TÓM TẮT LUẬN VĂN ------ Dạy học theo dự án là hình thức dạy học góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.Trong đó học sinh thực hiện một nhiệm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HUỲNH THANH TÂM
S 0 9
DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN CÔNG NGHỆ 9
TẠI TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
S KC 0 0 3 7 7 3
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HUỲNH THANH TÂM
DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN CÔNG NGHỆ 9 TẠI TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY MÔN KỸ THUẬT – 601410
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ MINH HÙNG
Tp Hồ Chí Minh, 2012
Trang 3Cô giảng dạy lớp Cao học khóa 18B đã đưa tôi vào thế giới tri thức và niềm tin trong cuộc sống
Xin chân thành cám ơn Thầy TS.Vũ Minh Hùng đã tận tình chỉ bảo, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đang giảng dạy bộ môn Công Nghệ 9 trong địa bàn TX.TDM đã có những ý kiến đóng góp quý báu, đồng thời đã giúp đỡ cho tôi những thông tin thật sự có ích để hoàn chỉnh đề tài
Xin chân thành cảm ơn toàn thể học sinh các lớp 9A1, 9A2, 9A3, 9A4 tại trường THCS Phú Cường đã giúp thực nghiệm đề tài
Cảm ơn tất cả những thành viên trong lớp cao học Lý luận và Phương pháp dạy môn kỹ thuật khóa 18B đã đem đến cho tôi những một tình cảm tuyệt vời để học tập và chia sẻ
Trân trọng và cảm ơn!
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
- -
Dạy học theo dự án là hình thức dạy học góp phần gắn lý thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.Trong đó học sinh thực hiện một nhiệm
vụ phức hợp mang tính tự lực cao mà kết quả của hình thức dạy học này là học sinh làm ra những sản phẩm có thể giới thiệu được đáp ứng yêu cầu mục tiêu tích cực hoá người học hiện nay
Đây là hình thức dạy học mà theo người nghiên cứu nhận định nó đặc biệt thích hợp cho bộ môn Công Nghệ vừa mang tính xã hội vừa mang tính kỹ thuật ứng dụng Môn Công Nghệ trong chương trình đổi mới ngoài việc xen kẽ các tiết thực hành để củng cố kiến thức của các bài lý thuyết, ở lớp 9 môn Công Nghệ có tính hướng nghiệp và cơ bản hình thành kĩ năng nghề nghiệp cho HS, số lượng bài thực hành chiếm 70% thời lượng Chính vì thời lượng thực hành nhiều như vậy nên mỗi bài thực hành HS phải hoàn thành một sản phẩm ứng dụng từ những bài lý thuyết đã học Đó là lí do mà người nghiên cứu chọn đề tài luận văn nghiên cứu “ Dạy học theo
dự án cho môn công nghệ 9 tại trường THCS Phú Cường Tỉnh Bình Dương” với
cấu trúc luận văn gồm những phần chính sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án
Trong chương này người nghiên cứu đã hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến hình thức dạy học theo dự án như : lịch sử của vấn đề nghiên cứu, đặc điểm, ưu và nhược điểm của dạy học theo dự án, cũng như so sánh hình thức dạy học theo dự án với dạy học truyền thống
Chương 2:Thực trạng việc giảng dạy môn Công Nghệ lớp 9 tại trường THCS Phú Cường
Tìm hiểu về thực trạng dạy và học môn Công nghệ 9, chương trình môn
công nghệ 9, đánh giá thực trạng dạy và học ở bộ môn này
Trang 5Chương 3:Vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn Công Nghệ
9 và thưc nghiệm sư phạm tại trường THCS Phú Cường
Trong chương 3, người nghiên cứu đã đưa ra các đề xuất cho việc vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn Công nghệ 9 như : đề xuất tái cấu trúc nội dung chương trình dựa theo các dự án học tập, đưa ra quy trình vận dụng, đồng thời thiết kế 2 dự án học tập tiêu biểu để tiến hành thực nghiệm
để kiểm nghiệm giả thuyết nghiên cứu của đề tài
- Phần kết luận và kiến nghị
Trang 6MỤC LỤC
- -
Lý lịch khoa học……… i
Lời cam đoan……… ii
Mục lục………viii
Tóm tắt luận văn………iv
The thesis abstract……….vi
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ………xii
Danh mục các bảng,biểu đồ, sơ đồ ……….xiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 5
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8
1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.2 Việt Nam 10
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ SỞ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.3 KHÁI QUÁT DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 16
1.3.1 Bản chất của dạy học theo dự án 16
Trang 71.3.2 Phân loại dạy học theo dự án 18
1.3.3 Quy trình dạy học theo dự án 20
1.3.4 Vai trò của người GV và HS trong dạy học theo dự án 22
1.3.5 Đánh giá kết quả của HS trong DHTDA 23
1.3.6 Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHTDA 25
1.3.7 Ưu điểm, giới hạn của dạy học theo dự án 28
1.3.8 So sánh dạy học theo dự án với dạy học truyền thống 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 9 TẠI TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG 2.1.TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG 32
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2.Tình hình đội ngũ cán bộ giáo viên tại trường 33
2.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ MÔN CÔNG NGHỆ 9 MÔĐUN “ LẮP ĐẶT MẠNG ĐIỆN TRONG NHÀ” VÀ YÊU CẦU CỦA BỘ MÔN ĐỐI VỚI HS 34
2.2.1 Giới thiệu sơ lược về môn Công Nghệ 9 34
2.2.2 Yêu cầu của bộ môn đối với HS 36
2.3 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 9 TẠI TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG , TỈNH BÌNH DƯƠNG 36
2.3.1.Nhiệm vụ khảo sát 37
2.3.2 Phương pháp khảo sát 38
2.3.3 Cách thức thu thập số liệu và đánh giá kết quả khảo sát 38
2.3.4 Nguyên nhân của những thực trạng trên 54
2.3.5 Đề xuất biện pháp khắc phục khó khăn hạn chế của thực trạng trên 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
Trang 8Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ
ÁN VÀO TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ 9 VÀ KIỂM NGHIỆM
SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG THCS PHÚ CƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.1.CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP 58
3.1.1.Dựa vào việc phân tích nội dung chương trình môn CN 9 môđun “ Lắp đặt mạng điện trong nhà” 58
3.1.2 Dựa trên cơ sở thực trạng 59
3.1.3 Dựa vào định hướng đổi mới PPDH môn Công Nghệ ở trường THCS 59
3.2.NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 60
3.3 NỘI DUNG CÁC GIẢI PHÁP 60
3.3.1 Giải pháp 1: Cấu trúc nội dung chương trình CN9 theo các dạng dự án 60
3.3.2 Giải pháp 2: Quy trình vận dụng DHTDA cho môn Công Nghệ 9 dựa trên hai mô hình đào tạo nối tiếp và đào tạo tích hợp 65
3.3.3.Giải pháp 3: Đưa ra mẫu giáo án khi vận dụng DHTDA 70
3.4 VẬN DỤNG DHTDA VÀO TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ 9 MÔĐUN “LẮP ĐẶT MẠNG ĐIỆN TRONG NHÀ” 73
3.4.1 Dự án 1 : Giới thiệu về nghề điện dân dụng 73
3.4.2 Dự án 5: Thiết kế mạng điện nơi em thực hiện ước mơ 87
3.5 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DỰ ÁN 90
PHIẾU ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 91
