1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện môn giáo dục thể chất cho học sinh sinh viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân II

141 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 8,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 PHẦN NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG Năm 2007, tác phẩm “Hungarian PE Teachers’ Opinions About Current Issues Of PE Learning And Teaching Methods” tạm dịch là

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 60140101

Tp Hồ Chí Minh, tháng 01/2017

S KC 0 0 4 8 4 5

Trang 3

i

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Họ & tên: Lê Rích Tô Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 20/01/1983 Nơi sinh: Hải Dương

Quê quán: Thanh Hà, Hải Dương Dân tộc: Kinh

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 1368/39 Lê Văn Lương, Phước Kiển, Nhà Bè, TPHCM

Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà riêng: 0866743725

Fax: E-mail: tophulam@gmail.com.vn

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Huấn Luyện Viên Võ Thuật:

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ: 9/2003 đến 8/2006

Nơi học : Trung Tâm Đào Tạo HLV Võ Thuật Việt Nam

Ngành học: Huấn Luyện Viên Karate-do

2 Đại học:

Hệ đào tạo: Vừa làm vừa học Thời gian đào tạo từ: 9/2006 đến 8/2010

Nơi học: Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày & nơi bảo vệ luận văn: 20/01/2017 tại Viện Sư phạm kỹ thuật

Người hướng dẫn: PGS.TS Võ Thị Xuân

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:

Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm

2010-2012 Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ Thuật

Tp.HCM Giảng Viên Giáo Dục Thể Chất 12/2012- Đến

Trang 4

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2017

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Lê Rích Tô

Trang 5

iii

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, người nghiên cứu xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn đến PGS.TS Võ Thị Xuân, Cô đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành quý Thầy, Cô trong Viện Sư phạm

Kỹ thuật – Trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Tôi chân thành cảm ơn Quý lãnh đạo Trường Cao Đẳng CSND II, Lãnh đạo Bộ môn QS-VT-TDTT và toàn thể các đồng chí đồng đội đã tạo mọi điều kiện cho bản thân tôi có thể tổ chức thực nghiệm cho luận văn

Và cuối cùng tôi cũng không quên cảm ơn các em học sinh- sinh viên K21

và K22 của Trường Cao Đẳng CSND II đã cố gắng cùng Thầy phấn đấu trong suốt quá trình thực nghiệm

Cuối lời xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong

sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc Quý Lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo Bộ môn

và các đồng chí đồng đội Bộ môn QS-VT-TDTT Trường Cao Đẳng CSND II luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc và chúc các em học sinh – sinh viên học tập tốt, sẵn sàng phục vụ cho đất nước và nhân dân khi ra trường

Trân trọng /

Trang 6

vi

MỤC LỤC

Trang

Lý lịch khoa học i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Abstract v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH 5

1.1 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Giải pháp 8

1.2.2 Chất lượng huấn luyện 9

1.2.3 Nâng cao chất lượng huấn luyện 9

1.2.4 Giáo dục thể chất 9

1.3 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng huấn luyện 10

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa môn học GDTC 10

1.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường ĐH, CĐ 11

1.3.3 Phương pháp dạy học 14

Trang 7

vii

1.3.4 Phương pháp huấn luyện trong GDTC 22

1.3.5 Chất lượng công tác huấn luyện 23

1.4 Phương pháp huấn luyện kỹ năng thực hành 24

1.4.1 Quy luật hình thành kỹ năng 24

1.4.2 Quá trình hình thành kỹ năng 25

1.4.3 Phương pháp luyện tập, huấn luyện kỹ năng thực hành 26

1.5 Định hướng tích cực và vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học và tập luyện tích cực trong giờ học tại thao trường 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHÂT CỦA HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II 35

2.1 Sơ lược chất lượng giảng dạy/học tập môn Giáo dục thể chất tại Việt Nam 35

2.2 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Cảnh sát Nhân dân II 36

2.3 Thực trạng dạy học môn GDTC cho HSSV Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 40

2.3.1 Chương trình môn học GDTC của Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 40

2.3.2 Giảng viên và cơ sở vật chất dạy học môn GDTC của Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 41

2.3.3 Phương pháp dạy và học môn GDTC của Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 43 2.4 Đánh giá thực trạng dạy học môn GDTC của Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 44

2.4.1 Xây dựng bộ công cụ để khảo sát thực trạng dạy học môn GDTC của Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 44

2.4.2 Kết quả khảo sát 45

2.4.2.1 Kết quả khảo sát HS-SV (sinh viên đang học và sinh viên đã học xong môn GDTC tại Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II) 45

2.4.2.2 Kết quả khảo sát giảng viên giảng dạy môn GDTC tại Trường CĐ Cảnh sát Nhân dân II 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71 Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

HUẤN LUYỆN MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH –

Trang 8

viii

SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II VÀ

THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 72

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 72

3.1.1 Cơ sở pháp lý 72

3.1.2 Cơ sở lý luận 72

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 72

3.2 Các giải pháp đề xuất 74

3.2.1 Giải pháp 1: Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn GDTC theo hướng học tập trải nghiệm (xây dựng chương trình bằng trò chơi; Tổ chức các hội thao (chiến sĩ khỏe); Tổ chức giao lưu ngoại khóa với các trường và địa phương) 74

3.2.2 Giải pháp 2: Tăng cường công tác quản lý và đảm bảo cơ sở vật chất 77

3.2.3 Giải pháp 3: Nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên dạy môn GDTC 78

3.3 Đánh giá các giải pháp 80

3.3.1 Đánh giá bằng phương pháp chuyên gia 80

3.3.2 Đánh giá bằng phương pháp thực nghiệm 82

3.3.2.1 Mục tiêu thực nghiệm 82

3.3.2.2 Quy trình thực nghiệm 82

3.3.2.3 Nội dung thực nghiệm 83

3.3.2.4 Đối tượng 83

3.3.2.5 Thời gian thực nghiệm 83

3.3.2.6 Kế hoạch thực nghiệm 83

3.3.2.7 Kết quả nghiên cứu 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

CHƯƠNG KẾT LUẬN 96

I Tóm tắt quá trình nghiên cứu 96

II Tự đánh giá đề tài 96

III Hướng phát triển của đề tài 97

IV Kiến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 9

Học tập là một quá trình nhận thức của người học trong đó người học đóng vai trò là chủ thể của hoạt động này Người học chỉ có thể hiểu sâu sắc nội dung bài học và chuyển kiến thức đó thành giá trị riêng nếu họ kiên trì và nỗ lực hoạt động trí tuệ để tự khám phá ra những điều hay trong học tập Lòng khao khát hiểu biết, tính tích cực cao trong hoạt động nhận thức, khả năng tự rèn luyện bản thân là những đức tính cần được giáo dục và phát triển cho học sinh – sinh viên (HSSV) ngay trên ghế nhà trường Trong đó, tự rèn luyện bản thân là yếu tố được quan tâm trong hệ thống giáo dục hiện nay mà cốt lõi là việc Giáo dục Thể chất (GDTC) cho HSSV

Tuy nhiên, thực tiễn đào tạo trong các trường Công an Nhân dân (CAND) nói chung và Trường Cao Đẳng (CĐ) Cảnh sát nhân dân (CSND) II nói riêng cho thấy, đối với hầu hết HSSV còn gặp một số khó khăn nhất định do phương pháp và môi trường học tập trong các trường CAND là tương đối mới, nhóm các môn học vừa mang tính

cơ bản vừa mang tính nghiệp vụ cơ sở lần đầu được tiếp xúc còn nhiều điều mới lạ nên phần lớn HSSV chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết của các môn học này, chưa tích cực

và chủ động trong học tập Hơn nữa, vẫn còn không ít HSSV có tư tưởng không coi trọng việc học hay học chỉ để lấy điểm tổng kết… cho nên chất lượng học tập chưa được cao Mặc dù nhà trường đã cố gắng thay đổi nhiều trong phương pháp giảng dạy cũng như trong nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học nhằm nâng cao nhận thức cũng như chất lượng học tập môn GDTC của HSSV nhưng kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội nói chung và của giáo dục nói riêng

Trang 10

2

Trong khi đó, GDTC giúp cho HSSV tiếp thu được các kỹ năng, kỹ xảo vận động và các kiến thức có liên quan với chúng như: Chạy, nhảy, ném, bắn, võ … để phục vụ cho cuộc sống lao động và bảo vệ Tổ quốc Ngoài ra, GDTC còn giúp hoàn thiện các chức năng điều chỉnh của hệ thần kinh, làm tăng trưởng cơ bắp, tăng thêm khả năng chức phận của hệ tim mạch và hệ hô hấp, từ đó sẽ tạo ra một thể lực tốt giúp cho HSSV có sức khỏe, khỏe mạnh để học tập có hiệu quả và đạt thành tích cao hơn

