1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại việt nam

129 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại việt nam Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại việt nam Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại việt nam

Trang 1

đa dạng hóa các sản phẩm chế biến từ trái cây, giúp nâng cao giá trị, chất lượng và góp phần cải thiện sản lượng tiêu thụ trái cây hàng năm

Trong các ngành hàng thực phẩm tiêu dùng nhanh hiện nay, nước giải khát là một trong 3 nhóm ngành hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Bởi lẽ, các sản phẩm này không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày một cách tiện lợi, mà còn đảm bảo vệ sinh, chất lượng cao đặc biệt là các sản phẩm được chế biến từ các thành phần tự nhiên Đề tài “PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SẢN PHẨM NƯỚC TRÁI CÂY CÓ GAS TẠI VIỆT NAM” là đề tài tập trung phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các ngành có liên quan nhầm tìm ra cơ hội

và phương hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas, thông qua đó đề giải pháp và kiến nghị phát triển ngành Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas phát triển không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp chế biến trái cây và cải thiện đầu ra cho ngành nông nghiệp cây

ăn trái Việt Nam, mà còn giúp cải thiện kinh tế, nâng cao đời sống, kinh doanh cho tất cả các cá thể, doanh nghiệp, cơ quan tham gia trong chuỗi liên kết của ngành công

Trang 2

nghiệp này Chế biến trực tiếp từ trái cây tươi 100%, sản phẩm nước trái cây có gas không chỉ mang hương vị tự nhiên, mà còn giữ trọn nguồn dinh dưỡng dồi dào trong trái cây Việt, mang lại làn gió mới trong thị trường nước giải khát đặc biệt là nước giải khát có gas

Tác giả đã vận dụng 4 phương pháp nghiên cứu chính trong quá trình thực hiện

đề tài là phương pháp nghiên cứu tổng hợp, điều tra và khảo sát thực tế, thống kê mô

tả, phân tích và tổng hợp Đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về

công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Chương 2: Dựa vào cơ sở lý luận Chương 1 để đánh giá và phân tích thực

trạng phát triển ngành công nghiệp sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Chương 3: Sử dụng lý thuyết ở Chương 1 và các nội dung đã phân tích ở

Chương 2, Tác giả đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Trang 3

In the fast-moving consumer goods, beverage is one of the three fastest growing categories Because these products not only satisfy daily needs conveniently, but also ensure hygiene and high quality, especially products manufactured from natural ingredients “DEVELOPING CARBONATED JUICE PROCESSING INDUSTRY IN VIETNAM” is a topic focusing on analyzing the strengths, weaknesses, opportunities and challenges of related industries to find opportunities and directions for the development of the carbonated juice processing industry, thereby proposing solutions and recommendations The development of carbonated juice processing industry not only contributes to developing the fruit processing industry and increasing the output of Vietnam's fruit agriculture, but also improves the economy, the living standards, and business conditions for all individuals, businesses and agencies participating in the Licking chain of this industry Processed directly from 100% fresh fruits, carbonated juice contains not only natural flavors,

Trang 4

but also rich source of nutrients in Vietnamese agricultural products (fruit), bringing

a new breeze in beverage market especially carbonated soft drinks

The implementer has applied 4 main research methods in the process of implementing the subject, which is general research, actual investigation and survey, descriptive statistics, analysis and synthesis The topic consists of 3 chapters:

Chapter 1: Systematizing concepts, theory and practical experience on the

carbonated juice processing industry in Vietnam

Chapter 2: Basing on the theoretical basis of Chapter 1 to evaluate and

analyze the current situation of the development of the carbonated juice industry in Vietnam

Chapter 3: Using the theory in Chapter 1 and the content analyzed in Chapter

2, the implementer proposes solutions and recommendations to contribute to the development of the carbonated juice processing industry in Vietnam

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC ix

DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT xvi

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT xvii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU xviii

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH xix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SẢN PHẨM NƯỚC TRÁI CÂY CÓ GAS TẠI VIỆT NAM 9