PHIẾU ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN 92
3.6 KIỂM NGHIỆM – ĐÁNH GIÁ 93
3.6.1 Mục đích của kiểm nghiệm – đánh giá 93
3.6.2 Nội dung và phương pháp kiểm nghiệm-đánh giá 94
3.6.2.1 Phương pháp chuyên gia 94
Trang 93.6.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 114
PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 1- KẾT LUẬN 116
2- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 116
2.1- Về mặt lý luận 117
2.2- Về mặt thực tiễn 117
3- HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 118
4- KIẾN NGHỊ 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 101 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế -
xã hội dựa vào tri thức mà giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh
tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Cùng với đó việc gia nhập WTO của Việt Nam trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hoá và xã hội tri thức có thể khẳng định rằng mô hình giáo dục Việt Nam theo tài liệu chiến lược 2001 [1,tr.14] đã
khẳng định:“Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp, chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- công nghệ và triển khai ứng dụng” chính vì thế giáo dục
cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động mà điểm cốt lõi của công cuộc đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), hình thức dạy học (HTDH)
Những đường lối và quan điểm chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và THPT nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau đây:
• CT30/1998/CT-TTg về chủ trương phân ban
• Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới CT GDPT
• Chỉ thị 14/2001/CT-TTg về thực hiện NQ 40
Trang 11• Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
• Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2005) Nội dung căn bản của mục tiêu giáo dục là xác định đào tạo con người phát triển toàn diện Mục tiêu này được khẳng định trong điều 2 của Luật giáo dục 2005
Nguyên lý giáo dục cũng được khẳng định trong điều 3 của Luật giáo dục 2005 là
hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội”
Về PPDH nói chung, luật giáo dục điều 5 quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” Luật giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và
phương pháp giáo dục phổ thông cho từng cấp học
Về nội dung dạy học, điều 28 Luật giáo dục quy định“Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học”
Về phương pháp giáo dục phổ thông, điều 28 luật giáo dục quy định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,tự giác,chủ động, sáng tạo của
HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Từ những đường lối và quan điểm chỉ đạo của nhà nước cũng như những vấn đề thực tiễn của giáo dục Việt Nam cho thấy việc cải cách toàn diện giáo dục THPT và đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ thông
Vậy chúng ta cần làm gì để đổi mới PPDH, hình thức dạy học ?
Kết quả nghiên cứu thực tiễn ở một số trường THPT trong một số năm gần đây
đã đạt được những tiến bộ trong việc đổi mới PPDH Ở những trường đã bồi dưỡng cho đội ngũ GV về đổi mới PPDH và trang bị PTDH mới thì tình hình sử dụng các PPDH đã được cải thiện Mặc dù thuyết trình vẫn còn là PPDH được sử dụng thường
Trang 12xuyên nhất, nhưng đã có sự kết hợp với các PPDH khác, tăng cường thí nghiệm, thực hành, làm việc nhóm, sử dụng các PPDH tích cực
Là một người đang theo học thạc sĩ ngành phương pháp giảng dạy, người nghiên cứu nhận thấy rằng có rất nhiều cách để đổi mới PPDH,HTDH với những hướng tiếp cận khác nhau.Việc đổi mới PPDH, HTDH đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức và quản lý Ngoài ra cách dạy và cách học còn mang tính chủ quan Do đó mỗi GV với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến PPDH, HTDH Ở trong luận văn này bằng những kiến thức tích lũy và những nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu và kinh nghiệm cá nhân cũng như điều kiện nhà trường, điều kiện thời gian có hạn thay vì như những nhà giáo dục lớn trong nước và trên thế giới
họ đưa ra PPDH,HTDH mới để góp phần đổi mới giáo dục theo hướng tích cực hóa người học thì người nghiên cứu thông qua những PPDH,HTDH này muốn vận dụng chúng vào trong việc giảng dạy môn Công nghệ 9
Sách giáo khoa Công nghệ 9 được biên soạn theo chương trình trung học cơ sở môn Công Nghệ ban hành kèm theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 24 tháng 01 năm 2002.Sách giáo khoa Công nghệ 9 được biên soạn theo hướng bám sát mục tiêu đào tạo, đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực của học sinh, qua đó hình thành và phát triển phương pháp tự học, nâng cao năng lực tư duy Cấu trúc sách giáo khoa Công nghệ 9 đều thống nhất chia ra thành các bài, đa số các bài được viết với thời lượng 2-3 tiết để đảm bảo thời gian để học sinh có thể hoàn thành các bài thực hành, một số bài lý thuyết với thời lượng 1 tiết Kiến thức được trình bày theo nguyên tắc thống nhất theo sự phát triển liên tục, nhất quán, hợp lí Tuy nhiên trong thực tiễn giảng dạy ở bộ môn Công nghệ thì giáo viên chưa chú ý đến việc rèn luyện khả năng giải quyết các nhiệm vụ tổng hợp cũng như phát huy tính sáng tạo và ít có điều kiện chú ý đến những nội dung cập nhật, ít thể hiện sự tương tác giữa các thành tố của hệ thống dạy học ( hỏi- đáp kiểu tìm tòi, phát hiện, thảo luận, nhận xét……)
Từ những lý do nêu trên dẫn đến một yêu cầu cấp thiết là cần đổi mới PPDH,HTDH và vận dụng chúng sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn mà dạy học
Trang 13theo dự án là một trong những phương pháp,hình thức dạy học đáp ứng được yêu cầu đặc trưng bộ môn
Dạy học theo dự án có thể kết hợp giữa kiến thức lý thuyết và thực tiễn, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ phức hợp mang tính tự lực cao mà kết quả của cách dạy này là học sinh làm ra những sản phẩm có thể giới thiệu được đáp ứng yêu cầu mục tiêu đổi mới PPDH hiện nay
Đây là hình thức dạy học mà theo người nghiên cứu nhận định nó đặc biệt rất thích hợp cho bộ môn Công Nghệ vừa mang tính xã hội vừa mang tính kỹ thuật ứng dụng Môn Công Nghệ trong chương trình đổi mới ngoài việc xen kẽ các tiết thực hành để củng cố kiến thức của các bài lý thuyết, ở lớp 9 môn Công Nghệ có tính hướng nghiệp và cơ bản hình thành kĩ năng nghề nghiệp cho HS, số lượng bài thực hành chiếm 70% thời lượng Với thời lượng thực hành nhiều như vậy nên mỗi bài thực hành HS phải hoàn thành một sản phẩm ứng dụng từ những bài lý thuyết đã học
Từ những đặc điểm môn học nêu trên nên việc vận dụng dạy học theo dự án là rất
thích hợp cho bộ môn Chính vì những lí do trên người nghiên cứu chọn đề tài “Dạy
học theo dự án cho môn công nghệ 9 tại trường THCS Phú Cường Tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp vận dụng dạy học theo dự án vào trong giảng dạy môn Công Nghệ 9