Xuất phát từ những lợi ích trên đã thôi thúc người nghiên cứu tìm ra những giải pháp giúp cho HSSV của trường học môn GDTC đạt chất lượng và hiệu quả hơn cũng như giúp cho khả năng tự rèn luyện bản thân của các em đáp ứng được yêu cầu của nhà

trường Vì vậy, người nghiên cứu chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng huấn

luyện môn Giáo dục Thể chất cho Học sinh – Sinh viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu và vấn đề nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu:

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho HSSV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

Vấn đề nghiên cứu:

Nội dung học môn GDTC rất nhiều khiến cho HS-SV dễ nản chí và không tích cực trong tập luyện, từ đó người nghiên cứu muốn đưa các giải pháp hỗ trợ vào trong nội dung học để tạo hưng phấn trong tập luyện Ngoài ra, khi áp dụng phương pháp hỗ trợ sẽ có các động tác bổ trợ giúp bài tập luyện tốt hơn

3 Đối tượng và khách thể:

Chất lượng dạy học môn GDTC tại Trường Cao đẳng CSND II

Khách thể:

- Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học môn GDTC tại Trường CĐ CSND II

- Khách thể điều tra:

Trang 11

3

HSSV Trường CĐ CSND II đang học môn GDTC tại Trường CĐ CSND II; HSSV Trường CĐ CSND II đã học xong môn GDTC tại Trường CĐ CSND II; Giảng viên giảng dạy môn GDTC tại Trường CĐ CSND II

4 Giả thuyết nghiên cứu:

Chất lượng huấn luyện môn GDTC tại trường CĐ CSND II sẽ đạt hiệu quả hơn

trong việc tạo hưng phấn học tập và tính tích cực trong giờ học GDTC của HS-SV khi

áp dụng các giải pháp đã được đề xuất

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Không gian: Trường Cao đẳng CSND II

- Thời gian: Từ tháng 4 và tháng 5/ 2016

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Trang 12

4

- Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan (nhằm giải quyết nhiệm vụ 1)

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Sử dụng phiếu điều tra nhằm khảo sát thực trạng thái độ, nhận thức của HSSV

về việc học tập môn GDTC của HSSV hiện nay (nhằm giải quyết nhiệm vụ 2 và nhiệm

vụ 3)

Quan sát hoạt động học tập môn GDTC của HSSV diễn ra ở trường CĐ CSND

II thông qua việc dự giờ các buổi học, các hoạt động ngoại khóa nhằm quan sát những hành vi, thái độ của HSSV trong quá trình tham gia (nhằm giải quyết nhiệm vụ 2)

Trong quá trình quan sát có ghi chép, nhận xét, đánh giá những kết quả thu được, bổ sung tư liệu thực tiễn và so sánh với những phương pháp nghiên cứu khác

Được sử dụng như là công cụ thu thập thông tin bổ trợ cho phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi soạn sẵn Các cuộc phỏng vấn sẽ chủ yếu tập trung vào việc đánh giá thiết thực, phù hợp với nội dung cũng như tính khả thi của các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện môn GDTC cho HS-SV Trường Cao Đẳng CSND II

Sử dụng loại thực nghiệm kiểm tra (kiểm chứng các giả thuyết khoa học) để xác định, đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học xây dựng chương trình bằng trò chơi đối với môn GDTC tại Trường Cao Đẳng CSND II

Thông qua hai bài kiểm tra môn GDTC của HS-SV Trường Cao Đẳng CSND II

để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của các HS-SV và hoạt động tạo ra hai bài kiểm tra đó

7.3 Các phương pháp thống kê toán học:

- Các thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê suy diễn để trình bày kết quả từ phiếu khảo sát đã thu về

Trang 13

5

PHẦN NỘI DUNG Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

Năm 2007, tác phẩm “Hungarian PE Teachers’ Opinions About Current Issues

Of PE Learning And Teaching Methods” (tạm dịch là “Quan điểm của giáo viên GDTC người Hungary về thực trạng của phương pháp học và dạy GDTC”) của tác giả Éva Leibinger, Pál Hamar, Eszter Volgyi, Henrietta Dancs nói về mong đợi của giáo dục Hungary có được một sự cân bằng giữa cải cách và truyền thống.[23]

Năm 2011, Luận văn Thạc sĩ “Moving towards quality physical education: Physical education provision in Singapore” (tạm dịch là “Hoạt động hướng đến chất lượng GDTC: Điều khoản GDTC ở Singapore”) của các tác giả Michael McNeill, Boo San Coral Lim, Chee Keng John Wang, Wee Keat Clara Tan, Ann MacPhail nói lên tình hình hiện tại của GDTC ở các trường Singapore và so sánh nó ngược trở lại với tiêu chuẩn quốc tế được đề ra và các khuyến nghị [24]

Năm 2012, tác phẩm nghiên cứu “China to promote students’ physical education” (tạm dịch là “Trung Quốc đẩy mạnh GDTC cho HSSV”) của tác giả Xinhua

đã nói lên sự đòi hỏi giới hạn để bảo đảm rằng học sinh trường tiểu học và trung học phải trải qua một giờ mỗi ngày cho các môn thể thao ở sân trường [26]

Trang 14

Cũng trong năm 2013, tác phẩm “Contemporary Issues in the Teaching of PE in Malaysia” (tạm dịch là “Vấn đề đương thời trong việc dạy GDTC ở Malaysia”) của tác giả Eng Hoe Wee nói về tầm quan trọng của GDTC, GDTC là môn học bắt buộc được dạy trong tất cả các trường tiểu học và trung học [25]

Luận văn Thạc sĩ “Trends in the Teaching of Health and Physical Education: A Case Study of Malaysia” (tạm dịch là “Khuynh hướng trong việc dạy GDTC và sức khỏe: Một trường hợp nghiên cứu của Malaysia”) của tác giả Wee Eng Hoe nói lên sự mong đợi trong việc cải thiện nội dung chương trình giảng dạy GDTC và sức khỏe người Malaysia [21]

Luận văn Thạc sĩ “Curriculum reforms and physical education: The conceptual knowledge of the Spanish school population” (tạm dịch là “Sự cải cách chương trình giảng dạy và GDTC: Kiến thức thuộc khái niệm và lý thuyết của tổng thể các trường thuộc Tây Ban Nha”) của tác giả Juan Luis Hernández A1lvarez, Roberto Velázquez Buendía, Eugenia Martinez Gorrono đã phân tích sự thay đổi phát sinh bởi việc thực thi chương trình giảng dạy mới trong ngữ cảnh của Luật Giáo Dục Mới ở Tây Ban Nha [19]

theoretical-Tóm lại, có rất nhiều các nghiên cứu nước ngoài đề cập đến việc giảng dạy và học tập môn GDTC, đa số các đề tài đã có nhiều sự cải tiến về chương trình giảng dạy theo hướng hiện đại hóa, đưa ra dược các phương pháp học và dạy GDTC có sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống , tuy nhiên đề tài chưa đưa ra được các phương pháp mang tính tích cực hóa trong học tập cho người học và chưa nghiên cứu về chất lượng huấn luyện môn GDTC

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:

Để từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giảng dạy/học tập môn GDTC theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước, qua các công trình đã nghiên cứu về GDTC của các tác giả trong nước như: “nghiên cứu xác định chính sách

Trang 15

7

và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch công tác thể dục thể thao (TDTT) ngành Giáo dục - Đào tạo từ năm 1998 – 2000 và định hướng đến 2025” của tác giả Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu (1998); “thực trạng phát triển thể chất của HSSV trước thềm thế kỉ XXI” của các tác giả Lê Văn Lâm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trúc Hải, Vũ Bích Huệ (2000)

Ở các phương diện khác nhau hiện có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu nâng cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo trong các trường CAND nói chung

và chất lượng huấn luyện môn GDTC nói riêng Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học cơ sở, người nghiên cứu xin tổng quan một số công trình tiêu biểu như sau:

Đề tài khoa học cấp Bộ (2001) “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Trường Trung học CSND” do TS Đàm Xuân Nhung làm chủ nhiệm Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về hoạt động tổ chức dạy học dựa theo chức năng đào tạo của trường Trung học CSND Đề tài đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản, khảo sát đánh giá chất lượng về hoạt động giáo dục đào tạo trong các trường CAND nói chung Bên cạnh đó, đề tài làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại hạn chế, từ cơ sở trên đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Trung học CSND [9]

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ (2007) “Giải pháp nâng cao hiệu quả

tổ chức, quản lý hoạt động ngoài giờ của học viên các Trường CAND” của tác giả Vũ Đức Khiển, là một công trình nghiên cứu đầy đủ về tổ chức, quản lý học viên trong các hoạt động ngoài giờ học chính khóa Kết quả nghiên cứu đã đề cập toàn diện về thực trạng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, quản lý hoạt động ngoài giờ của học viên các Trường CAND Qua đó, tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cơ bản về công tác tổ chức, quản lý học viên các trường CAND [6]

