TÌM HIỂU VÀ ĐÁNH GIÁ ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI. LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bước sang thế kỷ 21, thế giới phải đối diện với nhiều thách thức hơn, các yếu tố môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến từng quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới. Hành chính công ở nhiều nước ngày càng phải giải quyết nhiều hơn những vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế xã hội. Đây cũng là thách thức đối với chính phủ ở nhiều nước, và để vượt qua những thách thức đó đòi hỏi hành chính công ở các nước phải thay đổi mạnh hơn và tích cực hơn. Trong thực tế, những thay đổi đó đang diễn ra theo nhiều xu hướng khác nhau; các xu hướng này thường đan xen, kết hợp với nhau nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính nhà nước. Việc nghiên cứu mô hình quản lý công mới ở các nước phát triển như Vương quốc Anh, Úc, Mỹ và một số nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế của các quốc gia giàu có là rất cần thiết, thông qua đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng hiệu lực, hiệu quả. Do đó, với mong muốn góp phần nâng cao chất hiệu quả hoạt động của nền hành chính nhà nước, đổi mới cải cách nền công vụ nước nhà từ những kinh nghiệm trên thế giới, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá ưu và nhược điểm của mô hình quản lý công mới. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam” 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập chung nghiên cứu tìm hiểu ưu điểm, nhược điểm của mô hình quản lý công mới. Dựa trên cơ sở đó, liên hệ với thưc tiễn cải cách hành chính Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Về không gian: Đề tài nghiên cứu ưu, nhược điểm mô hình quản lý công ở Việt Nam Về thời gian: Đề tài nghiên cứu mô hình quản lý công mới và liên hệ với cải cách hành chính tại Việt Nam giai đoạn năm 2011 đến năm 2020. 4. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tài liệu thu thập số liệu. Tham khảo tài liệu. 5. Bố cục đề tài Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm ba chương sau: Chương 1: Cơ sở lý luận của mô hình quản lý công. Chương 2: Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của mô hình quản lý công mới Chương 3: Ứng dụng các yếu tố của mô hình quản lý công mới trong cải cách hành chính ở Việt Nam CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI 1.1. Lý luận chung 1.1.1. Khái niệm Quản lý công là hoạt động quản lý được thực hiện trong quản lý hành chính nhà nước, bao gồm các hoạt động thu thập phân tích xử lý các số liệu thống kê của nhà nước giám sát quỹ hành chính Quốc gia, theo dõi sự phát triển và thi hành các chính sách của nhà nước. Người thực hiện quản lý công là cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước có thẩm quyền quản lý công. 1.1.2. Đặc điểm Quản lý công là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Điều này được biểu hiện bằng việc các chủ thể có thẩm quyền được Nhà nước trao quyền để thực hiện ý chí của Nhà nước. Quản lý công được thực hiện bởi cơ quan, cán bộ, công chức có chức năng hành pháp. Quản lý công là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ. Điều này được lý giải bởi bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan. Hoạt động quản lý công có tính chấp hành và điều hành. Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý công thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, do đó hoạt động này không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn. 1.1.3. Các mô hình quản lý công tiêu biểu Mô hình hành chính công truyền thống Mô hình quản lý công mới Mô hình quản trị nhà nước tốt 1.2. Mô hình quản lý công mới 1.2.1. Hoàn cảnh ra đời Mô hình quản lý công mới (New Public Management) là cụm từ của nhóm các xu hướng cải cách hành chín
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên giảng dạy bộ môn Lý luận chung
về Hành chính nhà nước đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu để tôi
có thể hoàn thành bài tiểu luận này