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo dự án, thông qua
nghiên cứu này làm cho người đọc hiểu rõ bản chất của dạy học theo dự án (DHTDA), không nhầm lẫn giữa DHTDA với PPDH truyền thống và các phương pháp và hình thức dạy học tích cực hóa HS khác
Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng dạy học môn Công Nghệ 9 môđun “Lắp đặt
mạng điện trong nhà” tại trường THCS Phú Cường và một số trường THCS trong địa bàn Thị xã Thủ dầu một, tỉnh Bình Dương
Trang 14 Nhiệm vụ 3 : Đề xuất các giải pháp để vận dụng dạy học theo dự án cho môn
Công Nghệ 9 môđun “Lắp đặt mạng điện trong nhà” tại trường THCS Phú Cường, tỉnh Bình Dương thông qua việc:
- Đưa ra 3 giải pháp vận dụng DHTDA cho môn Công Nghệ 9
- Vận dụng DHTDA với các đề xuất giải pháp
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án
- Tiến hành kiểm nghiệm sư phạm
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiện nay việc dạy và học môn Công Nghệ 9 tại trường THCS Phú Cường còn nhiều hạn chế, HS chưa hứng thú tích cực và chủ động sáng tạo trong môn học nên hiệu quả học tập chưa cao Nếu vận dụng dạy học theo dự án vào trong quá trình giảng dạy môn Công nghệ 9 như các giải pháp mà người nghiên cứu đề xuất thì góp phần nâng cao hiệu quả học tập của HS ở môn học này tại trường THCS Phú Cường tỉnh Bình Dương
5 ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
5.1.Đối tượng nghiên cứu
Dạy học theo dự án cho môn Công nghệ 9 tại trường THCS Phú Cường, tỉnh Bình Dương
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Học sinh khối lớp 9 đang học môn Công nghệ 9
- Nội dung chương trình môn CN 9 môđun“Lắp đặt mạng điện trong nhà”
- Cơ sở vật chất, thiết bị hỗ trợ cho việc dạy
- Quy trình dạy học môn CN 9 môđun “Lắp đặt mạng điện trong nhà”
- Giáo viên đang giảng dạy môn CN 9 ở trường THCS trên địa bàn TX.TDM
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do đặc điểm của môn Công Nghệ lớp 9 có cấu trúc chương trình gồm 5 mô đun :
- Mô đun 1: Trồng cây ăn quả
- Mô đun 2: Lắp đặt mạng điện trong nhà
Trang 15- Mô đun 3: Sữa chữa xe đạp
- Mô đun 4: Cắt may
- Mô đun 5: Nấu ăn Trong đổi mới giáo dục phổ thông, chương trình môn Công Nghệ lớp 9 được dạy theo môđun Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đây là môn học tự chọn bắt buộc trong chương trình THCS, tùy theo đặc điểm và điều kiện cơ sở vật chất mà mỗi trường chọn 1 mô đun thích hợp để giảng dạy ở trường mình Do vậy, trong phạm vi
nghiên cứu người nghiên cứu chọn môđun “Lắp đặt mạng điện trong nhà” làm đề tài
nghiên cứu ở môn Công Nghệ lớp 9 vì nó phù hợp với đặc điểm và điều kiện nhà trường mà người nghiên cứu đang giảng dạy
Do thời gian hạn hẹp và và qui mô của luận văn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn Công Nghệ 9 môđun
“Lắp đặt mạng điện trong nhà” với các giải pháp đề xuất và thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Phú Cường, tỉnh Bình Dương
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp tham khảo tài liệu
- Nghiên cứu các văn kiện, văn bản pháp qui đổi mới phương pháp dạy học
- Các tạp chí giáo dục, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, số liệu thống kê, thông tin đại chúng, v.v…về phương pháp dạy học
Phương pháp quan sát
Dự giờ lên lớp của giáo viên môn công nghệ ở trường THCS Phú Cường và một số trường THCS trên địa bàn Thị xã
Phương pháp điều tra khảo sát
Điều tra bằng bảng câu hỏi đối với giáo viên và học sinh đã và đang học để khảo sát thực trạng dạy và học môn Công Nghệ 9 tại trường THCS Phú Cường, tỉnh Bình Dương
Phương pháp thực nghiệm.
Thực nghiệm giảng dạy môn Công nghệ lớp 9 theo dự án thông qua việc giảng
Trang 16dạy giữa 4 lớp( 9A1,9A2 lớp ĐC và 9A3,9A4 lớp TN) do giáo viên trường THCS Phú Cường thực hiện nhằm xác định hiệu quả của PPDH mới
Phương pháp phỏng vấn:Phỏng vấn Ban giám hiệu,giáo viên bộ môn ở trường
THCS Phú Cường về sự quan tâm của họ đến bộ môn công nghệ
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Dùng để xin ý kiến của những giáo viên
đã từng ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông (một số giáo viên đã tham gia khóa học dự án của Intel,và một số giáo viên dạy môn Công Nghệ ở địa bàn TP.HCM ), tham khảo để thiết
kế dự án học tập
Phương pháp thống kê : Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm
Trang 17Tư tưởng dạy học theo dự án ban đầu được vận dụng ở Italia, Pháp từ thế kỷ XVII,XVIII sau đó lan sang các nước châu Âu và nước Mĩ.Từ đó đến nay DHTDA
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới Cách học dựa trên dự án được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tâm lí và các nhà giáo dục như Lev Vygotsky, Jerome – Bruner, Jean Piaget và John Dewey
Theo John Dewey (1859-1952) nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lí
thuyết Ông cho rằng HS có thể học cách tư duy thông qua hoạt động tư duy và tranh luận bằng cách giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế Quá trình này cho phép lớp học trở thành môi trường làm việc với HS là trung tâm thông qua mô hình học tập dựa trên dự án Tầm quan trọng của dự án là kinh nghiệm thu được trong quá trình thực hiện chứ không chỉ là kết quả cuối cùng
Năm 1918, nhà tâm lí học William H.Kilpatrick (1871-1965) đã viết một bài báo
với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây một tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên cũng như trong các trường học Ông và các nhà nghiên cứu của trường đại học Columbia đã đóng góp lớn để truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hội nghị và tác phẩm xuất bản năm 1925 Đối với Kilpatrick, một dự án là một hoạt động
có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một
Trang 18môi trường xã hội Trong những giải thích mà họ đưa lại, quan trọng là tồn tại một mục đích
Celestin Fereinet (1896-1966) là người tiên phong ở châu Âu đối với DHTDA,
ảnh hưởng của ông rất mạnh mẽ Theo ông, lớp học trước hết là một nơi ở đó tất cả phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu thông tin, trao đổi các ý kiến hoặc trả lời thu nhận được từ các lớp HS khác hoặc chuẩn bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện hoặc trình bày các bài báo tập hợp được… Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú Khát vọng của Fereinet là tạo nên một cá nhân có đầu óc phát triển tốt hơn là đầu óc được rót đầy kiến thức Nhiều nhà
sư phạm ở châu Âu cũng đã vận dụng “sư phạm bởi dự án”
Jean Piaget (1896 – 1983) nhà tâm lý và giáo dục lớn người Thụy Sĩ trong
thuyết Kiến tạo nhận thức của mình, ông cho rằng học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho mình Đó là quá trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ nhận thức [15,tr 57] Theo ông sơ đồ là một cấu trúc nhận thức bao gồm các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định, được người học xây dựng lên bằng chính hành động của mình
