Đề xuất giải pháp từ Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp để vượt qua khó khăn và phục hồi hoạt động sản xuất-kinh doanh a Tác động của đại dịch Covid - 19 tới kinh tế Việt Nam: Tăng trưởng kin
Trang 1BÀI TẬP NHÓM CHƯƠNG 4
MÔN HỌC: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
LỚP: K194021C NHÓM: 4 THÀNH VIÊN:
Nguyễn Ngọc Minh Anh, MSSV: K194020199 Nguyễn Huỳnh Trang Nhã, MSSV: K194020212 Trần Nguyễn Ngọc Thảo, MSSV: K194020220 Nguyễn Thanh Tùng, MSSV: K194020230
Trang 2BÀI TẬP NHÓM CHƯƠNG 4_K194021C
4.1 Phân tích tác động của đại dịch Covid - 19 tới kinh tế Việt Nam Đề xuất giải pháp từ Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp để vượt qua khó khăn và phục hồi hoạt động sản xuất-kinh doanh
a) Tác động của đại dịch Covid - 19 tới kinh tế Việt Nam:
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã phục hồi nửa đầu năm 2021 chủ yếu do lưu lượng thương mại tăng cao, nhưng chậm lại từ giữa năm do làn sóng đại dịch lần thứ tư cùng đợt phong tỏa kéo dài đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và thị trường lao động
TIÊU CỰC:
Tăng trưởng các khu vực kinh tế chậm lại hoặc sụt giảm: Theo dữ liệu của
6,17%, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay
- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt tăng trưởng dương 1,04% nhưng vẫn
thấp nhất trong 10 năm qua Lưu thông, vận chuyển hàng hóa giữa các tỉnh, thành phố bị hạn chế tối đa, thậm trí mọi loại hình vận tải phải ngưng hoạt động tại các tỉnh giãn cách
xã hội Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm ngừng thu mua nông sản, doanh nghiệp đóng hàng xuất khẩu không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng khiến nhiều nông sản không thể xuất khẩu Không thể tiêu thụ sản phẩm do ách tắc khâu lưu thông, chi phí vận tải, bảo quản tăng cao nên giá thu mua hàng nông sản giảm mạnh nhưng giá bán tới tay người tiêu dùng ở mức cao do chi phí lưu thông tăng cao
- Khu vực công nghiệp và xây dựng suy giảm ở hầu hết các ngành trong quý III,
chỉ số toàn ngành công nghiệp ước tính quý III/2021 tăng trưởng âm, giảm 4,4% so cùng
kỳ năm trước Trong đó giảm mạnh nhất là ngành xây dựng và khai khoáng với mức giảm lần lượt là 11,41% và 8,25% Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn giữ vai trò là động lực tăng trưởng của nền kinh tế thì sang quý III giảm 3,24% Sản lượng đã giảm đáng kể vì nhiều nhà sản xuất phải tạm ngưng hoạt động, những doanh nghiệp khác thì bị khan hiếm nhân công và khả năng sản xuất bị hạn chế Những biện pháp hạn chế để phòng chống dịch cũng đã khiến số đơn đặt hàng mới sụt giảm nhanh hơn trong tháng thứ ba liên tiếp và với tốc độ nhanh nhất từ 16 tháng qua
Trang 3- Khu vực dịch vụ quý III/2021 giảm kỷ lục do thời gian giãn xã hội cách kéo dài
(giảm 9,28%) Trong đó, ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 54,8% (20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 chiếm 63% ngành dịch
vụ cả nước); vận tải kho bãi giảm 21,1%; bán buôn, bán lẻ giảm gần 20% Giãn cách xã hội khiến cho các hoạt động thương mại, lưu trú ăn uống rơi vào tình trạng bế tắc Hầu hết các cơ sở kinh tế trong lĩnh vực này phải đóng cửa; chỉ một số cơ sở lưu trú được phép cung cấp dịch vụ cho người bị cách ly có thể hoạt động cầm chừng để duy trì không rơi vào tình trạng phá sản