Qua bài nghiên cứu này, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp
ý kiến của thầy giáo, cô giáo và các bạn cho bài nghiên cứu của tôi thêm hoànthiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu của tôi trong thời gianvừa qua và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực vềthông tin được sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI 3
1.1 Lý luận chung 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Đặc điểm 3
1.1.3 Các mô hình quản lý công tiêu biểu 3
1.2 Mô hình quản lý công mới 4
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời 4
1.2.2 Các xu hướng mang tính đặc trưng của mô hình quản lý công mới 6
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ ƯU ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI 7
2.1 Nội dung cơ bản của mô hình quản lý công mới 7
2.1.1 Xã hội hóa dịch vụ công 7
2.1.2 Điều chỉnh mối quan hệ giữa trung ương và địa phương 8
2.1.3 Phi tập trung hóa, phi quy chế hóa trong quản lý 9
2.1.4 Tổ chức bộ máy hành chính hoạt động theo nhu cầu 10
2.1.5 Cải cách chế độ công vụ, công chức 11
2.1.6 Tăng cường sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước 13
2.1.7 Vận dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý doanh nghiệp vào quản lý khu vực công 14
2.1.8 Cải cách tài chính công 15
2.2 Ưu điểm 15
2.3 Nhược điểm 20
Trang 5CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG CÁC YẾU TỐ CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG
MỚI TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 21
3.1 Những thách thức khi áp dụng mô hình quản lý công mới ở Việt Nam.21 3.2 Một số nội dung cải cách đối với Việt Nam 22
3.2.1 Đẩy mạnh phân cấp giữa trung ương và địa phương 23
3.2.2 Đẩy mạnh tư nhân hóa trong cung ứng dịch vụ công 24
3.2.3 Cơ cấu lại các đơn vị hành chính sự nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước 24
3.2.4 Cải cách chế độ công vụ, công chức 25
3.2.5 Tăng cường sự tham gia của nhân dân 26
3.2.6 Cải cách quản lý tài chính công 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ 21, thế giới phải đối diện với nhiều thách thức hơn,các yếu tố môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến từng quốc gia vàtrên phạm vi toàn thế giới Hành chính công ở nhiều nước ngày càng phải giảiquyết nhiều hơn những vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội Đâycũng là thách thức đối với chính phủ ở nhiều nước, và để vượt qua nhữngthách thức đó đòi hỏi hành chính công ở các nước phải thay đổi mạnh hơn vàtích cực hơn Trong thực tế, những thay đổi đó đang diễn ra theo nhiều xuhướng khác nhau; các xu hướng này thường đan xen, kết hợp với nhau nhằmđạt được hiệu quả cao hơn
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa và cải cách hành chính nhà nước Việc nghiên cứu mô hình quản lýcông mới ở các nước phát triển như Vương quốc Anh, Úc, Mỹ và một sốnước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế của các quốc gia giàu có làrất cần thiết, thông qua đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm góp phầnđẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng hiệu lực, hiệu quả
Do đó, với mong muốn góp phần nâng cao chất hiệu quả hoạt động củanền hành chính nhà nước, đổi mới cải cách nền công vụ nước nhà từ những
kinh nghiệm trên thế giới, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá
ưu và nhược điểm của mô hình quản lý công mới Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu tìm hiểu ưu điểm, nhược điểm của môhình quản lý công mới Dựa trên cơ sở đó, liên hệ với thưc tiễn cải cách hànhchính Việt Nam hiện nay
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu ưu, nhược điểm mô hình quản lýcông ở Việt Nam
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu mô hình quản lý công mới và liên hệvới cải cách hành chính tại Việt Nam giai đoạn năm 2011 đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu thu thập số liệu
Tham khảo tài liệu
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tàigồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của mô hình quản lý công.