Jemome Bruner (sinh năm 1915) xây dựng mô hình dạy học dựa vào sự học tập
tìm tòi, khám phá của học sinh Theo ông, học sinh phải là người tự lực, tích cực hành động tìm tòi, khám phá đối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng cơ bản từ các tình huống học tập cụ thể[15,tr.63] Giáo viên cần cung cấp nhiều tình huống để học sinh có thể đặt câu hỏi khám phá và thực nghiệm Giáo viên cũng cần tổ chức cho học sinh tiến hành các hành động học tập tương ứng để tìm
ra được các nguyên tắc, các ý tưởng gắn với môn học Khi học sinh được tạo dựng động cơ và được tham gia vào các hình thức hành động khám phá, phù hợp với trình
độ nhận thức của mình thì việc học tập khám phá sẽ mang lại nhiều kết quả tích cực Tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng các tác giả đều nhấn mạnh vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức, đồng thời cũng chỉ rõ vai trò định hướng của người giáo viên trong quá trình dạy học
Trang 19Học tập thông qua dự án cũng tạo nên một chuyển động xã hội – giáo dục từ đầu thế kỉ 20 ở Bắc Mĩ cũng như ở châu Âu nhằm tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường
- Quá trình lịch sử nổi bật của phương pháp dạy học theo dự án có thể được chia làm năm giai đoạn như sau :
Từ 1590-1765: Sinh viên được làm việc theo dự án tại các học viện kiến trúc ở Roma và Paris
Từ 1765-1880: Dự án đã trở thành một PPDH phổ biến ở Pháp , Đức và Thụy Điển.Năm 1865, dự án được giới thiệu bởi Wiliam B.Rogers tại viện công nghệ Massachusetts ở Hoa Kì
Năm 1880-1918: Calvin M.Woodward đã đưa PPDHTDA vào các trường dạy nghề
Năm 1918-1965: Wiliam H.Kilpatrick định nghĩa PPDHTDA và đưa
nó từ Mĩ quay lại Châu Âu
Từ 1965- nay: Khám phá ý tưởng về phương pháp dạy học theo dự án
và làm nó phổ biến trên toàn cầu
số năm gần đây, DHTDA đã được đề cập nhiều hơn bằng tài liệu tiếng Việt như : đề
Trang 20án [13], dạy học theo dự án, phương pháp dự án [9],[19], dự án[17] được một số tác giả nghiên cứu :
- TS Nguyễn Thị Diệu Thảo(2009) – Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn Công nghệ
- Ths Lại Thùy Phương(2009) - Vận dụng dạy học dự án vào tổ chức hoạt động ngoại khóa kiến thức chương "Động lực học chất điểm" Sách giáo khoa lý lớp
10 nâng cao
- Ths Đào Thị Thu Thuỷ(2005) -Tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức chương Cảm ứng điện từ sách giáo khoa Vật lí lớp 11 THPT nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập
- Hồ Thanh Liêm(2005), "Project-Based Learning (PBL) và việc ứng dụng vào dạy học môn Vật lý ở trường phổ thông Việt Nam trong tương lai" - Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP.HCM Tác giả đã tổ chức soạn thảo dạy học dự
án chương "Dòng điện trong các môi trường" thuộc chương trình Vật lý lớp 11 nhưng chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm
- Nguyễn Văn Nghĩa , "Tổ chức dạy học các kiến thức phần Những định luật cơ bản của dòng điện không đổi cho học sinh lớp 11 THPT theo quan điểm của dạy học dự án" Luận văn thạc sĩ (tháng 6/2006), ĐHSP Hà Nội Tác giả đã tổ chức được một số nội dung kiến thức đó là dự án lắp mạch điện cho phòng học
và dự án tìm hiểu cấu tạo của pin điện hoá nhưng chưa tiến hành thực nghiệm với học sinh
- Ths.Nguyễn Thu Hằng (2008)“Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức chương Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 nâng cao”
Từ năm 2003,DHTDA được Bộ Giáo dục & Đào tạo kết hợp với tập đoàn Intel triển khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương trình “Dạy học cho tương lai”[43],[44] Chương trình này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các lĩnh vực như toán học, khoa học và công nghệ giúp HS, SV phát triển các kĩ năng tư duy ở cấp độ cao hơn Chương trình cũng hướng dẫn GV cách sử dụng Internet, thiết kế trang Web và triển khai các dự án cho HS Ngoài ra tập đoàn Microsoft cũng rất quan tâm và ủng hộ DHTDA Họ đã triển khai chương trình PIL
Trang 21(Partners in learning) tập huấn cho các GV về một số PPDH thế kỉ 21 trong đó có PPDH,HTDH dự án
Và gần đây nhất vào đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới PPDH theo hướng dạy và học tích cực, Dự án Việt – Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo về dạy và học tích cực cho GV, và DHTDA cũng được chú trọng và giới thiệu chi tiết
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ SỞ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Dự án
Trong từ điển tiếng việt thuật ngữ “dự án” có thể được hiểu đồng nghĩa với “đề án”, trong đó“ dự án” được sử dụng phổ biến hơn [25],[30],[31] Thuật ngữ “dự án”
trong tiếng anh là “ project”, có gốc tiếng Latinh là “ projicere” được hiểu là một đề
án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện để đạt mục đích đặt ra Khái niệm dự án được
sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lí XH
Trang 22và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như một phương pháp hay hình thức dạy học
Theo tiêu chuẩn DIN 69901 của cộng đồng Châu Âu “ Dự án là một dự định, một
kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đề ra Dự án có tính phức hợp , tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt”
Theo Phạm Đức Quang – Phạm Trịnh Mai, khái niệm dự án được hiểu là tập hợp của những hoạt động khác có nhau liên quan với nhau theo một lôgic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định Dự án có tính mục tiêu, tạm thời, hệ thống và duy nhất
Tóm lại có thể hiểu dự án là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, vật chất, nhân lực cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra [27,tr.27]
Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau:
• Có mục tiêu được xác định rõ ràng
• Có thời gian qui định cụ thể
• Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn
• Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác)
• Mang tính phức hợp, tổng thể
• Được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt
Có nhiều loại dự án khác nhau Dựa theo nội dung của dự án có thể phân biệt các loại sau:
• Dự án đầu tư – xây dựng: đầu tư xây dựng, đầu tư trang thiết bị
• Dự án nghiên cứu - phát triển: nghiên cứu, thiết kế,chế tạo các sản phẩm mới,các máy móc,thiết bị,kết cấu kỹ thuật,xây dựng các chương trình, phần mềm.v.v…
• Dự án tổ chức: xây dựng tổ chức mới, thay đổi tổ chức, …
Trang 23• Dự án hỗn hợp: bao gồm một số nội dung đã nêu trên
Quá trình thực hiện một dự án được phân chia thành các giai đoạn khác nhau Cách phân chia phổ biến bao gồm 4 giai đoạn cơ bản sau đây:
• Xác định mục tiêu dự án (giai đoạn chuẩn bị / giai đoạn khả thi)
• Lập kế hoạch dự án (lập kế hoạch và thiết kế dự án)
• Thực hiện dự án (thực hiện và kiểm tra)
• Kết thúc dự án (đánh giá)
Dạy học theo dự án
Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mĩ đã xây dựng cơ sở lí luận cho PP dự án (Project method) và coi đây là PPDH quan trọng để thực hiện DH hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của DH truyền thống Ban đầu nó chỉ được áp dụng khi dạy môn kĩ thuật ở các trường ĐH và Cao đẳng Dần dần nó được sử dụng rộng rãi trong các môn học khác ở trường phổ thông và trở nên phổ biến, nhất là các nước phát triển
Có rất nhiều khái niệm về “dạy học theo dự án” như :
K.Frey, tác giả hàng đầu về DHDA ở CHLB Đức,quan niệm DHTDA là một lý
tưởng của việc dạy và học K.Frey định nghĩa :“Phương pháp dự án là một con đường giáo dục Đó là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng giáo dục Quyết định là ở chỗ: nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một kết thúc
có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được” với định nghĩa này,
K.Frey đã sử dụng thuật ngữ PP dự án và hiểu PP theo nghĩa rộng, đó là con đường giáo dục, đồng thời coi đó là một hình thức của hoạt động học tập [18,tr.34]
Theo tác giả Nguyễn Văn Cường và GS.TSKH Bernd Meier “Dạy học theo dự án (DHTDA) là một hình thức dạy học,trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp,có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ
Trang 24quá trình học tập Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHTDA”[6,tr.129]
Còn theo tài liệu Microsoft- Partners in Learning cho rằng : Phương pháp “học theo dự án” (PBL) là mô hình học tập, trong đó, các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy học viên làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại Mục tiêu của một dự án (được định nghĩa là việc nghiên cứu có chiều sâu về một chủ
đề học tập) là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra [33,tr.11]
Theo tài liệu dạy học cho tương lai của Intel, dạy học theo dự án là phương pháp dạy học hướng học sinh đến việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự án (project) mô phỏng môi trường mà các em đang sống và sinh hoạt [34]
Theo bộ giáo dục Singapore “Học theo DA là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống Quá trình học theo DA giúp học sinh củng cố kiến thức và xây dựng các kĩ năng hợp tác , giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống”[42]
Việc xếp loại DHTDA có nhiều quan niệm khác nhau [18,tr.36] :
- DHTDA với tư cách một PPDH (PPDA): khi hiểu DHTDA là một PPDH, có tác giả hiểu đó là một PPDH theo nghĩa hẹp như một PPDH cụ thể, tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng khái niệm PPDA theo nghĩa rộng
- DHTDA với tư cách là một HTDH : theo quan niệm này, trong DHTDA có nhiều phương pháp cụ thể khác nhau được sử dụng
Như vậy theo người nghiên cứu có thể tóm lược khái niệm DHTDA được trình bày trong luận văn này như sau :
DHTDA là một hình thức dạy học(HTDH) thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: định hướng vào người học, định hướng hành động, DH GQVĐ và quan điểm
Trang 25dạy học tích hợp DHTDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học nhằm tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu được
1.3 KHÁI QUÁT DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.3.1 Bản chất của dạy học theo dự án
1.3.1.1 Mục tiêu của dạy học theo dự án
- DHTDA hướng tới phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực, tinh thần học tập suốt đời
- DHTDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
- DHTDA hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với cuộc sống thực
- DHTDA hướng tới phát triển kĩ năng làm việc và kĩ năng sống như kĩ năng lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, đưa ra và bảo vệ ý kiến
1.3.1.2 Quan điểm của dạy học theo dự án
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hoạt động DH, trong
đó, có sự kết hợp giữa các nguyên tắc DH làm nền tảng, những cơ sở lí thuyết của lí luận DH, những điều kiện DH và tổ chức cũng như các định hướng về vai trò của GV
và HS trong quá trình DH
Ba quan điểm của DHTDA là:
- Quan điểm DH hướng vào người học HS là trung tâm của quá trình DH HS tự
mình tìm ra kiến thức, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự kiểm tra đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhận thức
- Quan điểm DH định hướng hành động DH định hướng hành động dựa trên lí thuyết hành động nhận thức,lí thuyết hoạt động Cơ sở của lí thuyết là trong quá
Trang 26trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, lí thuyết và thực tiễn Quan điểm DH này cũng dựa trên lí thuyết kiến tạo, thông qua hành động
tự lực, HS tự lĩnh hội và kiến tạo tri thức Việc tổ chức quá trình DH được chi phối bởi những sản phẩm hành động đã được thỏa thuận giữa GV và HS
- Quan điểm DH tích hợp Tích hợp (integration) có ý nghĩa là sự hợp nhất, sự
hòa nhập, sự kết hợp Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên kết với nhau và liên
hệ mật thiết với nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất
Như vậy, cũng như các PPDH tích cực khác, DHTDA thực chất là một quá trình:
- Biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục HS tự lực nghiên cứu, tự tìm ra kiến
thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học
- HS cộng tác với các HS khác trong nhóm, trong lớp làm cho kiến thức mà cá
nhân tự tìm ra mang tính XH, khách quan hơn, tức là XH hóa việc học
- GV là người hướng dẫn, tổ chức quá trình cá nhân hóa việc học và xã hội hóa việc học
1.3.1.3 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho DHTDA đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi: định hướng HS, định hướng thực tiễn, định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hóa các đặc điểm của DHTDA như sau [6] :
- Định hướng vào thực tiễn DHTDA tạo ra kinh nghiệm học tập, thu hút HS
vào những dự án học tập trong thế giới thực, gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống XH
- Định hướng người học DHTDA quan tâm đến hứng thú của HS do đó phát
huy được tính tự lực cao, thúc đẩy ham muốn học tập của HS, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng HS tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình học
- Định hướng sản phẩm Kết quả của dự án là những sản phẩm có thể công bố,
giới thiệu được Sản phẩm có thể là vật chất, hoặc phi vật chất, hoặc là một
Trang 27bản thiết kế,hoặc chỉ có thể là một văn bản kế hoạch Tuy nhiên, sản phẩm dự
án phải nghiêng về thực hiện một cái gì đó thực tế dựa trên các thông tin thu thập được chứ không phải chỉ đơn thuần là trình bày lại các thông tin thu thập được
- Mang tính phức hợp Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức
hợp
- Cộng tác làm việc Trong quá trình thực hiện dự án có sự cộng tác làm việc
giữa các thành viên trong nhóm, giữa HS với GV và có thể giữa HS với những người khác bên ngoài nhà trường có liên quan trong dự án Đặc điểm này gọi
là học tập mang tính XH
1.3.2 Phân loại dạy học theo dự án
DHTDA có thể phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại:
Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
Ví dụ : Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” chỉ gói gọn trong nội dung kiến
thức của môn Sinh học
- Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau
Ví dụ : Thực hiện dự án “Nghiên cứu chế tạo máy phát điện vừa và nhỏ”, HS
phải sử dụng kết hợp kiến thức môn Vật lí, Công nghệ, Toán học,… để hoàn thành sản phẩm
- Dự án ngoài chuyên môn: Các loại dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học
Ví dụ : Chẳng hạn dự án thiết kế một buổi trình diễn thời trang cho lứa tuổi
học đường, xây dựng chương trình cho một buổi nói chuyện, gặp gỡ với các chuyên gia tư vấn
Phân loại theo sự tham gia của người học
Trang 28Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức DH chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học [8]
Phân loại theo quĩ thời gian
K.Frey [39][40] thì phân chia :
- Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 – 6 giờ học
- Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày (ngày dự án) nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
- Dự án lớn: Thực hiện với quĩ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (40 giờ học),
có thể kéo dài nhiều tuần (tuần dự án)
Phân loại theo tính chất , nội dung của dự án
Theo Apel và Knoll [38]phân chia
- Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
Ví dụ : HS tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu về tỉ lệ HS bị cận thị trong
nhà trường, dự án tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm môi trường, dự án tìm hiểu về thực trạng an toàn giao thông ở Việt Nam hiện nay
- Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, các quá trình
Ví dụ : Dự án nghiên cứu, chế tạo một máy phát điện, chế tạo một rơle điện từ,
chế tạo một kính thiên văn
- Dự án kiến tạo( thực hành ):Trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như: trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
Ví dụ: Dự án lắp ráp máy điện theo thiết kế có sẵn và vận hành máy điện đó
- Dự án hỗn hợp : là dự án có sự kết hợp của các loại dự án nói trên
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Dự án có tính tổng hợp là
dự án kết hợp nhiều hoạt động khác nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng Nếu giáo viên chỉ giao cho HS một nhiệm vụ học tập chỉ bao gồm việc tìm đọc, chọn lọc và tập hợp những tài liệu lý
Trang 29thuyết sách vở mà không gắn với thực tiễn thì chưa phải là một dự án, mà nó là một dạng của việc làm các bài tiểu luận bài tập lớn, GV cần phân biệt kỹ điều này
Các cách phân loại DHTDA trên đều có thể ứng dụng cho môn Công Nghệ 9 Đặc biệt loại dự án thực hành và dự án hỗn hợp rất thích hợp cho việc dạy môn Công Nghệ ở phổ thông
1.3.3 Quy trình dạy học theo dự án
Trong các tài liệu hiện nay, có rất nhiều quy trình khác nhau về DHTDA được đưa
ra, trong đó có sự khác nhau về phân chia các giai đoạn, các bước như :
- Theo Savoie và Hughes miêu tả quá trình DHTDA gồm 6 bước [33,tr.34] đó là :
1 Xác định một vấn đề dự án phù hợp với người học
2 Liên kết các vấn đề với thế giời/môi trường xung quanh của người học
3 Xây dựng các chủ đề xung quanh vấn đề/dự án
4 Tạo cho người học cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch GQVĐ
5 Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập
6 Yêu cầu tất cả người học trình bày kết quả học tập dưới hình thức một
dự án hoặc chương trình
- Theo quyển phương pháp dạy học giáo dục [36,tr.167] thì đưa ra quy trình
DHTDA gồm 4 giai đoạn:
1 Giai đoạn quyết định
2 Giai đoạn lập kế hoạch
3 Giai đoạn tiến hành
4 Giai đoạn đánh giá
- Theo quyển tài liệu dự án Việt-Bỉ “Dạy và học tích cực- một số phương pháp và
kỹ thuật dạy học”đã giới thiệu quy trình DHTDA gồm 3 bước chính :
1 Lập kế hoạch
2 Thực hiện dự án
3 Tổng hợp kết quả
Tuy nhiên, về cơ bản tất cả các quy trình trên chứa đựng nội dung giống nhau diễn
tả sự tương tác giữa các thành viên tham gia dự án và việc kiểm tra đánh giá dự án
Trang 30luôn được bắt đầu từ giai đoạn phát hiện dự án, mô tả dự án cho đến khi trình bày dự án.Từ đó, theo quan điểm của người nghiên cứu có thể chia quy trình DHTDA ra thành 5 giai đoạn [6,tr.138] vì nó thuận lợi hơn cho người nghiên cứu khi tiến hành xây dựng kế hoạch thực hiện dự án vào trong giảng dạy môn Công Nghệ 9 Được thể hiện cụ thể dưới đây :
Sơ đồ 1.1 : Quy trình dạy học theo dự án
Quyết định chủ đề, mục tiêu DA
2 Xây dựng kế hoạch
Kế hoạch làm việc
Kế hoạch thời gian
Phân công công việc
3 Thực hiện dự án
Thực hiện công việc theo kế hoạch
4 Trình bày sản phẩm
Thu thập sản phẩm Trình bày, giới thiệu sản phẩm
Trang 311.3.4 Vai trò của người GV và HS trong dạy học theo dự án
1.3.4.1.Vai trò của GV
Vai trò của GV trong lớp học“Dạy học theo dự án” rất khác biệt với vai trò mà hầu hết các GV đã quen thuộc trong các lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả các kiến thức rồi truyền lại đến HS, còn với DHTDA thì trong suốt quá trình thực hiện dự
án, vai trò của GV là:
Thúc đẩy vai trò tự chủ của HS trong việc giải quyết nội dung bài học
Hướng dẫn, tham vấn chứ không phải là cầm tay chỉ việc cho HS
Không phải dạy kiến thức trực tiếp mà chỉ gián tiếp bằng các hỗ trợ: các chỉ dẫn, sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, các chuyển giao công việc, các phiếu đánh giá…
Tạo môi trường học tập thúc đẩy PP học tập hợp tác
1.3.4.2 Vai trò của HS
Trong các lớp học theo dự án, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm nhỏ
HS trong lớp, đôi khi cả lớp hoặc một cá nhân nào đó Khi HS nhận được bài tập
hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, HS sẽ thực hiện vai trò:
Tự quyết định cách tiếp cận vấn đề, hoạch định, tổ chức hoạt động nhóm (đóng các vai được chỉ định) để giải quyết vấn đề
Thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của mình
Tập giải quyết các vấn đề có thật trong đời sống bằng những kĩ năng của “người lớn” như cộng tác và diễn giải
Cuối cùng, chính HS trình bày kiến thức mới mà họ đã được biết, tích lũy thông qua dự án (bằng các sản phẩm cụ thể) và đánh giá những gì
đã thu thập được qua sản phẩm của mình
Bằng cách này, mỗi bài học đều thực sự hấp dẫn đối với HS vì vấn đề họ đang giải quyết là vấn đề có thật trong cuộc sống
Trang 321.3.5 Đánh giá kết quả của HS trong DHTDA
1.3.5.1 Mối quan hệ của đánh giá với các thành tố của quá trình DH
Đánh giá phải luôn đặt trong mối quan hệ giữa các thành phần trong cấu trúc của quá trình DH như mục tiêu, phương pháp… Có thể minh họa mối quan hệ giữa chúng
qua hình sau [8]:
Sơ đồ 1.2 : Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình DH
Một trong những mục đích quan trọng của đánh giá là xác định mức độ đạt được của mục tiêu Kết quả đánh giá giúp GV đánh giá được chất lượng học tập của HS đồng thời giúp GV đánh giá được khả năng sư phạm của mình, điều chỉnh phương pháp dạy cho phù hợp với từng nhóm đối tượng Ngoài ra, đánh giá giúp HS tự đánh giá được khả năng tiếp thu bài giảng, tự điều chỉnh cách học… Do vậy, đánh giá giúp điều chỉnh quá trình, đánh giá mức độ đạt được của mục tiêu, điều chỉnh trở lại mục