Đề tài khoa học cấp cơ sở “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, huấn luyện quân sự và võ thuật tại Trường trung cấp CSND II” của tác giả Đỗ Duy Trinh (2010), đã đưa ra được một số đánh giá thực trạng về công tác giảng dạy, huấn luyện quân sự và võ thuật tại Trường trung cấp CSND II (nay là Trường CĐ CSND II) và nguyên nhân dẫn đến hạn chế tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp [16]

Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho nam học viên Trường trung cấp An ninh nhân

Trang 16

8

dân II” của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa (2012), đã đánh giá được thực trạng chất lượng cong tác GDTC tại trường Trung cấp an ninh nhân dân II trong thời gian qua, xác định được các nguyên nhân dẫn đến tồn tại kết hợp với phương pháp phân tích dữ liệu, tác giả đề xuất một số giải pháp bước đầu mang lại hiệu quả thông qua ứng dụng thực nghiệm [8]

Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Nghiên cứu giải pháp phát triển các tố chất thể lực trong giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III” của tác giả Nguyễn Văn

Độ (2014) đã nghiên cứu đánh giá được thực trạng chất lượng giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III Qua kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển tố chất thể lực cho học viên trong giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III [3]

Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn võ Karate-do trong giờ học ngoại khóa bắt buộc tại Trường CĐ CSND II” của tác giả Lê Anh Tám (2014), đã đánh giá được chất lượng huấn luyện võ Karate-do trong giờ ngoại khóa bắt buộc (hoạt động ngoài giờ chính khóa) tại Trường CĐ CSND II và xác định được các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng Qua nghiên cứu, tác giả đã xây dựng được nội dung chương trình môn võ Karate-do trong giờ học ngoại khóa bắt buộc, phù hợp với đối tượng là HSSV của nhà trường [10]

Nhìn chung, đã có nhiều nhà nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện môn GDTC ở các góc độ khác nhau… nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện môn GDTC trong các trường CAND một cách sâu sắc và đầy đủ Tuy nhiên, các công trình khoa học trên là cơ sở định hướng quan trọng giúp tác giả tham khảo và nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ khoa học

1.2 Các khái niệm cơ bản:

1.2.1 Giải pháp:

Theo từ điển tiếng Việt, giải pháp là: Cách giải quyết một số vấn đề nào đó, đưa

ra giải pháp hữu ích, giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ

Theo Business Dictionary: Solution is Answer(s) suggested or implemented to try and solve a question or problem (tạm dịch là “Giải pháp là câu trả lời đã được đề nghị hoặc thực thi để cố gắng giải quyết một câu hỏi hoặc một vấn đề”) [27]

Trang 17

9

Từ các khái niệm trên, theo đề tài này, người nghiên cứu hiểu “giải pháp” có nghĩa là chỉ, vạch ra con đường để đi tới được cái “đích” mình cần đến hay mục tiêu mong đợi, giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn, giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn

1.2.2 Chất lượng huấn luyện:

Chất lượng huấn luyện được người nghiên cứu hiểu theo đề tài này là mức độ tri thức tạo nên giá trị của việc giảng dạy và hướng dẫn luyện tập, nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của người thụ huấn, giúp họ có thể chủ động xử lý những tình huống, vấn đề gặp phải trong thực tiễn Chất lượng huấn luyện ở đây còn được hiểu là chất lượng dạy học

1.2.3 Nâng cao chất lượng huấn luyện:

Người nghiên cứu hiểu “Nâng cao chất lượng huấn luyện” trong phạm vi đề tài này là làm tăng hiệu quả và giá trị của việc giảng dạy và hướng dẫn luyện tập, nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của người thụ huấn, giúp họ có thể chủ động

xử lý những tình huống, vấn đề gặp phải trong thực tiễn

1.2.4 Giáo dục Thể chất:

GDTC là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước

ta, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”

GDTC trong các trường đại học, cao đẳng là một bộ phận quan trọng của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, tạo ra lớp người trí thức mới, có năng lực, phẩm chất, có sức khỏe, đó là những con người

“Phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Muốn vậy, nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ giáo dục về trí tuệ khoa học, trí tuệ, nghề nghiệp, mà còn phải giúp sinh viên trở thành một con người có sức khỏe lành mạnh Mục tiêu chiến lược này thể hiện ở những yêu cầu mới bức bách về sức khỏe, về thể lực của lớp người lao động mới trong công cuộc đổi mới nền kinh tế

xã hội, đặc biệt là nền kinh tế trí thức nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ta hiện nay (Nghị quyết TW.II-Khóa VIII)

Trang 18

10

1.3 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng huấn luyện:

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa môn học GDTC

Đối với toàn xã hội: Từ sau 1945, Đảng ta chủ trương phát triển phong trào

quần chúng Chỉ thị số 106 – CT/TW năm 1958 có nêu: “Vận động quần chúng tham

gia ngày càng nhiều vào phong trào TDTT nhất là các trường học, nhà máy, bộ đội, cơ quan” Căn cứ nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII đều chỉ rõ phát triển TDTT của

quần chúng gây thành một cuộc vận động cách mạng thường xuyên, liên tục và lâu dài

trong cả nước Nghị quyết Đại hội Đảng IX chủ trương “Phát động phong trào toàn

dân tập luyện TDTT, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam” Tất cả các tỉnh

thành trong cả nước đều có phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác

Hồ vĩ đại”

Đối với các trường: GDTC học đường được Đảng ta chính thức đưa vào nghị

quyết Trung ương 8, Khóa III năm 1961: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn

thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp

và Đại học”

Nghị quyết Đại hội Đảng VIII nhấn mạnh “chất lượng và hiệu quả GDTC trong

trường học” Nghị quyết Đại hội Đảng IX nêu rõ “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện: trí, đức, thể, mĩ” Có thể nói về sức khỏe thể lực của thanh niên và sinh

viên được nâng nên đáng kể trong những năm gần đây

Đối với các trường lực lượng vũ trang: Rèn luyện thể lực và hoạt động TDTT được coi là một biện pháp quan trọng để nâng cao sức mạnh chiến đấu Trong lực

lượng CAND, phong trào “Khỏe vì an ninh tổ quốc” luôn được duy trì trong mọi tình

huống [1]

* Vai trò: GDTC có vai trò rất lớn đối với việc nâng cao sức khỏe toàn diện cho con người, tức là phát triển đầy đủ các tố chất như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo và khéo léo Rèn luyện thân thể, tăng cường giữ gìn sức khỏe, tăng tuổi thọ

* Tác dụng: Đối với hệ vận động: Quá trình tập luyện làm thay đổi cấu tạo xương,

tổ chức xương dày hơn, bề mặt xương sần sùi nhất là ở những điểm bám của cơ, tiết diện ngang của xương tăng lên làm cho độ bền cơ học chung của xương tăng lên Tập luyện ảnh hưởng rõ rệt tới hệ cơ, khối lượng và thể tích cơ vân tăng lên đáng kể

Trang 19

11

Đối với hệ hô hấp: Trong quá trình tập luyện GDTC làm tăng khả năng giãn nở của các phế nang, tăng dung tích phổi Người bình thường dung tích sống khoảng 3.500ml, ở người tập luyện đặc biệt là vận động viên bơi lội, bóng nước dung tích sống

có thể đạt tới 6 – 7 lít

Đối với hệ tuần hoàn: Học tập GDTC sẽ làm cho cơ tim phát triển dày lên, tim

to và lực co bóp mạnh hơn, lượng máu mỗi lần tim co bóp đưa vào hệ tuần hoàn đạt khoảng từ 80 – 100centilít, từ đó tăng cường tiềm lực của tim Người bình thường mạch đập lúc yên tĩnh từ 70 – 80lần/phút

Đối với hệ bài tiết: Các tuyến mồ hôi bài tiết một dung dịch nước loãng lên bề mật da gọi là mồ hôi, có chức năng sinh lý rất quan trọng Cùng với mồ hôi, các tuyến

mồ hôi bài tiết ra môi trường bên ngoài các sản phẩm phân hủy của quá trình trao đổi chất Đồng thời qua bài tiết nước tiểu và muối khoáng, các tuyến mồ hôi còn duy trì sự