Chương 2: Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của mô hình quản lý công mới
Chương 3: Ứng dụng các yếu tố của mô hình quản lý công mới trong cải cách hành chính ở Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI
1.1 Lý luận chung
1.1.1 Khái niệm
Quản lý công là hoạt động quản lý được thực hiện trong quản lý hànhchính nhà nước, bao gồm các hoạt động thu thập phân tích xử lý các số liệuthống kê của nhà nước giám sát quỹ hành chính Quốc gia, theo dõi sự pháttriển và thi hành các chính sách của nhà nước
Người thực hiện quản lý công là cán bộ, công chức làm việc trong bộmáy Nhà nước có thẩm quyền quản lý công
1.1.2 Đặc điểm
Quản lý công là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Điều nàyđược biểu hiện bằng việc các chủ thể có thẩm quyền được Nhà nước traoquyền để thực hiện ý chí của Nhà nước
Quản lý công được thực hiện bởi cơ quan, cán bộ, công chức có chứcnăng hành pháp
Quản lý công là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.Điều này được lý giải bởi bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thànhmột khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của
bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa các cơquan
Hoạt động quản lý công có tính chấp hành và điều hành
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý công thể hiện trongviệc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mụcđích thực hiện pháp luật, do đó hoạt động này không được vượt quá khuônkhổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chứcnhững hoạt động thực tiễn
Trang 91.1.3 Các mô hình quản lý công tiêu biểu
- Mô hình hành chính công truyền thống
- Mô hình quản lý công mới
- Mô hình quản trị nhà nước tốt
1.2 Mô hình quản lý công mới
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Mô hình quản lý công mới (New Public Management) là cụm từ củanhóm các xu hướng cải cách hành chính thuộc chương trình cải cách của cácnước OECD những năm 1970 Người đưa ra ý tưởng này là bà MagaretThatcher – Thủ tướng Anh và Tổng thống Ronald Reagan của Mỹ Mô hìnhquản lý công mới tiếp tục được bổ sung, phát triển cho đến ngày nay
Có thể nhận thấy một trong những xu hướng chung trên thế giới hiệnnay là làm thế nào xây dựng một chính phủ gọn nhẹ để có thể hoạt động mộtcách nhanh nhạy hơn và hiệu quả hơn nhằm tăng năng lực cạnh tranh trongbối cảnh toàn cầu hóa Xu hướng này ở các nước phát triển thường được thểhiện qua thuật ngữ “Quản lý công mới” (Anh), “Tái tạo lại chính phủ” (Mỹ),
“Mô hình quản lý mới” (Cộng hòa liên bang Đức), “Hành chính công địnhhướng hiệu quả” (Thụy Sĩ), … Cuộc cải cách này không chỉ mang ý nghĩacủa một cuộc thay đổi nội bộ mà còn phản ánh một xu hướng mới trong hoạtđộng của nhà nước: nền hành chính không chỉ làm chức năng “cai trị” màchuyển dần sang chức năng “phục vụ”, cung cấp các dịch vụ công cho xã hội
Có thể nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu đưa tới cải cách hànhchính ở các nước phát triển gồm:
Một là, khủng hoảng tài chính công ở hầu hết các nước phát triển cuốinhững năm 1970, đầu những năm 1980 Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai,yêu cầu tái thiết nền kinh tế và tăng cường vai trò của nhà nước đòi hỏi chínhphủ các nước phát triển phải không ngừng mở rộng chức năng của mình khiếncho bộ máy nhà nước ngày càng phình to hơn Biên chế tăng tạo áp lực cho
Trang 10ngân sách nhà nước Suy thoái kinh tế và việc mở rộng sự tham gia của nhànước trong việc cung ứng các dịch vụ công đã đẩy hầu hết các nước phát triểnvào cuộc khủng hoảng tài chính công Thâm hụt ngân sách đặt các quốc giatrước lựa chọn: hoặc là xây dựng bộ máy nhà nước gọn nhẹ, giảm bớt sốlượng các dịch vụ công do nhà nước cung cấp, hoặc là tăng thuế Việc xâydựng một nhà nước gọn nhẹ hơn, hoạt động năng động hơn và bảo đảm vaitrò của “người định hướng” chứ không phải “nhà cung cấp” của nhà nước làmột đòi hỏi khách quan.