tiêu Có thể nói mục đích của đánh giá là điều chỉnh, hợp lí hóa quá trình dạy và học
1.3.5.2 Các công cụ đánh giá trong DHTDA
Trong đánh giá chất lượng học, công cụ đánh giá được hiểu là các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật được sử dụng trong suốt quá trình nhằm đạt được các mục đích đánh giá Trong DHTDA có thể sử dụng nhiều loại công cụ để đánh giá chất
lượng HS phổ thông như phiếu hỏi, phiếu học tập, phiếu quan sát, rubric và các bài kiểm tra kết quả học tập của HS GV sẽ căn cứ vào mục đích đánh giá và xây dựng
Trang 33các chỉ số đánh giá cụ thể mà quyết định sử dụng những loại công cụ nào cho thích hợp Sau đây là hai bộ công cụ đánh giá được sử dụng nhiều nhất trong DHTDA
Công cụ thứ nhất là rubric (bảng chỉ tiêu đánh giá).“Bảng tiêu chí đánh giá là
những hướng dẫn, quy tắc, nguyên tắc mà dựa vào đó HS phản ánh, tạo ra kết quả hoặc những hoạt động cần được đánh giá” (Judith Arter, 2000) Nó được thực hiện qua một loạt các tiêu chí thay vì một con điểm Ưu điểm của bảng tiêu chí đánh giá là:
- Dễ sử dụng, dễ giải thích
- Giúp việc đánh giá được khách quan và nhất quán
- Khuyến khích HS đánh giá ngang hàng
- Cung cấp phản hồi cho GV và HS
- HS có thể tham gia vào việc xây dựng bảng tiêu chí để tự đánh giá tiến bộ
- Phù hợp với mục đích DH phân hóa đối tượng
Công cụ thứ hai là hồ sơ quá trình học tập được thể hiện dưới hình thức sổ theo dõi dự án (xem phụ lục 13) Nó là bằng chứng về kết quả hoạt động của từng cá
nhân trong nhóm, bao gồm:
- Các ý tưởng ban đầu
- Kế hoạch thực hiện dự án
- Phiếu phân công nhiệm vụ trong nhóm
- Phiếu tổng hợp dữ liệu
- Thông tin quan sát, tranh ảnh, bài viết hoặc bài báo
- Biên bản thảo luận trong nhóm và kết quả đạt được
- Bảng nhìn lại quá trình thực hiện dự án
- Thông tin phản hồi của GV
Như vậy, khi sử dụng hồ sơ quá trình học tập, GV có thể đánh giá cả quá trình học tập của HS một cách hữu hiệu nhất.Cũng giống như các bộ phận công cụ khác, bộ công cụ đánh giá trong DHTDA cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo độ tin cậy hay mức độ chính xác của phép đo, phản ánh đúng trình
độ người học, đúng mục tiêu đánh giá
Trang 34- Đảm bảo độ giá trị: công cụ đánh giá phải đảm bảo đánh giá được đúng theo
mục tiêu cần đánh giá, đo được cái cần đo
- Đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện: nội dung cần kiểm tra cần phải có phổ đủ
rộng để kiểm tra được đầy đủ các vấn đề, nội dung mà mục tiêu DH đặt ra trong những thời điểm và điều kiện cụ thể
- Đảm bảo sự tương quan hợp lí giữa các yếu tố: dung lượng kiến thức, các loại
kĩ năng cần kiểm tra, thang điểm và thời gian làm bài kiểm tra
- Đảm bảo tối đa yêu cầu khách quan khi triển khai thu thập thông tin bằng các
bộ công cụ Một bài kiểm tra có tính khách quan nếu các GV chấm cùng một bài phải cho điểm như nhau hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sai số cho phép
- Không lạm dụng hoặc quá thiên về một loại công cụ nào đó
- Kết hợp sử dụng nhiều loại công cụ đánh nhằm vào những tiêu chí cụ thể Mỗi loại công cụ đánh giá thường có những ưu điểm và nhược điểm cần phát huy
và hạn chế đến mức có thể
1.3.6 Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHTDA
Trước khi thực hiện hình thức DH này, GV cần rèn cho HS những kĩ năng tối thiểu như kĩ năng thảo luận nhóm, làm việc độc lập, tìm đọc và chọn lọc tài liệu, kĩ năng đánh giá và tự đánh giá, kĩ năng trình bày…
1.3.6.1 Hướng dẫn HS tổ chức hoạt động trong nhóm DHTDA
Đây là khâu rất quan trọng trong DHTDA Hoạt động nhóm là một hình thức tổ chức DH, trong đó HS ở cùng một nhóm trao đổi ý kiến với nhau, hợp tác với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập Cơ sở của DH theo nhóm xuất phát từ những quan niệm mới về bản chất học tập nói chung và việc tổ chức học tập ở nhà trường hiện nay Nguyên tắc cốt lõi là sử dụng các mối quan hệ XH mang tính trực tiếp, đa chiều ở nhiều cấp độ ở các chủ thể để tổ chức DH Mối quan hệ này thể hiện ở hai mặt:
- Mặt nội dung
Nói lên tính chất của các quan hệ xã hội trong học đường, đó là tính hợp tác và tính cạnh tranh lành mạnh
- Mặt hình thức
Trang 35Bao gồm tổng thể các mối quan hệ phong phú, đa đạng giữa các chủ thể trong học đường DHTDA đòi hỏi HS phải làm việc theo nhóm thì mới hoàn thành được nhiệm vụ học tập đã đề ra Làm việc theo nhóm thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên, tăng cường hiệu quả học tập, giúp cho sản phẩm có chất lượng hơn, ít thời gian hơn so với sản phẩm của một cá nhân HS, nhờ đó mà tăng cường trách nhiệm cá nhân và có thể áp dụng được nhiều năng lực khác nhau
- Về cách chia nhóm:
Ngay từ khâu chia nhóm GV cũng nên để ý đến tính công bằng cho các nhóm
Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có ưu và nhược điểm riêng Tùy theo điều kiện cụ thể mà GV áp dụng cách này hay cách khác cho phù hợp Cách 1: Căn cứ vào vị trí chỗ ngồi trong lớp
Cách 2: Chia nhóm ngẫu nhiên theo danh sách lớp
Cách 3: Chia nhóm bạn thân
Cách 4: Chia nhóm thông qua điều tra về trình độ HS, tỉ lệ nam nữ, khả năng sử dụng công nghệ thông tin, đảm bảo trong mỗi nhóm HS có HS khá, giỏi, thành thạo vi tính và khai thác tốt thông tin trên mạng Internet
Về tổ chức thực hiện hoạt động nhóm: Sau khi chia nhóm, GV yêu cầu mỗi nhóm
tự bầu ra một nhóm trưởng có nhiệm vụ điều hành nhóm trong suốt quá trình làm việc và một thư ký để ghi chép lại những hoạt động và những ý kiến thống nhất của nhóm
Các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm trên lớp có thể như sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp
GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
Chia lớp thành các nhóm
Giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn gợi ý cho mỗi nhóm các vấn đề cần lưu ý khi trả lời câu hỏi, hoàn thành bài tập
Bước 2: Làm việc theo nhóm
Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư kí, phân việc cho các thành viên trong nhóm)
Trang 36 Từng cá nhân làm việc độc lập
Thảo luận trong nhóm và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ của nhóm
Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm (không nhất thiết phải là nhóm trưởng hay thư kí)
Bước 3: Làm việc chung cả lớp
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
Các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho nhau
2) Thiết kế nhiệm vụ học tập nhóm
3) Thiết kế nhóm học tập (bao gồm hình thành nhóm, các loại nhóm và cấu trúc nhóm, xác định qui mô nhóm)
4) Thiết lập, duy trì, kiểm soát các mối quan hệ tương tác trong nhóm
5) Tổ chức, hướng dẫn và quản lí, đánh giá hoạt động học theo nhóm
Tóm lại với cách tổ chức học nhóm đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian, công sức