1.1 Các khái niệm có liên quan 9

1.1.1 Công nghiệp chế biến trái cây 9

1.1.2 Sản phẩm nước trái cây có gas 10

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 11

1.2.1 Vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 12

1.2.2 Nội dung của phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 19

1.2.2.1 Phát triển vùng nguyên liệu có chất lượng 19

1.2.2.2 Phát triển sản phẩm đa chủng loại 23

1.2.2.3 Phát triển cơ sở vật chất và công nghệ chế biến 23

1.2.2.4 Phát triển chuỗi liên kết để tạo đầu ra cho sản phẩm 24

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 26

1.2.3.1 Nhu cầu của thị trường về sản phẩm nước trái cây có gas 26

1.2.3.2 Nguyên liệu chế biến sản phẩm nước trái cây có gas 26

1.2.3.3 Vốn đầu tư 27

Trang 6

1.2.3.4 Thiết bị công nghệ chế biến 27

1.2.3.5 Tình hình cạnh tranh 27

1.2.3.6 Chính sách quản lý của Nhà nước 27

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 28

1.2.4.1 Các chỉ tiêu đo lường về mặt Kinh Tế 28

1.2.4.2 Các chỉ tiêu đo lường về mặt Xã Hội 28

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas 29

1.3.1 Kinh nghiệm trong nước 30

1.3.2 Kinh nghiệm ngoài nước 37

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 39

CHƯƠNG 2 42

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN 42

SẢN PHẨM NƯỚC TRÁI CÂY CÓ GAS TẠI VIỆT NAM 42

2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 42

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên Việt Nam 42

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 45

2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 48

2.2.1 Khái quát về ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 48

2.2.2 Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 64

2.2.2.1 Phát triển vùng nguyên liệu có chất lượng 64

2.2.2.2 Phát triển sản phẩm đa chủng loại 66

2.2.2.3 Phát triển cơ sở vật chất và công nghệ chế biến 68

2.2.2.4 Phát triển hệ thống chuỗi liên kết để tạo đầu ra cho sản phẩm 70

Trang 7

2.3 Phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển công nghiệp chế biến sản

phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam 72

2.3.1 Nhu cầu của thị trường về sản phẩm nước trái cây tốt cho sức khỏe 72

2.3.2 Nguyên liệu chế biến sản phẩm nước trái cây có gas 74

2.3.3 Vốn đầu tư 75

2.3.4 Tình hình cạnh tranh 77

2.3.5.Chính sách quản lý của nhà nước đối với ngành công nghiệp chế biến trái cây 78

2.4 Đánh giá chung thực trạng công nghiệp chế biến nước trái cây có gas tại Việt Nam 79

2.4.1 Phân tích SWOT 79

2.4.2 Các mặt tích cực 80

2.4.3 Các mặt tiêu cực 81

CHƯƠNG 3 82

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN 82

SẢN PHẨM NƯỚC TRÁI CÂY CÓ GAS TẠI VIỆT NAM 82

3.1 Giải pháp 82

3.1.1 Đối với các cơ quan chức năng quản lý ngành 82

3.1.2 Đối với chính quyền địa phương 84

3.1.3 Đối với doanh nghiệp 85

3.2 Kiến nghị đối với nhà nước 86

3.2.1 Có các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư cho các ngành phụ trợ công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas 86

3.2.2 Nhà nước tổ chức các hình thức liên kết mới trong chế biến sản phẩm nước trái cây và ngành nông nghiệp cây ăn trái 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 96

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải nghĩa Tiếng Anh Giải nghĩa Tiếng Việt

FMCG Fast-moving Consumer Goods Hàng tiêu dùng nhanh

FDI Foregin Direct Investment Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm Quốc Nội

WTO World Trded Organization Tổ chức Thương Mại Thế Giới

Trang 9

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

Chữ Viết Tắt Giải nghĩa Tiếng Việt

CBSP NTCCG Chế biến sản phẩm nước trái cây có gas

CNCBRQ Công nghiệp chế biến rau quả

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

QĐ-TTg Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ

QĐ-BKH Quyết định của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2 2 - Nhóm các loại trái cây được trồng nhiều nhất năm 2015 50