Hai là, sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ Sự pháttriển của khoa học – công nghệ đã tạo nên những thay đổi vượt bậc trong đờisống xã hội và có ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống con người, trong đó cóhành chính công Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ, nhất làtrong lĩnh vực công nghệ thông tin khiến cho hoạt động hành chính ngày càng
đi theo hướng hiện đại Tất cả các cơ quan nhà nước đều được đưa lên mạng;nhiều thủ tục hành chính được giải quyết qua mạng điện tử; công dân, tổ chứcmuốn tìm hiểu, tra cứu các chế độ, chính sách và thủ tục hành chính đều cóthể tìm thông tin trên mạng… Việc cung cấp thông tin cho công dân và xã hộicũng trở nên dễ dàng hơn, đồng thời nó cũng tạo áp lực đối với các nhà quản
lý hành chính Họ phải được cập nhật những kiến thức khoa học – công nghệmới, bổ sung các kiến thức về công nghệ thông tin
Việc áp dụng khoa học – kỹ thuật cũng đòi hỏi nhà quản lý phải bố trílại lực lượng lao động phù hợp, có chất lượng Ví dụ, ngành hải quan ở ViệtNam trong những năm gần đây đã thực hiện kê khai thủ tục hải quan điện tửnên đã thông quan nhanh hơn, hạn chế phiền hà, sách nhiễu từ phía cán bộ hảiquan; kiểm tra hành hóa tự động, không cần mở côngtơnơ như trước đây nêntiết kiệm được thời gian và các chi phí khác
Ba là, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của các quốc gia.Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triểnkinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới Bắt đầu và ảnh hưởng
Trang 11mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực kinh tế Sau đó, toàn cầu hóa đã lan rộng rahầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh,việc hầu hết các quốc gia trên thế giới chuyển sang xây dựng nền kinh tế thịtrường đã thúc đẩy một làn sóng toàn cầu hóa mới Nhờ có toàn cầu hóa màcác quốc gia trở nên gần gũi nhau hơn, quan hệ với nhau nhiều hơn, việcchuyển giao tri thức, kinh nghiệm cũng trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn.
Sự tăng cường liên kết giữa các quốc gia, khu vực đòi hỏi chính phủ các nướcphải trở nên nhanh nhạy hơn, hoạt động có tính cạnh tranh cao hơn, pháp luậtphải phù hợp với “luật chơi” chung
Bốn là, các nhược điểm của mô hình hành chính công truyền thống Môhình hành công chính truyền thống với những đặc điểm cơ bản của mô hình
bộ máy thư lại mà Max Weber đã đề xuất vào những năm 20 của thế kỷ XXmặc dù đã khẳng định được những giá trị nhất định, thể hiện nhiều ưu điểmnhưng hiện nay đang bộc lộ nhiều nhược điểm: quá cồng kềnh, quan liêu,lãng phí, đội ngũ công chức không được khuyến khích đầy đủ… Bộ máy nàyđang ngày càng tỏ ra không còn thích hợp với xu thế phát triển của thế giớihiện đại, khi trình độ dân trí và yêu cầu dân chủ ngày một cao hơn Việc thaythế mô hình quản lý công truyền thống bằng mô hình quản lý công mới là một
xu thế tất yếu nhằm hướng nhiều hơn tới mục tiêu nâng cao chất lượng vàhiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Năm là, đòi hỏi của người dân đối với chất lượng hoạt động của nềnhành chính nhà nước ngày càng cao hơn
1.2.2 Các xu hướng mang tính đặc trưng của mô hình quản lý công mới
Xuất phát từ mục tiêu làm tăng hiệu quả hoạt động của hành chính nhànước, các nước áp dụng mô hình NPM đã tìm kiếm xu hướng cải cách khácnhau, nhưng tựu chung lại có các xu hướng phổ biến sau:
- Đơn giản hoá hệ thống quy định quy tắc và đẩy mạnh phân quyền
Trang 12- Áp dụng cơ chế thị trường và nhiều phương pháp quản lý hiện đại.