Đứng sau các hoạt động của HS không có nghĩa là phó thác hoàn toàn cho HS mà ngược lại phải theo dõi sát sao, hướng dẫn và có biện pháp hỗ trợ kịp thời Nếu tổ chức hoạt động nhóm tốt, kết hợp với PP đánh giá công bằng, khách quan sẽ kích thích khả năng học tập của HS, ngược lại sẽ làm cho HS chán nản
1.3.6.2 Hướng dẫn HS lựa chọn chủ đề để thực hiện dự án
Đầu tiên, GV phải xác định:
- Dự án HS (hoặc GV) đưa ra phải có liên quan đến chương trình và phần kiến thức đang học
- HS thu được gì sau khi thực hiện dự án
- Nội dung dự án giúp ích được gì cho HS trong việc học
Sau đó, GV cần hướng dẫn HS lựa chọn dự án từ sách giáo khoa Cụ thể như sau:
Trang 37- Tìm những nội dung mà có thể tích hợp các kiến thức và kĩ năng khác nhau
- Tìm những nội dung có tính thực tiễn, liên quan đến các vấn đề lớn mang tính
XH cấp bách, thời sự như: vật liệu, năng lượng, ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật, công nghệ vào đời sống, lao động sản xuất…
- Xác lập được mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng của các môn học
- Từ đó tìm ra những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học, đến thực tiễn cuộc sống từ đó hình thành ý tưởng dự án
1.3.6.3.Hướng dẫn HS tạo bài trình chiếu, trang Web và ấn phẩm trong dạy học theo dự án
Có nhiều chương trình giúp tạo trang web, ấn phẩm và bài trình chiếu trong DHTDA.Trong khuôn khổ luận văn tôi chỉ hướng dẫn HS tạo ra các bài trình chiếu, trang web bằng chương trình Microsoft Powerpoint và Microsoft Publisher (phụ lục 14) và ấn phẩm là các bài báo tường trên giấy khổ A3 hoặc sản phẩm là các mô hình thật do chính các em tự làm dựa trên các chủ đề dự án của các em
1.3.6.4 Hướng dẫn HS đánh giá và tự đánh giá :
Việc đánh giá và tự đánh giá của HS được thực hiện nhờ các bảng tiêu chí đánh giá
và sổ theo dõi dự án (phụ lục 13 + bảng 3.2 chương III) Các bảng tiêu chí này được
• Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
• Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
• Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm
• Phát triển khả năng sáng tạo
• Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
• Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
• Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc
• Phát triển năng lực đánh giá
Trang 381.3.7.2 Giới hạn và điều kiện áp dụng
DHTDA không những đòi hỏi chuẩn bị công phu, mà còn đòi hỏi người dạy và người học có thói quen phù hợp mới có hiệu quả
Thời gian DHTDA thường kéo dài vì vậy rất khó áp dụng cho một tiết học bình thường
- DHTDA đòi hỏi vấn đề nêu ra phải có cấu trúc mở Điều đó yêu cầu khi giải quyết vấn đề phải sử dụng đến kiến thức liên ngành Vì vậy, không phải môn nào, nội dung gì cũng có thể áp dụng được DHTDA
- Không thích hợp trong việc truyền thụ những tri thức lí thuyết có tính hệ thống
- Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- Để DHTDA, GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn, kiến thức liên ngành Do
đó, nhiều GV sẽ cảm thấy phải chịu áp lực trong việc thực hiện chương trình giảng dạy mới
- Nhiều HS có thể sẽ gặp khó khăn khi chủ động định hướng quá trình học tập
1.3.8.So sánh dạy học theo dự án với dạy học truyền thống
So sánh để thấy được sự khác biệt giữa hai vấn đề, vì lý do đó người nghiên cứu tiến hành so sánh nhỏ để làm rõ hơn sự khác biệt giữa dạy học truyền thống và dạy học theo dự án, được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa dạy học truyền thống và dạy học theo dự án [26]
Sự khác biệt của vấn đề học tập ( nội dung học tập)
Nội dung chương trình học bắt nguồn
từ chương trình học (đã có sẵn, không
bắt kịp thực tế cuộc sống), nhiều khi
không hấp dẫn không thiết thực với
học sinh
Nội dung học tập bắt nguồn từ thực tế cuộc sống, vì thế luôn cập nhật, tạo nên
sự hứng thú, hấp dẫn ,thiết thực với học sinh
Sự khác nhau trong giải quyết vấn đề
Trang 39- Giải quyết vấn đề thường dựa trên
yêu cầu chủ quan của giáo viên một
cách khô cứng, giáo điều, máy móc
- Học sinh giải quyết vấn đề một cách
độc lập, sản phẩm cuối cùng mang
năng dấu án cá nhân
- Giải quyết vấn đề dựa trên yêu cầu tử thực tiễn xã hội, có thể phải giải quyết nhiếu vấn đề phát sinh trong cùng một thời điểm
- Học sinh giải quyết vấn đề trên hai phương diện :cá nhân, tập thể Sản phẩm cuối cùng là sự kết hợp giữa cá nhân và tập thể Tuy nhiên tính tập thể đặt lên hàng đầu
Sự khác biệt về hoạt động học tập
- Các hoạt động học tập chỉ tập trung
giải quyết nội dung đã có sẵn trong
giáo trình, không phong phú, thiếu linh
hoạt, dễ gây nên sự nhàm chán
- Hoạt động cá nhân
- Các hoạt động học tập chỉ tập trung giải quyết các vấn đề từ thực tế của cuộc sống luôn thay đổi, phong phú, linh hoạt hứng thú
- Hoạt động cá nhân trong tập thể
Sự khác biệt về đánh giá
Người đánh giá là giáo viên Người đánh giá là tập thể lớp GV và xã
hội ( người sử dụng sản phẩm)
Sự khác biệt về kết quả hoạt động học tập
- Kết quả học tập là sự “ trả bài” cho
GV , càng trả lời đúng quan điểm của
giáo viên kết quả càng cao
- Năng lực học sinh có được là sự máy
móc
- Kết quả là sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Mức độ đáp ứng của sản phẩm so với nhu cầu xã hội càng cao đồng nghĩa với kết quả càng cao
- Năng lực HS có được là năng lực thích nghi với thực tiễn cuộc sống
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những cơ sở lý luận trên ta nhận thấy rằng DHTDA là một hình thức dạy học góp phần thực hiện quan điểm dạy học định hướng người học,lấy HS làm trung tâm Việc nghiên cứu sâu lí luận DHTDA và vận dụng một cách sáng tạo vào dạy học ở Việt Nam là một vấn đề mang tính thời sự, cần có sự quan tâm của các nhà giáo dục
và các GV.Trong đề tài luận văn ở chương 1 từ những phân tích, tổng hợp các nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước đã giải quyết được các vấn đề sau :
- Đưa ra nhận định riêng về khái niệm dạy học theo dự án, trong đó xem DHTDA
là hình thức DH phức hợp
- Phân loại DHTDA theo các dấu hiệu như quĩ thời gian, chuyên môn……
- Đưa ra 5 đặc điểm cơ bản của DHTDA, qua đó làm cơ sở để phân biệt với các PPDH khác và các hình thức học tập khác
- Xây dựng tiến trình chung cho DHTDA
- Đưa ra ưu và nhược điểm của DHTDA, và nêu bật lên vai trò của GV và HS trong DHTDA
- Tóm lược được sự khác biệt của dạy học truyền thống và DHTDA từ đó đưa ra những ưu điểm nổi bật của DHTDA cũng như những nhược điểm mà DHTDA vẫn đang còn tồn tại
Qua đây ta thấy DHTDA góp phần khắc phục những nhược điểm của PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, PP thực hành 4 bước, 3 bước… nhưng không thay thế mà là sự bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống, nhờ vậy DHTDA sẽ giúp người học rút ngắn quãng đường từ nhà trường đến xã hội, giúp người học hiểu rõ hơn về thực tiễn khi họ còn đang ngồi trên ghế nhà trường