Hoạt động kinh tế quý III/2021 suy giảm mạnh chủ yếu do các biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt được áp dụng trên phạm vi rộng, thời gian kéo dài theo Chỉ thị 16 để kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và
Hà Nội; tổng GRDP của 20 tỉnh, thành phố này chiếm gần 57% GDP Do chiếm tỷ trọng lớn nên mỗi biến động trong tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố trọng điểm này đều có ảnh hưởng không nhỏ tới GDP của toàn nền kinh tế
Vị thế trung tâm sản xuất bị lung lay:
đến”, nhưng mô hình này rất khó được duy trì lâu dài đối với người lao động và rất tốn
chi phí vận hành rất lớn, lực lượng lao động thiếu hụt do nghỉ việc, cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã không thể hoàn thành đơn hàng đúng hạn, phải giãn hoặc hủy bỏ hợp đồng Một số công ty đa quốc gia phải mướn phòng cho các lãnh đạo của họ tại các khách sạn gần trụ sở công ty Các công ty lớn thì có thể chịu được các chi phí về khách sạn, nhưng còn các công ty sản xuất các sản phẩm có giá
nghiệp bị phá sản, giải thể do kiệt quệ, không đủ lực để chống chịu dịch bệnh kéo dài Một số doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng, trì hoãn việc sản xuất do không hiệu quả, thua lỗ trong điều kiện rất khó khăn Nhiều doanh nghiệp không có đủ nguyên vật liệu để sản xuất nên không đáp ứng đủ đơn hàng đúng hạn, phải dãn hoặc hủy bỏ hợp đồng đã ký, trong đó có nhiều đơn hàng xuất khẩu
Ảnh hưởng đến nguồn cung và chuỗi cung ứng hàng hóa Thế giới:
- Với cà phê: Các biện pháp hạn chế của Việt Nam để phòng chống dịch Covid-19
cũng đang gây lo ngại ngày càng nhiều cho chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu, bởi vì Việt
Trang 4Nam là hiện là quốc gia xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai thế giới Nhật báo Anh Independent cho biết là do Sài Gòn, trung tâm xuất khẩu chính của Việt Nam, đang hạn chế đi lại, cho nên việc vận chuyển cà phê robusta từ Việt Nam bị ảnh hưởng rất nhiều, trong khi đây là loại cà phê được dùng nhiều nhất để sản xuất cà phê hòa tan uống liền và một số nhãn hiệu cà phê espresso Số tàu container ít đi, thì chi phí vận chuyển tăng lên Một số vùng trồng cà phê ở Việt Nam hiện cũng bị các biện pháp hạn chế phòng chống dịch dẫn đến thiếu hụt nguồn cung
- Với may mặc: chuỗi cung ứng hàng may mặc toàn cầu bị chậm lại Trong những
năm gần đây, nhiều nhà bán lẻ và nhà cung cấp đã chuyển hoạt động từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á để đa dạng hóa nguồn cung Các thương hiệu lớn như Nike, Lululemon, Gap cho biết một số lượng đáng kể các sản phẩm của họ nay được sản xuất
từ Việt Nam Nhưng do Việt Nam ban hành các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt, các công
ty buôn bán hàng may mặc nay còn gặp khó khăn hơn về nguồn cung Ngành dệt may hiện đang đối mặt với những khó khăn chưa từng có và dự báo khó có thể đạt con số xuất khẩu năm 2021 như dự kiến là 39 tỷ USD Báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết chỉ trong vòng 1 tháng, "số lượng lao động tạm thời không thể đi làm của tập đoàn đã lên tới trên 40.000 người, chủ yếu tại khu vực phía Nam" Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), "việc thực hiện giãn cách xã hội kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của các công ty dệt may với khoảng 50% nhà máy đặt tại miền Nam" Hiện tỷ lệ nhà máy dệt may phải đóng cửa đã lên tới 35% do không đủ kinh phí để thực hiện "3 tại chỗ."
