, 164 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã Hội Học Giáo Dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. HCM
13. Nguyễn Lân, Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ Hán Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS. Đinh Thị Kim Thoa, TS. Đặng Hoàng Minh, Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở - Tài liệu dùng cho giáo viên THCS, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, 218 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở - Tài liệu dùng cho giáo viên THCS
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
15. Ths. Đoàn Thị Ngọc Mai, Tham luận Quản lý Chủ nhiện lớp, ĐH Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận Quản lý Chủ nhiện lớp
16. Huỳnh Văn Sơn (Trưởng ban), Thực trạng kỹ năng sống của sinh viên Tp.HCM hiện nay, Kỷ yếu hội thảo, Tp.HCM, 2010, 114 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kỹ năng sống của sinh viên Tp.HCM hiện nay
17. Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên Đại học Sư phạm, Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục, 2012, 320 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên Đại học Sư phạm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
20. Bùi Văn Trực-Phạm Thế Hưng, Phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, Nhà xuất bản văn hóa-thông tin, 2011, 244 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy kỹ năng sống
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa-thông tin
21. Nguyễn Văn Tuấn, Từ Nghiên Cứu Đến Công Bố Kỹ Năng Mềm Cho Nhà Khoa Học, Nxb Tổng hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Nghiên Cứu Đến Công Bố Kỹ Năng Mềm Cho Nhà Khoa Học
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP.HCM
22. Phan Thanh Vân, Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Luận văn tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên, 2010, 135 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w