ổn định áp suất thẩm thấu và thân nhiệt

Đối với hệ thần kinh: Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của hoạt động sống vận động Có cả một hệ thống các cơ quan khác tham gia vào sự vận động của cơ thể Các nơron vận động và cơ vân là bộ phận tích cực nhất tạo nên sự chuyển động của cơ thể và hoạt động thống nhất với nhau, tạo nên bộ máy thần kinh cơ hay bộ máy vận động Những người học GDTC sẽ tác động lên bộ máy thần kinh cơ thích nghi một cách đầy đủ, nhịp nhàng, chính xác hơn Đây chính là biểu hiện trạng thái tâm lý, xuất hiện thời gian ngắn hay dài phụ thuộc vào chế độ tập luyện trong giờ học GDTC [1]

1.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường Đại Học, Cao Đẳng:

Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho HSSV là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà Nước, của ngành giáo dục và đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thì nhất thiết phải coi trọng công tác GDTC trong trường học Đặc biệt là khối trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) chuyên nghiệp vì sinh viên (SV) là những nhân tố nồng cốt đề phát triển đất nước

Đảng và Nhà nước luôn luôn nhất quán: Về mục tiêu công tác GDTC và thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học

kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng,

Trang 20

- Cung cấp cho SV những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường

A D; Mátvêép L P (1993); Khẳng định, “…thể lực là một trong những nhân tố quan

trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC”

Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳng định, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay

Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày 29-04-1993 về

công tác GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ mầm non đến đại học phải đảm

bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho HSSV” Chương trình thể dục và các

hình thức GDTC khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính và lứa tuổi Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn HSSV tập luyện thường xuyên, tổ chức

các ngày hội thể thao của trường và xây dựng thành nề nếp truyền thống “Kiểm tra

tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho HSSV theo quy định của chương trình GDTC”

Trang 21

Cuối mỗi năm học, ngoài kiềm tra lý thuyết, kỹ chiến thuật môn thể thao đã học, SV phải kiểm tra thể lực theo quy định của Bộ hay tiêu chuẩn của trường SV tích lũy đủ điểm của 5 học phần trong đó có điểm “đạt” tiêu chuẩn rèn luyện thân thể mới được cấp chứng chỉ môn học

Ngoại khóa là nội dung học tập bắt buộc ở trương trình GDTC cho SV và được cán bộ giàng dạy TDTT quản lý

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, trong lao động GDTC là một bộ phận của TDTT, là một trong những hình thái hoạt động cơ bản định hướng rõ của TDTT trong xã hội Hay cụ thể nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất thể lực của con người

GDTC và thể thao trường học duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, rèn luyện thân thể để đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy định Trang bị cho SV kiến thức lý luận cơ bản về những nội dung, phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật động tác cơ bản một số môn thể thao (TT) Rèn luyện cho

SV có ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thần tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần

tự giác rèn luyện thân thể Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây

dựng và rèn luyện phong trào TT mạnh mẽ và sâu rộng; “Thực hiện GDTC trong tất cả

các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết SV ”

Trang 22

14

GDTC trong các trường đại học góp phần quan trọng trong việc “nâng cao dân

trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…” xây dựng những lớp người chủ nhân

tương lai cho đất nước

Trên cơ sở tư tưởng đó, GDTC đối với các sinh viên là một việc không thể thiếu được trong công tác giáo dục và đào tạo Sức khỏe được coi như là một vốn quý nhất của con người là tài sản vô giá của quốc gia Nhà nước ta đặt công tác TDTT là ngang hàng với những công tác cách mạng khác

1.3.3 Phương pháp dạy học:

Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965: “Phương pháp dạy học là cách thức

làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng,

kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức”

Phương pháp dạy học theo GS Nguyễn Ngọc Quang là “cách thức làm việc của

thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kỹ năng, kỹ

xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học…”

Như vậy, có nhiều tiếp cận về dấu hiệu khác nhau của khái niệm phương pháp dạy học ví dụ vai trò của giáo viên, học sinh…trong phương pháp dạy học, song dấu

hiệu chung nhất về khái niệm phương pháp dạy học như sau: “Phương pháp dạy học là

con đường, là tổng hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong

quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học” [17]

Phương pháp dạy lý thuyết:

Bao gồm nhiều phương pháp như: Thuyết trình, đàm thoại, thảo luận, giải quyết vấn đề, nghiên cứu tình huống, dạy học theo dự án …

Thứ nhất, phương pháp thuyết trình:

* Định nghĩa:

Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học mà giáo viên dùng lời nói sinh động kết hợp với phương tiện dạy học để trình bày, giải thích, minh họa theo một trình tự nhất định hoặc trình bày kiểu nêu và giải quyết vấn đề, còn học sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tiếp thu, tái hiện tài liệu, nhằm đạt mục đích dạy học là giúp học sinh tham gia để tìm ra kiến thức mới và phát triển thái độ, tình cảm môn học, bài học, hiểu được bài và ghi chép được bài

Trang 23

15

* Đặc điểm nổi bật của phương pháp: Mang tính chất thông báo trong lời giảng của giáo viên; nội dung bài giảng mang tính đồng loạt, ít chú ý cá biệt của học sinh; học sinh tiếp cận một cách thụ động những thông tin đó; phương pháp này cho phép học sinh chỉ đạt tới trình độ tái hiện của sự lĩnh hội

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Thông tin truyền thụ cho học sinh một nội dung mang tính khách thể: báo cáo, miêu tả, kể chuyện, giảng thuật và giảng giải; thông tin về quan điểm, ý kiến về một vấn đề, nội dung mang tính chủ thể: bình luận, nhận xét; thuyết phục, kích thích học sinh nêu quan điểm về một vấn đề nào đó

* Điểm mạnh và hạn chế của phương pháp:

Điểm mạnh: Cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với logic nhận thức và trình độ người nghe, phương pháp thuyết trình đã chuyển tải đến người học một khối lượng lớn thông tin cần thiết cho số lượng lớn học sinh Trong khoảng thời gian ngắn, giáo viên có thể cung cấp cho người học một khối lượng thông tin rất phong phú, được cấu trúc theo một logic chặt chẽ Học sinh tiếp thu tài liệu bằng con đường ngắn nhất Giáo viên chủ động được thời gian và kế hoạch lên lớp; giáo viên có thể cung cấp thêm cho người học những kiến thức mà trong sách giáo khoa chưa kịp cập nhật, trình bày

Hạn chế: Mức độ tiếp nhận và lưu trữ thông tin của người học bị hạn chế; tính

cá thể trong dạy học thấp; ít có sự tham gia tích cực của người học và sự tương tác của người dạy và người học cũng bị hạn chế; thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương pháp khác

* Phân loại: Phương pháp thuyết trình được phân thành ba loại: Giảng giải, giảng thuật và diễn giảng

Thứ hai, phương pháp đàm thoại:

* Định nghĩa: Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó người dạy đặt ra câu hỏi, khích lệ và gợi mở để học sinh dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra

* Đặc điểm: Phương tiện giao tiếp là lời nói, có sự hỏi đáp giữa người dạy và người học; người dạy phải luôn chủ động, khích lệ người học phát huy tính tự giác, tích cực tham gia vào quá trình đàm thoại

Trang 24

16

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Tái hiện kiến thức và củng cố kiến thức; phát triển kiến thức mới; liên thông với kiến thức với kinh nghiệm của học sinh; phát triển năng lực diễn đạt

* Điểm mạnh và hạn chế:

Điểm mạnh: Điều khiển tốt hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh; bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học; giúp người dạy có được sự tương tác, phản hồi từ người học để kịp thời điều chỉnh biện pháp dạy học

Hạn chế: Đòi hỏi người dạy phải biết vận dụng khéo léo; nếu quá nhiều câu hỏi

sẽ mất nhiều thời gian và kế hoạch lên lớp không hiệu quả; nếu tổ chức không hiệu quả, buổi học chỉ có sự đàm thoại của giáo viên và một vài học sinh, chưa thu hút được

cả lớp học

* Phân loại: Phương pháp đàm thoại được phân loại như sau: đàm thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại kiểm tra, đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích – minh họa

Thứ ba, phương pháp thảo luận:

* Định nghĩa: Phương pháp thảo luận là phương pháp dùng lời nói trong đó giáo viên hoặc trưởng nhóm gợi mở động viên và tổ chức cho học sinh tham gia ý kiến về một vấn đề mở, trên cơ sở đó rút ra kết luận, kiến thức mới, xác định và làm sáng tỏ vấn đề, trao đổi ý kiến, tin tức liên quan đến bài học, chuẩn bị cho một kế hoạch tìm tòi hay nghiên cứu vấn đề

* Đặc điểm: Đây là phương pháp tổ chức việc học tập mang tính tích cực, tự giác và có tính chủ thể cao; đòi hỏi người học phải có kiến thức, kinh nghiệm, có đủ tài liệu tham khảo; người học phải tìm ra kiến thức mới dưới sự gợi mở của giáo viên; phát huy tính tích cực, nhìn vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau; phát huy tính dân chủ, hợp tác ở người học