Bảng 2 3 - Thứ hạng một số loại trái cây Việt Nam xét về sản lượng 51

Bảng 2 4 - Kim ngạch xuất nhập khẩu trái cây 2013-2018 51

Biểu đồ 2.1 – Biểu đồ GDP bình quân đầu người Việt Nam 1985-2018 47

Biểu đồ 2 2 - Diện tích trồng trái cây Việt Nam 49

Biểu đồ 2 3 - Giá trị xuất khẩu trái cây của Việt Nam giai đoạn 2001-2015 52

Biểu đồ 2 4 - 5 thị trường xuất khẩu trái cây lớn nhất của Việt Nam 53

Biểu đồ 2 5 - Giá trị xuất khẩu vào 5 thị trường nhập khẩu lớn nhất của VN 53

Biểu đồ 2 6 - Đóng góp và tăng trưởng giá trị của 59

Biểu đồ 2 7 - Thị phần ngành nước giải khát tại Việt Nam 60

Biểu đồ 2 8 - Cơ cấu ngành nước giải khát Việt Nam và xu hướng 61

Trang 11

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH

Hình 1 3 - Quy trình chuỗi cung ứng công nghiệp chế biến 25

Hình 1 4 - Sản phẩm Nước khoáng hương trái cây La Vie Sparkling 32

Hình 1 5 - Bảng phân tích điểm khác biệt của sản phẩm TH True Malt 33

Hình 1 6 - Hình ảnh sản phẩm TH True Malt 34

Hình 1 7 - Quy Trình Sản Xuất Sữa Tươi Sạch Từ Hệ Thống Trang Trại 35

Hình 1 8 - Hình ảnh sản phẩm Strongbow 37

Hình 2 1 - Bản đồ Việt Nam trong khu vực 43

Hình 2 2 - Kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 44

Hình 2.3 - Biểu đồ thể hiện diện tích và dân số 7 vùng kinh tế VN 45

Hình 2 4 - Tỷ trọng các loại trái cây xuất khẩu năm 2012 54

Hình 2 5 – Số lượng doanh nghiệp chế biến Nông _ Lâm – Thủy Sản 57

Hình 2 6 - Xu hướng lựa chọn các sản phẩm đồ uống của người tiêu dùng Việt 62

Hình 2 7 – Biểu đồ hệ thống kênh phân phối tại Việt Nam 70

Hình 2 8 - Hình ảnh minh họa cho chuỗi cửa hàng phân phối trực tiếp 71

Hình 2 9 - Hình ảnh minh họa cho hệ thống máy bán hàng tự động 71

Hình 2 10 – Hình ảnh giải cứu nông sản Việt 75

Hình 3 1 - Mô hình liên kết bốn nhà 88

Trang 12

Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy phần lớn lượng trái cây sau khi thu hoạch chỉ được tiêu thụ ở dạng tươi sống tại thị trường trong nước (80%) và một phần

nhỏ để xuất khẩu (20%) (Quang Minh (06-12-2017) “Tiêu thụ trái cây chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thương lái”) Bởi vì các doanh nghiệp tập trung mua gom xuất khẩu

nguyên liệu thô, bán thành phẩm sang các thị trường thay vì đầu tư vào sản xuất chế biến để nâng cao giá trị Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ quá lớn là Trung Quốc luôn sẵn sàng thu mua nông sản Việt Nam kể cả trong những tháng nghịch mùa sản xuất của họ, cũng góp phần làm cho doanh nghiệp Việt chủ quan, chưa sẵn sàng bỏ vốn

đầu tư sâu (Thanh nhân (19-11-2016) “ Công nghiệp chế biến thực phẩm: Tiềm năng

do vậy các loại trái cây không thể giữ được lâu, chất lượng nhanh bị giảm sút, giá thành tăng cao, khả năng cạnh tranh với trái cây nước ngoài nhập khẩu và xuất khẩu

ra nước ngoài còn rất hạn chế Bên cạnh đó, việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc làm tăng rủi ro cho việc tiêu thụ nông sản, nguy cơ nông sản bị hư hại và bị tiêu hủy cao nếu đầu ra gặp trở ngại Điệp khúc được mùa rớt giá có lẽ là lời than vãn thường nghe nhất của ngành nông nghiệp cây ăn trái Việt Trong năm 2018, gần như mỗi một tháng người Việt lại có một loại