- Thủy hải sản: Các biện pháp an toàn dịch tễ, giãn cách xã hội ở hàng chục tỉnh
thành phía Nam, các cơ sở chế biến thủy sản hạn chế hoạt động, khiến sản lượng thủy sản của Việt Nam giảm mạnh Những khó khăn trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, cũng như sự bất định về mức cầu và về khả năng xuất khẩu sẽ ảnh hưởng nặng nề đến mùa thu hoạch tôm thứ hai trong năm Nhiều người gặp khó khăn khi tìm mua thức ăn cho tôm,
do tình trạng khan hiếm xuất phát từ việc hai trong số nhà máy lớn nhất về thức ăn cho tôm, chiếm đến 70% nguồn cung cấp, đang đóng cửa do đại dịch Tình hình lại còn khó khăn hơn, do phần lớn các trại nuôi tôm giống cũng đang đóng cửa
Hàng không và du lịch là ảnh hưởng nặng nề nhất:
- Hàng không: Đợt dịch COVID-19 lần 3 bùng phát dịp tết năm 2021 khiến
doanh thu ngành hàng không giảm 80% so với cùng kỳ năm 2020 Cục Hàng không ước
Trang 5tính doanh thu hàng không thiệt hại khoảng 25.000 tỷ đồng, ngành hàng không rơi vào tình trạng "xấu nhất" trong lịch sử 60 năm phát triển, toàn bộ các đường bay bị tạm ngừng
- Du lịch: Theo Hiệp hội Du lịch Việt Nam (VITA), tới 90% doanh nghiệp du
lịch, nhà hàng, khách sạn không hoạt động, 10% doanh nghiệp hoạt động cầm chừng Các doanh nghiệp làm dịch vụ đại lý tour, đại lý bán vé phần lớn cho 100% lao động nghỉ việc Đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải cho 60-90% nhân sự nghỉ việc không lương Thống kê của Tổng cục Du lịch về lượng khách du lịch nội địa, cụ thể trong tháng 9/2021, khách du lịch nội địa giảm xuống còn 0,5 triệu lượt Nhu cầu tìm kiếm thông tin
về cơ sở lưu trú du lịch có lúc giảm gần 90% so với cùng kỳ năm 2020
Công nghiệp sản xuất chế tạo – chế biến bị thiếu hụt nguồn cung ứng nguyên
liệu–linh kiện (phần lớn nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) dẫn đến nguy
cách xã hội như ngành xây dựng, kéo theo những ngành sản xuất vật liệu xây dựng như
xi măng, sắt thép, gạch, gốm, sứ và các thiết bị xây lắp theo công trình sụt giảm sản xuất
do không tiêu thụ được sản phẩm…
Doanh nghiệp ngừng hoạt động: Dịch Covid-19 kéo dài đã làm nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, có tới 69% doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động sản xuất - kinh doanh do dịch, chỉ có 16% doanh nghiệp cố gắng duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù không thể hoạt động toàn công suất,
số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 90,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,3% Tính chung 9 tháng năm 2021, tổng số doanh nghiệp thành lập giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước; quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới giảm 3,1% Một bộ phận doanh nghiệp không phát triển được do sản xuất các mặt hàng không thiết yếu, bị hạn chế lưu thông trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội
NHỮNG ĐIỂM SÁNG TÍCH CỰC: nhìn về tổng thể 9 tháng đầu năm 2021,
nước ta luôn giữ vững được sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát theo mục tiêu và đã thực hiện rất quyết liệt, đồng bộ các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Xuất nhập khẩu vẫn tăng: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng
9/2021 ước tính đạt 53,5 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 9
Trang 6tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 483,17 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,8%; nhập khẩu tăng 30,5% Trong quý III/2021, kim ngạch xuất khẩu đạt 83,89 tỷ USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7,2% so với quý II năm nay (tăng 7% so với quý I)
Tín dụng và Đầu tư tăng trưởng ổn định:
- Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tăng trưởng tín dụng đạt 7,17%, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2021 Kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng khá, đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2021 tăng 13% so với cùng kỳ năm trước; tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán cho nền kinh tế tăng 12%
- Tính đến thời điểm 20/9/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 4,95% so với cuối năm 2020; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 4,28%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,17%
- Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2021 ước tính tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 17%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 5%