- Xây dựng đội ngũ viên chức nhà nước mang tính chuyên nghiệp vớinhững tiêu chuẩn và thước đo rõ ràng
- Tư nhân hoá một phần các hoạt động của nhà nước đặc biệt là đối vớicác dịch vụ công
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ ƯU ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI
2.1 Nội dung cơ bản của mô hình quản lý công mới
2.1.1 Xã hội hóa dịch vụ công
Khủng hoảng tài chính công buộc các chính phủ phải lựa chọn: hoặc làtăng thuế để bù đắp thiếu hụt ngân sách và hậu quả của nó là tạo nên phảnứng tiêu cực từ phía người dân, hoặc là thu hẹp các lĩnh vực hoạt động củachính phủ, tức là đẩy mạnh quá trình xã hội hóa cung ứng dịch vụ công Xãhội hóa dịch vụ công để giảm gánh nặng tài chính của nhà nước là nội dungquan trọng nhất trong cải cách hành chính ở các nước phát triển trong nhữngnăm gần đây
Nhưng việc đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công không đồng nghĩa vớiviệc giảm trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp các loại dịch vụ.Thay vì trực tiếp đứng ra cung cấp các dịch vụ công, nhà nước chỉ cần đứng
ra điều tiết bảo đảm sự có mặt của các dịch vụ công đó, còn việc cung ứngdịch vụ được giao cho các thành phần kinh tế và cá nhân thực hiện Như vậy,nhà nước dần trở thành người “lái thuyền” thay vì người “chèo thuyền” nhưtrước đây
Khái niệm “dịch vụ công” dùng để chỉ các loại dịch vụ mà các chủ thểnhà nước và tư nhân cung cấp vì lợi ích chung của xã hội Công ở đây cónghĩa là công cộng chứ không phải công quyền, không phải chỉ do các cơquan nhà nước thực hiện Dịch vụ công gồm: dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế,
an ninh, môi trường, vui chơi giải trí…); dịch vụ công cộng (cung cấp điện,
Trang 13nước, bưu chính viễn thông, xử lý rác…); dịch vụ hành chính công gồm: hồ
sơ, đăng ký (khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký hộ khẩu…) và hoạt độngcông chứng
Hiện nay, nhiều quốc gia chủ trương, loại dịch vụ công nào trong xãhội mà tư nhân hay các thành phần kinh tế khác có thể thực hiện tốt thì nhànước để cho họ làm, chỉ trừ những lĩnh vực mà tư nhân không thể làm, nhưxây dựng cơ sở hạ tần, sân bay, hải cảng, nghiên cứu khoa học và những lĩnhvực thuộc an ninh quốc gia, quốc phòng… Kinh nghiệm cho thấy, để cungcấp dịch vụ công hiệu quả, có chất lượng cần có sự phối hợp giữa nhà nước
và tư nhân Nhà nước không ôm đồm nhưng cũng không phó mặc cho tư nhânmặc sức lo liệu Nhà nước cần ký hợp đồng với các công ty tư nhân dựa trênkết quả đấu thầu công khai, có quy định rõ chất lượng, khống chế giá cả dịchvụ… Đồng thời nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chốngtham nhũng chính trị (công ty tư nhân bỏ vốn vận động cho nhà chính trị đắc
cử, bù lại nhà chính trị giành cho công ty tư nhân những hợp đồng béo bở vàthẩm định dễ dàng…)
Xã hội hóa dịch vụ công mang đến “lợi ích kép” cho cả khu vực nhànước và khu vực tư nhân Xã hội hóa dịch vụ công làm giảm gánh nặng chokhu vực nhà nước, giúp nhà nước có thể tập trung hơn vào công tác quản lý vĩmô; tạo điều kiện để khu vực tư có cơ hội đầu tư và cạnh tranh phát triển Cácyếu tố cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ công khiến cho dịch vụ được cungcấp rẻ hơn, tốt hơn, mặt khác bộ máy nhà nước cũng trở nên gọn nhẹ hơn vàtiết kiệm hơn
Niu Dilân: những hoạt động có tính chất kinh tế, thương mại đang đượctách khỏi những hoạt động hành chính Nhiều doanh nghiệp đã được tư nhânhóa do những nhà quản lý điều hành theo hợp đồng về sản lượng và thời gianquy định với nhiều quyền tự trị, kể cả quyền thuê mướn và sa thải công nhân
Mỹ: giao cho tư nhân kinh doanh phát triển nhà, xây dựng trường học,bệnh viện, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường; thậm chí tư nhân còn tham gia