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Tạo cho học sinh có cơ hội lập luận bảo

vệ ý kiến của mình; tạo cho học sinh có cơ hội lắng nghe ý kiến của bạn và điều chỉnh quan điểm của mình; đưa ra một ý kiến quyết định chung của một nhóm hoặc một tập thể từ nhiều ý kiến, kinh nghiệm khác nhau

* Điểm mạnh và hạn chế:

Trang 25

17

Điểm mạnh: Tăng khả năng giao tiếp học sinh và giáo viên, giữa học sinh với nhau; phát huy được khả năng đưa ra ý kiến của mỗi học sinh dưới những góc nhìn khác nhau; phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh; phát huy tinh thần hợp tác, tự

tổ chức của học sinh

Hạn chế: Số người thảo luận nhóm cần có giới hạn; hạn chế về chủ đề ở một số nội dung, một số học sinh; tốn nhiều thời gian chuẩn bị, tiến hành, đúc kết; người học khó chịu vì phải nghiên cứu nhiều, chú ý nhiều, góp ý nhiều, một số người còn chủ quan, thành kiến dẫn đến bảo thủ, ngụy biện, lạc đề

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức của giáo viên nhằm tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề học tập

* Đặc điểm: Đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là xuất phát từ tình huống có vấn đề; quá trình dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành những giai đoạn có mục đích chuyên biệt

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Luyện tập năng lực quyết định, nhận xét của người học; từ các vấn đề giả định, người học có thể nhận định, xử lý và vận dụng vào thực tiễn sau này

* Điểm mạnh và hạn chế:

Điểm mạnh: Đặc biệt phát triển tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề ở học sinh; với tình huống có vấn đề người học thấy được mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới giúp họ củng cố và vận dụng kiến thức Mặt khác học sinh thấy có nhu cầu và hứng thú trong việc tìm kiến thức mới

Trang 26

18

Hạn chế: Tuỳ theo phương pháp cụ thể, nhìn chung tốn nhiều thời gian; không phải bài học nào cũng tạo được tình huống có vấn đề; dạy học nêu vấn đề đòi hỏi mức

độ cá nhân hoá rất cao và giáo viên phải có chuyên môn cao

Thứ năm, phương pháp nghiên cứu tình huống:

* Định nghĩa: Phương pháp nghiên cứu tình huống là phương cách tổ chức nhận thức cho học sinh dưới dạng nghiên cứu tình huống và giải quyết tình huống có vấn đề

* Đặc điểm: Mang tính phức hợp và nhiều tầng bậc; mục đích hàng đầu của phương pháp là việc vận dụng tri thức vào việc giải quyết vấn đề trong những tình huống cụ thể; Học viên được đặt trước những tình huống cần quyết định, họ cần xây dựng các phương án giải quyết vấn đề cũng như đánh giá các phương án đó, để quyết định một phương án giải quyết vấn đề, học viên cần xác định những phương hướng hành động có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra quyết định

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Luyện tập năng lực quyết định, năng lực nhận xét; từ các tình huống cụ thể để hình thành tri thức tổng thể, từ đó người học có thể vận dụng giải quyết các trường hợp cụ thể trong thực tiễn sau này; thử sức tri thức kinh nghiệm của người học, trên cơ sở đó hình thành nhân cách mới

Thứ sáu, phương pháp dạy học theo dự án:

* Định nghĩa: Phương pháp dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học thông qua dự án, trong đó học sinh được đề xuất, thực hiện dự án giải quyết những vấn

đề trong thực tiễn và chuyên môn

* Đặc điểm: Dự án liên quan đến chuyên môn và thực tiễn cuộc sống; nội dung

dự án mang tính tích hợp nhiều lĩnh vực trong một môn hay nhiều môn học khác nhau; hoạt động trong dự án xuất phát từ nhu cầu kinh nghiệm, sự quan tâm, hứng thú của người học và phù hợp với khả năng của người học; hoạt động trong dự án: người học đóng vai trò chủ động, tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm, giáo viên chỉ đóng vai trò tư vấn giúp đỡ, hỗ trợ; dạy học theo dự án khắc phục các hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống như: người học thiếu kinh nghiệm thực tiễn thiếu kiến thức chuyên ngành, không biết làm việc nhóm…

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Giải quyết một vấn đề tổng thể liên môn; nâng cao năng lực hoạt động như thu nhận thông tin, tổ chức thực hiện công việc;

Trang 27

Hạn chế: Tốn nhiều thời gian; học sinh khó tự xác định được dự án dạy học; phải có chương trình đào tạo phù hợp

Phương pháp dạy thực hành:

Phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học hướng đến việc lĩnh hội và hình thành một kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp Hay nói cách khác, phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học mà trong đó học sinh dựa vào sự quan sát giáo viên làm mẫu và tiến hành thực hành tự lực dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành Các phương pháp dạy thực hành bao gồm: phương pháp diễn trình làm mẫu, phương pháp dạy thực hành 4 bước, phương pháp dạy thực hành 3 bước và phương pháp dạy thực hành 6 bước [17]

Thứ nhất, phương pháp diễn trình làm mẫu:

* Định nghĩa: Phương pháp diễn trình làm mẫu là phương pháp dạy học trong

đó giáo viên trình bày các thao tác với đồ dùng dạy học để học sinh trực tiếp quan sát, nhằm nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng…hoặc các thao tác thuộc kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, qua đó người học nhận thức, ghi nhớ và làm theo thao tác mẫu [17]

* Đặc điểm: Giáo viên là người biểu diễn làm mẫu, học sinh quan sát; qua phương pháp diễn trình và làm mẫu người học chỉ đạt mức độ nhận thức chưa rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo

* Mục đích sư phạm của phương pháp: Cung cấp thao tác mẫu để người học lập lại hay vận dụng khi thực hành; nội dung trình diễn có thể là các hành động thực tiễn hay hoạt động trí óc; rèn luyện kỹ năng quan sát, nhận thức quy trình, kỹ năng; giúp người học xác định rõ ràng từng động tác thực hành và quy trình thực hành các động tác ấy

* Điểm mạnh và hạn chế:

Trang 28

20

Điểm mạnh: Người học có thể quan sát được thao tác mẫu và thực hiện theo đúng thao tác mẫu; có sự bố trí và sắp xếp từng nhóm người học nên người dạy có thể quan sát từng đối tượng, nhóm đối tượng để có thao tác mẫu phù hợp; tạo động cơ học tập tốt cho người học

Hạn chế: Hạn chế sự sáng tạo của người học; người dạy khó chủ động được thời gian và kế hoạch lên lớp do phụ thuộc nhiều vào mức độ nhận thức và thực hành của người học

* Phân loại: Phương pháp này được phân thành các loại như sau: Giáo viên làm mẫu, giáo viên và học sinh làm mẫu, học sinh làm mẫu, chuyên gia làm mẫu, giáo viên

sử dụng đồ dùng dạy học hay phương tiện kỹ thuật dạy học để trình diễn minh họa một

số kiến thức (như nguyên lý, sơ đồ, đồ thị, biểu đồ, bản vẽ, vật thật, mô hình …)

Thứ hai, phương pháp dạy thực hành 4 bước: Để dạy kỹ năng lần đầu người ta

chia hướng dẫn mở đầu và hướng dẫn thường xuyên thành một mô hình phương pháp mới là mô hình phương pháp 4 bước Mô hình phương pháp 4 bước là một phương pháp được xuất phát từ thuyết hành động và được cải tiến thành 4 bước có sự diễn trình của giáo viên Nó là một phương pháp quan trọng trong dạy học thực hành mà ở đó học sinh phát triển cả trí tuệ và kỹ năng thực hành Có nhiều tác giả gọi phương pháp này là phương pháp dạy thực hành Phương pháp này được tuân thủ theo nguyên tắc diễn trình/ làm mẫu và làm theo sau đó tiến hành luyện tập [17]

Hình 1.1 Cấu trúc phương pháp dạy thực hành 4 bước

Nhìn sơ đồ trên ta thấy, cấu trúc phương pháp này gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Trình bày thông tin bài thực hành, thao tác cần luyện tập (giới thiệu, làm rõ nhiệm vụ, kiến thức sơ bộ)

Bước 2: Làm mẫu và giải thích (bước/công đoạn công việc là gì? Bước công việc đó làm như thế nào? Tại sao thực hiện công đoạn đó?, đưa ra những điểm cơ bản)

Bước 3: Làm lại và giải thích (làm lại các bước công việc, giải thích lại làm cái gì? Như thế nào? Tại sao?, đặt câu hỏi kiểm tra, sửa lỗi …)

Thông

tin

Làm mẫu

Làm lại

Tự luyện tập

Trang 29

21

Bước 4: Tự luyện tập/ chuyển hóa (tự thực hiện các công đoạn, can thiệp bằng sự giúp