Trang 13

nông sản cầu cứu Trong số đó, có nhiều mặt hàng được “giải cứu” thực sự bởi những cuộc vận động tiêu dùng hàng Việt vô cùng lớn như cuộc giải cứu dưa hấu diễn ra ở năm 2016 Xuất phát từ tinh thần tương thân tương ái và nỗi thương cảm mạnh mẽ của công chúng, hiện tượng này trở thành câu chuyện diễn ra hàng ngày (Nguyễn

Khắc Giang (11-10-2018) “Giải cứu nông sản và bài học thị trường”)

Ngoài ra, tác giả nhận định rằng, hiện nay xu hướng sử dụng các sản phẩm đồ uống có nguồn gốc từ thiên nhiên và giá trị dinh dưỡng cao đang ngày càng được người tiêu dùng trên toàn cầu ưa chuộng, rất nhiều sản phẩm thuộc các chủng loại khác nhau được cho ra đời với tiêu chí sử dụng các thành phần tự nhiên, và thêm

nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe (M.Hồng (08-10-2019) “3 xu hướng của ngành thực phẩm – đồ uống”)

Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp mở rộng đầu ra

cho ngành nông nghiệp, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến trái cây nói riêng và ngành công nghiệp chế biến nói chung, thông qua các sản phẩm nước trái cây có gas với giá trị dinh dưỡng cao và thành phần tự nhiên từ nông sản Việt

2 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Luận án Tiến sĩ kinh tế Ninh Đức Hùng, (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam” Nội dung: Ở luận án này, tác giả đã thể hiện

được năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây Luận án cũng

đã chỉ rằng để phát triển trái cây Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, Nhà nước cần phát triển xây dựng các đầu tư công, chính sách công: đây là môi trường thuận lợi cho các hộ nông nghiệp, thương lái và doanh nghiệp phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường mới Từ Luận án, có thể thấy việc phát triển chất lượng trái cây tại người trồng, đầu tư tư nhân trong kinh doanh, chế biến và chính

Trang 14

sách đầu tư công, dịch vụ công của Nhà nước là những yếu tố chủ yếu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của trái cây Việt Nam

Luận văn thạc sĩ Đoàn Thị Mai, (2005), “Năng lực cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” Nội dung: Tác giả đã nhìn

nhận những thực tế và chân thật tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn đầu kinh tế Việt Nam hội nhập với thế giới Bối cảnh thị trường thế giới đã đòi những những yếu tố về chất lượng, mẫu mã của sản phẩm Tuy nhiên, các nguồn lực sản xuất trong nước: đất đai cằn cỗi, kỹ thuật sản xuất, chế biến lạc hậu, mức độ cơ giới hoá sản xuất thấp, công nghệ chưa phát triển, là những vấn đề có tính cấp bách trong giai đoạn thời đó Đây là những cơ sở, tiền đề để so sánh, đánh giá khả năng cạnh tranh thông qua phương pháp sản xuất nông sản những năm 2000 so với giai đoạn hiện nay

Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Trung bộ” của Nguyễn Hồng Lĩnh (2007) Luận án đã vận

dụng các lý thuyết liên quan, đặc biệt là mô hình kim cương của M Porter để phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo sát thực tế; rút kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông Nam Á và dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, Luận

án đã xác định các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ

Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ

Theo Chương trình, sẽ hình thành và phát triển hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015 phải hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm dựa trên công nghệ tiên tiến và do các 6 doanh nghiệp khoa học và công nghệ sản xuất; giai đoạn tiếp theo sẽ mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm được xây dựng ở giai đoạn 2010 – 2015, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu và xây dựng thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 15

Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn

2001 – 2005 của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học

và Công nghệ) với chủ đề “ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực” Mục đích của Chương trình là nhằm gia

tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ Nội dung chủ yếu của Chương trình là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh…; xây dựng các mô hình thâm canh và sản xuất công nghiệp trong nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái

“Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội” Theo Quy chế này, cơ sở xác định sản phẩm công

nghiệp chủ lực của Thành phố là các tiêu chí gồm sức cạnh tranh trên thị trường trong

và ngoải nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao, ổn định; hoặc thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng GDP công nghiệp Quy trình xét chọn có 4 bước: đề xuất doanh nghiệp tham gia Chương trình; khảo sát sản phẩm công nghiệp ; tổ chức đánh giá, xét chọn và công nhận sản phẩm chủ lực