- Trong tình hình dịch bệnh kéo dài và diễn ra phức tạp, thị trường chứng khoán phát triển ổn định với tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế trong 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 292,1 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2020 Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 24/9/2021, chỉ số VNIndex tăng 1,5% so với cuối tháng trước và tăng 22,4% so với cuối năm 2020 Giá trị vốn hóa thị trường tăng 30,6% so với cuối năm 2020; giá trị giao dịch bình quân 9 tháng trên thị trường tăng 224% so với bình quân năm
2020 Trên thị trường trái phiếu, đến cuối tháng 8/2021, có 435 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt hơn 1.428 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với cuối năm 2020 Trên thị trường chứng khoán phái sinh, tính chung 9 tháng năm 2021 khối lượng giao dịch bình quân tăng 32% so với bình quân năm trước
- Tổng số dự án đầu tư nước ngoài tính đến 20/9/2021 đăng ký cấp mới giảm 37,8% so với cùng kỳ năm 2020 nhưng số vốn đăng ký tăng 20,6% Vốn đăng ký cấp mới bình quân 1 dự án trong 9 tháng năm 2021 đạt 10,3 triệu USD/dự án (cùng kỳ năm
2020 đạt 5,3 triệu USD/dự án)
Trang 7- Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành 9 tháng tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước
- Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đến tháng 9/2021 tăng 4,4%
so với cùng kỳ năm trước
b) Đề xuất giải pháp cho Chính phủ:
- Chính phủ nên mở rộng thời gian hỗ trợ các chính sách giảm thuế cho các doanh nghiệp kinh doanh Theo dự thảo, đối với các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm 2021 áp dụng với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2021 không vượt quá 200 tỷ đồng; giảm thuế VAT kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2021 đối với doanh nghiệp trong một số lĩnh vực; giảm thuế phải nộp phát sinh từ hoạt động kinh doanh trong quý III và quý IV của năm
2021 đối với hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động trong mọi ngành nghề, địa bàn Trước tình hình dịch bệnh Covid 19 phức tạp thì thời gian hỗ trợ của dự thảo chỉ vỏn vẹn trong năm 2021 còn gây ra nhiều hạn chế Ít nhất đến năm 2022 thì các hoạt động kinh doanh sản xuất mới có thể đi vào ổn định, lợi nhuận sinh ra mới bù đắp được các khoản lỗ bị tổn thất trước đây do đại dịch Do đó, Chính phủ nên xem xét và mở rộng thời gian hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh đến hết quý I hoặc quý II/2022 để giảm bớt các áp lực
về chi phí
- Mở rộng đối tượng được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp Theo dự thảo, đối tượng được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là các cơ sở kinh doanh – sản xuất có tổng doanh thu năm 2021 không vượt quá 200 tỷ đồng Điều này vô hình trung làm một số doanh nghiệp vừa và nhỏ lỡ mất cơ hội được hưởng ưu đãi, vì theo Bộ Luật doanh nghiệp nước ta, doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có tổng doanh thu của năm trước liền
kề không quá 300 tỷ đồng Do đó, Chính phủ nên xem xét và chỉnh sửa lại đối tượng hưởng chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh để thiệt thòi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lẻ chịu các tổn thất nặng nề từ đại dịch Covid 19
- Tăng mức giảm thuế VAT đối với các loại hình kinh doanh dịch vụ vốn bị đóng băng trong mùa dịch như du lịch, rạp phim, nhà hàng, khách sạn để làm động lực hỗ trợ các cơ sở kinh doanh sản xuất trong các lĩnh vực này phục hồi và lấy lại mức tăng trưởng như trước; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tại các ngân hàng để phù hợp với bối cảnh hiện tại, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư và tạo cơ hội cho nhà đầu tư tiếp cận thực
tế các khoản tín dụng ngân hàng
Trang 8- Tiếp tục ban hành, chỉ đạo đúng đắn việc thực hiện các chính sách trợ cấp cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn trong mùa dịch Covid Các nguyên tắc hỗ trợ phải kịp thời, không trì trệ trong diễn biến phức tạp như hiện nay; đúng đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất đã chịu những thiệt hại nặng nề do phải đóng cửa nhà máy, cơ sở sản xuất, lao động thất nghiệp và không có thu nhập để trang trải chi phí sinh hoạt hằng ngày; các chính sách phải đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch; đẩy mạnh quá trình tiêm phòng vaccine cho người lao động hoạt động tại các tổ chức kinh doanh, nhà máy để người lao động có thể sớm quay lại làm việc cũng như hạn chế khá năng lây lan cho người khác
- Thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển đổi số để phù hợp với bối cảnh tình hình dịch