Trang 14sản xuất vũ khí, xây dựng, quản lý nhà tù theo các điều khoản trong hợp đồng
ký với nhà nước
2.1.2 Điều chỉnh mối quan hệ giữa trung ương và địa phương
Thựcchất, đó là quá trình phân cấp giữa chính quyền trung ương vớichính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền trong một địa phươngvới nhau Xu hướng chung hiện nay ở các nước phát triển là đẩy mạnh quátrình phân cấp cho địa phương Một nguyên tắc quan trọng trong phân quyền
là việc gì cấp dưới có khả năng làm tốt, tiện lợi hơn cho người dân và doanhnghiệp thì phân cho cấp dưới làm và chịu trách nhiệm trên cơ sở bảo đảm tínhthống nhất trong quản lý nhà nước Nhiều nước đã áp dụng nguyên tắc “tựquản địa phương”, cho phép các địa phương tự quyết định các vấn đề liênquan tới công việc của địa phương mình và chỉ khi nào cấp dưới gặp khókhăn thì trung ương mới can thiệp
Tăng cường phân quyền không chỉ cho phép địa phương phát huy hếtkhả năng sáng tạo của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, giúp chocác quyết định sát với cơ sở hơn, mà còn cho phép các nhà quản lý trungương tập trung nhiều hơn sức lực và trí tuệ của mình vào các công việc vĩ mô,như hoạch định chính sách, chiến lược phát triển
Inđônêxia: đã chuyển giao việc quản lý các cảng biển của mình sau khitiến hành cổ phần hóa từ năm 1983
Braxin: đấu thầu bảo dưỡng đường sá: chất lượng tốt hơn, tiết kiệm25% ngân sách so với trước đây, khi mà công việc này do các cơ quan quản lýhành chính nhà nước đảm nhận
2.1.3 Phi tập trung hóa, phi quy chế hóa trong quản lý
Phi tập trung hóa trong lãnh đạo, quản lý là xu hướng khá phổ biến trênthế giới hiện nay Phi tập trung hóa nhấn mạnh nhiều đến việc phân cấp tronglập kế hoạch, quản lý nhân sự và quản lý các nguồn lực Phi tập trung hóa gắnliền với việc nâng cao trách nhiệm quản lý, tạo cho nhà quản lý tính linh hoạt,
Trang 15chủ động, sáng tạo, khuyến khích họ áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả
để đạt được mục tiêu của tổ chức
Phi tập trung hóa có thể diễn ra dưới một số dạng sắp xếp lại tổ chứchoặc xác định lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị Xu thế chunghiện nay ở các nước là:
- Cơ cấu lại những cơ quan hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả thànhcác đơn vị tự chủ Những đơn vị này quan hệ với các tổ chức cấp trên theo cơ
sở các hợp đồng
- Giảm tính hệ thống theo chiều dọc, tạo ra các tổ chức ngang trong các
tổ chức và vì vậy các tổ chức có thể phản ứng nhanh nhạy hơn khi giải quyếtcông việc
- Áp dụng các hình thức quản lý công mới và chuyển sang mô hình hộiđồng quản trị Nhiều bệnh viện, trường học, cơ sở nghiên cứu… của một sốnước đã có được tư cách tín thác, tự quản lý, không chịu sự giám sát củachính quyền địa phương
- Chuyển giao việc kiểm soát ngân sách và tài chính cho các đơn vị độclập, tạo ra các trung tâm quản lý và chi tiêu ngân sách Điều này cho phép cácdoanh nghiệp linh hoạt trong phát triển sản xuất, kinh doanh, các nhà quản lýcông tự chủ hơn trong việc mua sắm, sử dụng, bán các tài sản không còn cầnthiết Họ tự do hơn trong việc lựa chọn các dịch vụ cần thiết
Trong quá trình chuyển từ việc giám sát đầu vào và sự tuân thủ quytrình sang việc giám sát đầu ra, đánh giá hoạt động thông qua kết quả hoạtđộng, tính chủ động của các cơ quan nhà nước và công chức được nâng lên
Để bảo đảm tính chủ động này, một đòi hỏi tất yếu là phải tăng quyền tự chủtrong việc ra quyết định cho các cơ quan nhà nước và công chức Xu hướngnày dẫn tới việc cần phải loại bỏ các quy định vốn cứng nhắc, phức tạp trongcác quy trình giải quyết công việc, tạo thêm không gian cho công chức thểhiện trình độ, năng lực giải quyết vấn đề của mình Đó là quá trình phi quy
Trang 16chế hóa, trong đó cơ phi quy chế hóa trong việc đơn giản thủ tục hành chính