đỡ nếu cần, kiểm tra kết quả, hướng dẫn các kỹ năng tiếp theo)

Thứ ba, phương pháp dạy thực hành 3 bước: Khi học sinh đã có một ít kỹ năng

về hoạt động nghề nào đó, nhằm luyện tập kỹ năng cao hơn, hoặc những kỹ năng đơn giản thì giáo viên sử dụng mô hình phương pháp dạy thực hành 3 bước Phương pháp này có tác dụng tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu các qui trình thao tác thực hành để hình thành biểu tượng và chuyển những tri thức thành kỹ năng thao tác thực hành Chính vì vậy học sinh học tập còn bị động vào những gì giáo viên truyền đạt và phải làm theo [17]

Hình 1.2 Cấu trúc phương pháp dạy thực hành 3 bước

Qua sơ đồ ta thấy phương pháp này gồm 3 bước:

Bước 1: Trình bày thông tin bài thực hành (khơi dậy sự chú ý; giới thiệu, làm rõ nhiệm

Thứ tư, phương pháp dạy thực hành 6 bước: Mô hình phương pháp 6 bước xây

dựng trên cơ sở của lý thuyết hoạt động kết hợp với chức năng hướng dẫn và thông tin tài liệu để kích thích học sinh độc lập giải quyết nhiệm vụ học tập, hình thành nhân cách Mô hình phương pháp 6 bước là một phương pháp đa hợp, trong đó, học sinh tự thu nhận thông tin, nhiệm vụ học tập và tiến hành lập kế hoạch, qui trình, thực hiện chúng theo các phiếu học tập [17]

Trang 30

22

Hình 1.3 Cấu trúc phương pháp dạy thực hành 6 bước

Các bước của phương pháp này gồm:

Bước 1: Những hướng dẫn ban đầu, nhiệm vụ thực hành

Bước 2: Nhóm học sinh tự lập kế hoạch, qui trình làm việc

Bước 3: Nhóm học sinh trao đổi chuyên môn với giáo viên để đi đến quyết định kế hoạch, qui trình

Bước 4: Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch

Bước 5: Kết hợp với phiếu kiểm tra

Bước 6: Cái gì cần phải làm tốt hơn ở lần sau? Trao đổi chuyên môn với giáo viên [17]

1.3.4 Phương pháp huấn luyện trong GDTC:

Gồm các phương pháp sau đây:

Thứ nhất, các phương pháp trực quan:

1 Phương pháp trực quan trực tiếp

2 Phương pháp trực quan gián tiếp

Thứ hai, phương pháp sử dụng lời nói:

1 Kể chuyện, mạn đàm, trao đổi

2 Giải thích hướng dẫn

3 Phương pháp đánh giá bằng lời nói

4 Báo cáo bằng miệng và giải thích lẫn nhau

5 Phương pháp giảng giải

Thứ ba, các phương pháp thực hiện bài tập (tập luyện)

1 Các phương pháp thực hiện bài tập có định mức chặt chẽ về lượng vận động

1 Thông tin

2 Kế hoạch

3 Quyết định

4 Thực hiện

5 Kiểm tra

6 Đánh giá

Trang 31

23

2 Phương pháp tập luyện để tiếp thu động tác

3 Phương pháp tập luyện để củng cố, hoàn thiện kỹ thuật động tác

4 Các phương pháp tập luyện bài tập thể chất không định mức chặt chẽ lượng vận động (trò chơi và thi đấu)

Thứ tư, xác định phương pháp sửa chữa động tác sai trong giảng dạy TDTT

1 Nguyên nhân dẫn đến động tác sai

2 Phương pháp sửa chữa động tác sai

Thứ năm, xác định phương pháp lên lớp giờ GDTC (2 tiết)

1 Các loại bài giảng

2 Cấu trúc giờ GDTC

3 Các hình thức (hay biện pháp) tổ chức tập luyện thông thường

4 Hướng dẫn học trích đoạn băng hình

Thứ sáu, phương pháp biên soạn giáo án giảng dạy GDTC và lập kế hoạch giảng dạy

1 Giáo án kẻ cột

2 Giáo án không kẻ cột

3 Lập kế hoạch trong năm

Thứ bảy, kiểm tra và đánh giá kết quả dạy học GDTC

1 Ý nghĩa

2 Nội dung và hình thức kiểm tra

1.3.5 Chất lượng công tác huấn luyện:

* Nội dung huấn luyện:

Môn GDTC gồm các nội dung:

+ Các kỹ thuật chạy gồm: chạy 1.500m đối với nam, 800m đối với nữ, 100m đối với cả nam và nữ

+ Các kỹ thuật nhảy bao gồm: kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng, kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi

+ Các kỹ thuật bơi bao gồm: kỹ thuật bơi ếch, kỹ thuật bơi trườn sấp

* Hình thức huấn luyện: huấn luyện thực hành ngoài thao trường

* Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác huấn luyện: do phương pháp và môi trường học tập trong các trường CAND là tương đối mới, nhóm các môn học vừa mang tính cơ bản vừa mang tính nghiệp vụ cơ sở lần đầu được tiếp xúc còn nhiều điều mới lạ

Trang 32

24

Trần

A: Đỉnh tạm thời B: Đỉnh

trung gian

nên phần lớn HSSV chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết của các môn học này, chưa tích cực và chủ động trong học tập Hơn nữa, vẫn còn không ít HSSV có tư tưởng không coi trọng việc học hay học chỉ để lấy điểm tổng kết… cho nên chất lượng học tập chưa được cao

1.4 Phương pháp huấn luyện kỹ năng thực hành:

1.4.1 Quy luật hình thành kỹ năng:

Hình 1.4 Đường cong luyện tập hình thành kỹ năng

Các quy luật hình thành kỹ năng được tóm tắt ở Hình 2.4 như trên

Toàn bộ Hình trên cho thấy “Quy luật phát triển không đều” của kỹ năng theo

số lần luyện tập

Ở những lần luyện tập đầu tiên, tốc độ phát triển kỹ năng tăng rất nhanh, gần như tỷ lệ thuận với số lần luyện tập, đến một thời điểm nào đó tùy theo loại kỹ năng (điểm A), tốc độ phát triển giảm dần và thậm chí còn chậm hơn so với trước đó, dù vẫn

tiếp tục luyện tập, điểm A cho thấy “Quy luật đỉnh” Sự giảm sút này không kéo dài

nếu như người học không nản chí mà vẫn quyết tâm luyện tập Qua khỏi đoạn AB, mức

độ hình thành kỹ năng lại tiếp tục tăng lên Đoạn AB thể hiện “Quy luật giảm sút tạm

Kết quả

luyện tập

Số lần luyện tập

Giảm sút tạm thời Cao nguyên

0

C

N

Trang 33

25

thời” Tuy nhiên đến một thời điểm nhất định C, tốc độ hình thành kỹ năng không tăng

được nữa cho dù có tăng số lần luyện tập lên bao nhiêu lần đi chăng nữa Từ điểm C

trở đi (đoạn CD) thể hiện “Quy luật trần” Với từng kỹ năng, cần xác định số lần học

sinh cần luyện tập để đạt tới trần (điểm N)

Không nhìn thấy trên sơ đồ còn có “Quy luật giao thoa kỹ năng”, đó là có một

số kỹ năng đã được hình thành trước gây cản trở cho việc hình thành kỹ năng tập luyện sau, ví dụ: nếu bạn đã biết đánh máy vi tính “mổ cò” bằng ngón tay trỏ thì sẽ rất khó

học được kỹ năng đánh máy vi tính 10 ngón (giao thoa kỹ năng) Nhưng bên cạnh đó

còn có “Quy luật di chuyển kỹ xảo”, đó là có một số kỹ năng đã được hình thành trước lại hỗ trợ cho việc hình thành kỹ năng tập luyện sau, ví dụ: nếu bạn đã biết đi xe đạp thì

sẽ có thuận lợi khi học đi xe máy (di chuyển kỹ năng)

Giáo viên cần nắm vững các quy luật hình thành kỹ năng để đưa ra các quyết định phù hợp về số lần luyện tập cần thiết (điểm N), cần động viên khích lệ để người học không nản chí ở thời điểm nào (các điểm A và B), khi nào cần hỗ trợ để người học tránh được các sai sót khi thực hiện công việc để hình thành kỹ năng [15]

1.4.2 Quá trình hình thành kỹ năng:

Hình 1.5 Quá trình hình thành kỹ năng – Hoạt động của giáo viên và học sinh

Kỹ năng có nhiều loại, nhưng chúng thường được hình thành theo những quy luật nhất định, thường bắt đầu từ việc nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành động

cụ thể, có thể tóm tắt theo hình trên Qua sơ đồ trên cho ta thấy, quá trình hình thành kỹ năng ở học sinh gồm ba giai đoạn:

Thứ nhất, giai đoạn hình thành động cơ và lĩnh hội hiểu biết cần thiết cho hoạt

động Kết quả của giai đoạn này là hình thành biểu tượng và hình ảnh hành động, bao

Định hướng, thông tin kỹ thuật

Bắt chước

Động hình vận động

Kỹ năng Luyện tập

Trang 34

26

gồm nhận thức về mục đích, nhiệm vụ và trình tự các động tác cần thực hiện Để đạt được kết quả này giáo viên phải định hướng tạo động cơ học tập và các hiểu biết cần thiết cho học sinh

Thứ hai, giai đoạn động hình vận động: Nhằm chuyển biểu tượng vận động

thành các vận động tay chân, hay còn gọi là động hình vận động Động hình có được nhờ quan sát và bắt chước một cách có ý thức những động tác đang và đã có trước đây

Để hỗ trợ cho học sinh động hình giáo viên cần phải làm mẫu, giải thích kỹ lưỡng cho học sinh về hành động cần hình thành kỹ năng

Thứ ba, giai đoạn hình thành kỹ năng: Ở giai đoạn này kỹ năng được hình thành

dần dần nhờ tái hiện, lặp đi lặp lại nhiều lần những động hình đã có kết hợp với việc phân tích, điều chỉnh vận động Do đó giai đoạn này giáo viên cần tổ chức huấn luyện cho học sinh

Từ việc phân tích quá trình hình thành kỹ năng trên chúng ta thấy được trong dạy thực hành cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp dạy học đơn lẽ khác nhau tùy theo mục đích và nội dung của từng giai đoạn như phương pháp làm mẫu – quan sát, huấn luyện – luyện tập Các giai đoạn hình thành kỹ năng là cơ sở cho việc thiết kế cấu trúc bài dạy thực hành (giai đoạn hướng dẫn ban đầu, hướng dẫn thường xuyên, hướng dẫn kết thúc) và các phương pháp dạy thực hành đề cập ở phần kế tiếp [17]

1.4.3 Phương pháp luyện tập, huấn luyện kỹ năng thực hành:

Luyện tập là hình thức để hình thành kỹ năng Chúng ta hiểu luyện tập là sự lặp

đi lặp lại một hoạt động một cách có kế hoạch, có hệ thống với mục đích hình thành và củng cố kỹ năng Việc luyện tập của học sinh là trọng tâm của giờ học thực hành Để quá trình luyện tập đạt kết quả tốt, cần làm tốt những việc chủ yếu sau: hướng dẫn ban đầu về mặt chuyên môn và phương pháp; chuẩn bị về mặt tổ chức một cách cẩn thận, chu đáo; thuyết phục học sinh về sự cần thiết của việc luyện tập trong mối liên hệ với mục tiêu chất lượng và số lượng; chỉ dẫn cho học sinh thấy những khó khăn dự kiến có thể gặp phải; khi luyện tập phải tăng mức độ khó đối với học sinh lên một cách có hệ thống Nhiệm vụ hàng đầu của giáo viên trong khi luyện tập là hướng dẫn và theo dõi tất cả học sinh Vì vậy phải bố trí sao cho mọi học sinh đều ở trong tầm nhìn của giáo viên (xếp chỗ bao quát trước mặt giáo viên hay xếp chỗ để giáo viên đi vòng kiểm tra được) và sao cho giáo viên tập trung được vào một số trọng tâm quan sát nhất định

Trang 35

Huấn luyện là một hình thức luyện tập đặc biệt, nói một cách tóm tắt huấn luyện

là sự lặp đi lặp lại nhiều lần một cách có chủ định một công việc với mục đích hình thành kỹ năng (cũng giống như luyện tập) trong các điều kiện giả định Điều đó có nghĩa là người ta áp dụng hình thức huấn luyện khi việc luyện tập trên đối tượng thực không thể làm được hoặc đối tượng thực không phù hợp Việc huấn luyện phải góp phần đẩy mạnh sự đào tạo, dạy học có hiệu quả hơn, lĩnh hội tri thức và kỹ năng có hệ thống hơn, phát hiện và khắc phục sai sót nhanh hơn Để thực hiện huấn luyện đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tốt, phải có một kế hoạch huấn luyện cụ thể [14]

1.5 Định hướng tích cực và vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học và tập luyện tích cực trong giờ học tại thao trường:

a Định hướng tích cực

Trong các hoạt động học tập nói chung và trong các giờ học tại thao trường nói riêng, dưới góc độ hoạt động tâm lý sư phạm, bản chất quá trình nhận thức của người học gồm nhiều yếu tố cấu thành và các yếu tố này có mối liên hệ rất chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, đó là:

- Tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức là chủ thể tỏ thái độ một cách có ý thức với đối tượng nhận thức (có nhu cầu, động cơ, hứng thú… đối với môn học, kiến thức cần phải nắm vững)

- Chủ thể đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ, cách thức cần giải quyết sau khi

đã lựa chọn đối tượng nhận thức (xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, cách thức học để chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động)

Trang 36

28

Chủ thể cải tạo đối tượng nhận thức nhằm giải quyết các vấn đề trong hoạt động học tập chính là cách chủ thể thực hiện hành động để chiếm lĩnh đối tượng nhận thức

và tạo ra sản phẩm của hoạt động học tập

Hiện tượng tích cực và trạng thái hành động học tập tích cực của người học về

bề ngoài giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất Tính tích cực khi được thể hiện trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải thay đổi mà trước tiên là trong ý thức của chủ thể hành động cho nên các thành tố này kết hợp với nhau tạo nên hai hình thái cơ bản của tính tích cực học tập bên trong và bên ngoài

Tính tích cực học tập bên trong, được thể hiện ở sự căng thẳng về trí lực, những

hành động và thao tác nhận thức từ cảm giác, tri giác… đến tư duy, tưởng tượng, đồng thời còn thể hiện ở nhu cầu bền vững đối với đối tượng nhận thức, ở thái độ độc lập ra quyết định trong những tình huống có vấn đề, định hướng, tìm kiếm con đường, phương tiện, phương pháp để giải quyết vấn đề, sự độc đáo trong giải quyết vấn đề

- Tính tích cực học tập bên ngoài, được thể hiện qua các đặc điểm hành vi về

nhịp độ, cường độ học tập cao, học viên rất năng động, luôn hoạt động và hoàn thành những công việc được giao với sự tập trung cao độ

Khi hành động trong học tập mà thiếu những nhân tố đó thì chỉ có thể nói đó là

sự thể hiện trạng thái hành động bình thường của con người, mà không thể xem là hành động học tập tích cực của người học được Cho nên có thể hiểu được tính tích cực của người học được đặc trưng ở “sự nỗ lực thường xuyên nhằm vào một mục đích…hoạt động mang tính chất có kế hoạch, có hệ thống…đạt được một kết quả nhất định”, nghĩa

là người học tích cực thì hoạt động “mang tính chất bình tĩnh”, “đều đặn”, “có phương pháp” và huy động được sức mạnh tinh thần, trí tuệ lẫn thể chất để hoạt động đạt được hiệu quả

Biểu hiện tính tích cực học tập của học viên trong giờ học tại thao trường chính

là “hoạt động hướng vào thay đổi bản thân mình” hay có thể nói hoạt động hình thành nhân cách cho bản thân người học Trong quá trình đó, khi học viên tiếp nhận kiến thức, hình thành ý thức hay kỹ năng kỹ xảo vận động… thì tính tích cực của học viên cũng được bộc lộ, hình thành và phát triển Như vậy, khi học viên nhận thức được đầy

đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập trong giờ học tại thao trường, qua đó cũng có được thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động để thỏa mãn tính

Trang 37

29

tò mò, ham hiểu biết của mình đồng thời thực hiện các hành vi tương ứng với thái độ

đó, thì khi đó người học đã có tính tích cực học tập trong giờ học tại thao trường này bởi vì tâm lý con người là sự thống nhất giữa phản ánh và thái độ

Tính tích cực học tập của học viên cao hay thấp cuối cùng được thể hiện ở kết quả học tập trong giờ học tại thao trường Kết quả học tập của học viên trong giờ học tại thao trường không chỉ thể hiện ở việc lĩnh hội kiến thức mà còn thể hiện ở việc nắm vững kỹ thuật động tác và hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động như khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng, tự đánh giá và vận dụng trong từng tình huống vận động

cụ thể

Do đó giáo viên muốn học viên tích cực chiếm lĩnh kiến thức thì phải luôn đưa học viên vào vùng phát triển gần nhất với nội dung tri thức mới mẻ, phương pháp tích cực, hình thức tổ chức phong phú và có thể lôi cuốn hấp dẫn học viên tham gia chiếm lĩnh kiến thức ấy [13]

b Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học và tập luyện tích cực trong giờ học tại thao trường:

Thứ nhất, phương pháp biến đổi Đây là cách tiến hành tập luyện trong điều kiện

thay đổi, nhằm thực hiện từng nhiệm vụ trong giờ học nhất định Điều kiện thực hiện là thay đổi ở cấu trúc, hình thức động tác, các chỉ số bên ngoài của lượng vận động (khối lượng), môi trường, sân bãi, trang thiết bị dụng cụ… Phương pháp biến đổi được dưới hai hình thức sau:

- Phương pháp biến đổi liên tục là luyện tập trong điều kiện biến hóa liên tục về các chỉ số bên ngoài của lượng vận động hoặc hình thức, tổ hợp động tác

- Phương pháp biến đổi cách quãng là phương pháp cứ sau mỗi lần cách quãng lại

có thay đổi về các chỉ số bên ngoài của lượng vận động hoặc hình thức, tổ hợp động tác… sau mỗi lần nghỉ, có thể tăng cường độ hoặc khối lượng vận động hoặc có lúc tăng và có lúc giảm

Đặc điểm phương pháp biến đổi thể hiện ở chỗ điều kiện luyện tập thay đổi kéo theo sự biến đổi không ngừng về lượng vận động Như vậy, sẽ có tác động tới chức năng điều khiển, phối hợp giữa các hệ cơ quan trong cơ thể; nâng cao khả năng chịu đựng và thích ứng theo hoàn cảnh thay đổi; nắm vững kỹ thuật động tác và nâng cao năng lực hoạt động… Khi sử dụng phương pháp biến đổi nên chú trọng lựa chọn hợp

Trang 38

30

với các điều kiện biến đổi sau từng lần tập là lượng vận động phù hợp với nhiệm vụ tập luyện cũng như sức chịu đựng của người tập.[13]

Thứ hai, phương pháp động niệm Chính là cách luyện cho học viên tưởng tượng,

tư duy có chủ định, hệ thống quá trình thực hiện một động tác nào đó Đặc điểm của phương pháp này là ở chỗ thông qua tư duy, tưởng tượng, thể nghiệm quá trình thực hiện động tác mà tác động đến tâm lý, sinh lý, làm cho khái niệm về thực hiện động tác

đó càng chính xác và củng cố

Ngoài ra, phương pháp này cũng dễ thực hiện, đơn giản, không mất sức hoặc cần dùng những trang thiết bị phức tạp mà an toàn Tập luyện theo phương pháp này, mạch đập, huyết áp và tính hưng phấn của thần kinh của người thực hiện đều tăng cao hơn nên tăng mức độ tập trung sức chú ý, ghi nhớ động tác thêm sau, chắc, nắm động tác chóng thành thạo (chính xác và nhịp nhàng), nâng cao năng lực tư duy thao tác và hoàn thành động tác; vừa có lợi cho sức khỏe cần củng cố định hình động lực chính xác Phương pháp động niệm được thực hiện qua 3 hình thức:

- Phương pháp động niệm tưởng tượng khẩu ngữ (hoặc nhủ thầm) là sự nhủ thầm trong quá trình thực hiện động tác đồng thời cũng có hoạt động tư duy rõ ràng về động tác thực hiện

- Phương pháp động niệm tưởng tượng ý thức là tái hiện biểu tưởng về quá trình thực hiện động tác, nhưng không dùng ngôn ngữ chỉ dẫn

- Phương pháp động niệm tưởng tượng quan sát là biểu tượng động tác trở thành biểu tượng xung động thì cơ bắp tham gia cùng với hoạt động tưởng tượng dễ có sinh động thần kinh yếu

Qua các hình thức của phương pháp động niệm có thể nhận thấy để đạt được hiệu quả cao khi tập phương pháp động niệm phải cố gắng sao cho lúc tưởng tượng về thực hiện động tác cũng kèm theo những xung động thần kinh tương ứng ở những cơ tham gia động tác Học viên khi áp dụng phương pháp này cần có khái niệm chính xác về động tác mới mong đạt hiệu quả tốt Muốn thế phải dựa vào làm mẫu, giảng giải của giáo viên để tưởng tượng, so sánh giữa các động tác, tập luyện của mình và người khác cũng như sự giúp đỡ sửa chữa động tác của giáo viên

Trong tập luyện theo phương pháp này rất cần trong tập luyện các động tác kỹ thuật khó, phức tạp, có tính mạo hiểm cao và nhất là đối với học viên có năng lực thích ứng

Trang 39

Thứ ba, phương pháp tuần hoàn (theo vòng tròn) Để sử dụng phương pháp này

cần căn cứ vào nhiệm vụ luyện tập, tìm chọn được một số phương tiện tập luyện phù hợp, tạo nên một trạm tập luyện tương ứng để học viên căn cứ vào trình tự, đường hướng chuyển động và yêu cầu tập luyện cụ thể theo quy định mà tuần tự tập luyện quay vòng Phương pháp tuần hoàn có 2 loại cơ bản nhất:

- Phương pháp tuần hoàn theo kiểu “nước chảy” có 2 loại nhỏ hơn (phân tổ và không phân tổ) Trong đó, những học viên luyện theo hàng dọc, tuần tự và tuần hoàn tập luyện theo trình tự, đường hướng và yêu cầu xác định

- Phương pháp tuần hoàn theo kiểu “bánh xe quay” thì người tập được phân đều thành một số nhóm, tổ, mỗi nhóm ở từng trạm (có nội dung tập khác nhau) rồi đồng thời bắt đầu luyện lần lượt chuyển đổi qua hết các trạm

Căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ luyện tập mà xác định phương tiện, khối lượng, các trạm luyện tập và phương thức tuần hoàn Nếu để cải thiện, củng cố kỹ thuật động tác thì nên chọn khoảng 4-6 bài tập là vừa, sao cho học viên có thể chú trọng vào tính chính xác của động tác Còn nếu lấy phát triển các tố chất thể lực là chính thì có thể nhiều hơn số lượng bài tập (khoảng 7-8 bài tập) Những bài tập này phải phù hợp với năng lực vận động của học viên, san bãi trang thiết bị cụ thể…

Khi chọn cái bài tập thì nên chọn những bài tập mà cơ bản học viên có thể tự nghiên cứu thực hiện được Nếu căn cứ vào nhu cầu dạy học, có thể tìm chọn những bài tập đã được giới thiệu qua, nhiều lần ôn luyện, củng cố hoặc bài tập bổ trợ Nếu căn

cứ vào nhu cầu rèn luyện thân thể thì nên chọn các bài tập phát triển các năng lực vận động cơ bản, các tố chất thể lực cùng phẩm chất ý chí… hoặc cũng có thể kết hợp hai yêu cầu trên Khi chọn nhiều bài tập thì nên chú trọng tới ảnh hưởng đa dạng của

Trang 40

Lượng vận động luyện tập liên tục tại từng trạm nên bắt đầu bằng 1/3 sức lực tối đa của học sinh, sau mới dần nâng lên trong quá trình tập luyện, nhưng không lên vượt mức 2/3 Nếu khối lượng lớn thì cường độ nhỏ đi và ngược lại Khi rèn luyện thể lực bằng phương pháp tuần hoàn này, có thể kết hợp với phương pháp tập luyện cách quáng Thông thường, để có thể buộc học viên thực hiện đầy đủ được số lượng động tác theo thời gian quy định cùng với lượng vận động tương ứng ở từng trạm hoặc tập hết một vòng Còn trong quá trình tập cần thực hiện mấy vòng là do yêu cầu luyện tập

và sức chịu đựng của học viên quyết định.[13]

Thứ tư, phương pháp theo nhóm Với phương pháp này, học viên được làm việc

cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vũ đã được phân công sẵn Hơn nữa với phương pháp này học viên thực thi nhiệm vụ mà không cần sự giám sát trực tiếp, tức thời của giáo viên, Một nhiệm vụ mang tính cộng tác là nhiệm vụ mà học viên không thể giải quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên

Hơn nữa, giáo viên cần phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa học viên Trong quá trình hợp tác, công việc thường được phân công ngay

từ đầu cho mỗi thành viên Số lượng học viên trong một nhóm thường vào khoảng từ 5 đến 10 (con số này có thể tang hoặc giảm tùy theo nhiệm vụ của nhóm, cơ sở vật chất hiện có, trình độ của học viên, thời gian dành cho nhiệm vụ…) Nếu như có quá ít người trong một nhóm thì chúng ta không chắc là sẽ thu thập được các quan điểm đa dạng và khác nhau Ngược lại, nếu số lượng người trong nhóm quá lớn thì khó có thể

Ngày đăng: 05/12/2021, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w