bệnh căng thẳng Chính phủ cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy đảng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện chuyển đổi số Bên cạnh đó, Chính phủ cũng phải tập trung, đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên môn bằng cách tăng cường các khóa tập huấn, đào tạo cho đội ngũ cán bộ ở các cấp, đảng viên, người lao động Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo đội ngũ công nghệ thông tin của quốc gia để lực lượng nòng cốt này có thể trở thành chuyên gia tham vấn về chiến lược chuyển đổi số của nhà nước Cuối cùng, an ninh mạng là yếu tố vô cùng quan trọng, Chính phủ cần nâng cao vai trò của mình trong việc đảm bảo tốt nhất các giao dịch thông qua Internet được vận hành trơn tru, và thông tin của doanh nghiệp phải được bảo mật
- Giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa đến nơi phân phối Chỉ đạo Bộ giao thông vận tải hướng dẫn các địa phương, khu vực thực hiện thống nhất “luồng xanh” vận tải hàng hóa trên đường bộ và đường thủy toàn quốc; hạn chế các thủ tục rườm rà, giấy phép điều kiện phức tạp cản trở vận chuyển hàng hóa để tránh phát sinh thêm chi phí cho các hộ kinh doanh, tổ chức Cho phép các doanh nghiệp,
hộ kinh doanh được nộp bản sao scan có xác nhận bằng chữ ký số đối với các chứng từ phải nộp bản giấy là bản chính dưới dạng giấy/bản sao y công chứng/chứng thực theo quy định của các bộ, cơ quan để giải quyết ách tắc khi thông quan hàng hoá; sau khi thông quan, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải nộp lại giấy tờ bổ sung để hậu kiểm
- Trong thời gian tới, Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh, triển khai, tập trung vào các hoạt động tuyên truyền, vận động người dân thông qua các phương tiện truyền thông báo đài trên tinh thần “tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách” để kêu gọi người dân
Trang 9tích cực quyên góp vật phẩm như quần áo, vật dụng cũ không dùng đến; kêu gọi người dân giúp đỡ vận chuyển những hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm, thuốc men đến cho những người lao động ở các khu vực bị cách ly, phong tỏa do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19
Trang 104.2 Các yếu tố khác không thay đổi, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất Phân tích tác động tới Việt Nam
Mặc dù trong cuộc họp Hội nghị Bộ Trưởng ngày 16 và 17/3 vừa qua ở Nhật Bản, FED công bố vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 0 – 0,25% đến năm 2023 Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng, FED có thể sẽ tăng lãi suất sớm hơn vào năm 2022 bởi nhiều lý do, trong đó có triển vọng phục hồi kinh tế Mỹ sau đại dịch Covid-19 Hiện nay, USD vẫn được coi là đồng tiền mạnh nhất thế giới với gần 80% các giao dịch trên thị trường ngoại hối có sử dụng đồng USD (theo Bloomberg) Ở Việt Nam, USD đóng vai trò tương tự khi
chiếm tới 60% dự trữ ngoại hối của ngân hàng nhà nước (NHNN) (Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Thị Hoàng Anh 2013), đồng thời là đồng tiền chủ yếu được sử dụng trong hoạt
động xuất nhập khẩu ở Việt Nam Do đó, việc điều hành và kiểm soát tỷ giá khi đồng USD tăng lãi suất đã và đang là một trong những trọng tâm của NHNN nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng lâu dài và ổn định
TÍCH CỰC:
Xuất nhập khẩu: Hoa Kỳ là một trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu
của Việt Nam trong các năm gần đây Việc FED tăng lãi suất đồng USD đã làm tăng
đáng kể giá trị đồng tiền này trên thị trường vì tính hấp dẫn của nó đối với các nhà đầu tư Đồng USD tăng giá cũng khiến việc nhập khẩu, mua vào của các nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam trở nên đắt đỏ hơn đồng USD tăng giá các nhà nhập khẩu phải chi nhiều tiền hơn cho các hợp đồng thanh toán bằng USD Tuy nhiên, USD lên giá làm tỷ giá hối đoái của USD/ VND thay đổi theo hướng có lợi cho các ngành sản xuất nội địa, giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam giảm làm gia tăng xuất khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ nếu như hoạt động thương mại quốc tế giữa hai nước thuận lợi Mỹ hiện là thị trường số 1 của các nhà sản xuất khu vực trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất Chính vì thế việc đồng USD tăng giá sẽ giúp người tiêu dùng Mỹ, các nhà nhập khẩu Mỹ mua được nhiều hàng hơn từ những đồng tiền sẵn có của mình, còn các nhà xuất khẩu khu vực như Việt Nam nhờ đó
mà đẩy mạnh xuất khẩu vào Mỹ
Giảm tỷ lệ Đô la hóa trong nền kinh tế: việc nắm giữ USD trở nên hấp dẫn
trong mắt người dân vì giá ngoại tệ này lên cao đã chuyển dịch thị hiếu nắm giữ USD của người dân Việt Nam trong bối cảnh lạm phát trong nước đang có xu hướng leo thang theo