và tạo quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh
2.1.4 Tổ chức bộ máy hành chính hoạt động theo nhu cầu
Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được đổi mới theo hướng
“phẳng” hơn, thay cho bộ máy quan liêu đồ sộ, hình tháp trước đây Mộttrong những giải pháp để thực hiện theo hướng này là việc hình thành cácnhóm chuyên gia kiểu dự án để cố vấn, giải quyết các vấn đề về tổ chức vàtăng cường thông tin theo chiều ngang
Hiện nay các nước trên thế giới đều đặt mục tiêu xây dựng bộ máyhành chính nhà nước với các đặc điểm cơ bản sau:
- Chỉ tập trung vào những lĩnh vực hoạt động mà các cơ quan nhà nướcnên làm và có thể làm tốt hơn tư nhân
- Đáp ứng nhanh, có chất lượng các yêu cầu của công dân và tổ chức
- Trang bị các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại như: máy tính, máy Fax,điện thoại trong các cơ quan hành chính nhà nước, nhất là hoạt động hànhchính – văn phòng và thông tin điều hành nhắm bảo đảm thu thập, xử lý vàtruyền thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác Công nghệ thông tin cũng đượcxem là một công cụ nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm tronghoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Xingapo: xây dựng mô hình cơ quan hành chính gồm một cấp: chínhquyền trung ương và các quận Các dịch vụ công được giao dịch thông quacổng điện tử, kể cả việc làm hộ chiếu, đăng ký kinh doanh…
Nhật Bản: tinh giản bộ máy hành chính nhà nước các cấp; quy định cụthể số lượng nhân sự trong các cơ quan nhà nước; hạn chế tối đa việc lập cơquan mới
2.1.5 Cải cách chế độ công vụ, công chức
Công vụ, công chức là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên nền hànhchính công, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức
Trang 17Xu hướng chung hiện nay là cải cách chế độ công vụ, công chức theo hướngdân chủ, công bằng, cạnh tranh, lấy năng lực và kết quả làm việc là tiêu chí cơbản trong tuyển dụng và đề bạt Trong mô hình hành chính truyền thống, nhân
sự hành chính được tuyển chọn và sử dụng trong một môi trường gần nhưkhép kín Các công chức ít được khuyến khích, động viên, thiếu môi trường
và động cơ làm việc, việc thăng tiến của công chức chủ yếu dựa vào thâmniên công tác… khiến cho hoạt động công vụ trì trệ, kém hiệu quả
Các giải pháp cơ bản trong cải cách công vụ, công chức bao gồm:
- Các nhà quản lý được chủ động trong việc tuyển dụng, sa thải, thăngtiến, thuyên chuyển, duy trì và trả lương cho công chức Việc trả lương côngchức phần nhiều gắn liền với trình độ, năng lực và kết quả thực hiện công vụ.Việc áp dụng phương thức trả lương này trở thành động lực quan trọng, làmcho đội ngũ công chức làm việc có trách nhiệm hơn, tích cực hơn và mang lạihiệu quả cao hơn Việc chuyển đổi nhân sự giữa khu vực công và khu vực tưtrở nên dễ dàng hơn và nhờ đó những ý tưởng quản lý theo kiểu doanh nghiệpđược vận dụng vào khu vực công cũng ngày càng nhiều hơn
- Thuê mướn nhân lực trên cơ sở hợp đồng thay thế cho việc bổ nhiệmtheo nhiệm kỳ trong các tổ chức công Ở một số nước, chức vụ Tổng Giámđốc, Giám đốc được tuyển dụng, bổ nhiệm theo thời hạn hợp đồng năm năm
và sau đó được gia hạn nếu người đó hoàn thành tốt nhiệm vụ
- Tuyển dụng và đề bạt trên cơ sở cạnh tranh và tài năng
- Tăng tiền lương, tiền thưởng theo mức tăng của khu vực tư HànQuốc hiện nay có hơn 1,2 triệu công chức, đông nhất là công chức trongngành giáo dục Bộ Nội vụ Hàn Quốc điều chỉnh lương của công chức sáutháng một lần trên cơ sở so sánh với mức lương ở khu vực tư
- Mạnh dạn sử dụng người tài đức Ở Nhật Bản, Chính phủ có chínhsách tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học danh tiếng ở trongnước và ngoài nước đạt loại xuất sắc Các tổ chức công ở Nhật Bản cũng rấtchú trọng xây dựng văn hóa công sở, tôn vinh tinh thần tự tôn dân tộc