“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 – 2005” Theo Chương trình này, Hệ thống tiêu

chí lựa chọn sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai

hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm

và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố

Trang 16

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là đưa ra đề xuất, giải pháp góp phần phát triển ngành công nghiệp chế biến nước giải khát Trên cơ sở đó, góp phần cải thiện đầu ra cho ngành công nghiệp cây ăn trái, đồng thời góp phần đa dạng hóa các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến trái cây

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là dựa vào cơ sở lý luận và các hiện trạng kinh doanh thực tiễn về phát triển sản phẩm nước trái cây có gas để đánh giá thực trạng, qua đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị với Nhà Nước và cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có

gas tại Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam thông qua việc tìm hiểu, đánh giá xu hướng hoạt động của các tổ chức kinh tế/

cá nhân tham gia sản xuất, chế biến sản phẩm trái cây

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam trong phạm vi các hoạt động hiện tại và kế hoạch phát triển của các tổ chức kinh tế/cá nhân tham gia sản xuất, chế biến sản phẩm trái cây tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2018

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Nghiên cứu các lý thuyết, thu thập và

tổng hợp qua sách báo, tài liệu, internet về các thông tin liên quan đến phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas Thu thập các số liệu thứ cấp từ các cơ quan chức năng thông qua các báo cáo, công bố kết quả nghiên cứu khoa học…

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Phương pháp này được sử dụng

để thu thập thông tin sơ cấp (để bổ sung cho thông tin thứ cấp) nhu cầu thị trường về sản phẩm nước trái cây có gas

 Phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn 10 chuyên gia trong ngành hàng thực phẩm và đồ uống tiêu dùng nhanh, chế biến trái cây nhằm mục đích khảo sát và cũng

cố bảng câu hỏi người tiêu dùng

Trang 17

- Ông Phan Thanh Bình – Tổng Giám Đốc Công Ty CP Thực Phẩm Econuti

- Ông Nguyễn Ngọc Hoàng Long – Trưởng phòng Quản Lý Thương Mại Công

Ty TNHH Tribeco Bình Dương

- Ông Trương Thanh Phú – Giám Đốc Sản Xuất Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Econuti

- Ông Ku Minki – Tổng Giám Đốc VPĐD CJ Healthcare Việt Nam

- Ông Phạm Nhị Hà – Trưởng phòng Marketing Công Ty TNHH CJ Foods Việt Nam (ngành hàng nước giải khát và thực phẩm tiêu dùng nhanh)

- Bà Vũ Thị Thùy Dung – Giám Đốc Marketing Công Ty TNHH Dịch Vụ Thực Phẩm và Giải Khát Việt Nam

- Bà Trần Thị Thu Hà – Giám Đốc Marketing Công Ty Mondelez Kinh Đô Việt Nam (ngành hàng bánh kẹo tiêu dùng nhanh)

- Bà Trần Quang Huy – Trưởng phòng Marketing Công Ty URC Việt Nam (ngành hàng trà uống liền)

- Bà Trần Thị Thu Thảo – Trưởng quản lý thương hiệu Công Ty Suntory Pepsico Việt Nam (ngành hàng nước ngọt có gas)

- Bà Đặng Thị Thùy Trang - Phó tổng giám đốc Công Ty TNHH Hankol Healthcare Vina (ngành hàng trà và nước giải khát tốt cho sức khỏe)

+ Phỏng vấn người tiêu dùng:

Kích thước mẫu thường tùy thuộc vào các phương pháp ước lượng trong nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn như Hair & Ctg (1998) thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150, Hoetler (1983) cho rằng kích thước mẫu tới hạn phải là 200 hay Bollen (1989) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu là 05 mẫu cho 01 tham số cần ước lượng Do đó, số lượng mẫu cần thu thập ở các thành phố khảo sát dự kiến sẽ thu thập khoảng 350 mẫu, và sẽ được phân bổ như sau:

1 TP HCM và Hà Nội là hai thành phố chủ lực, phồn thịnh nhất, có dân cư sống tập trung và mức độ đô thị hóa cao, tiêu dùng nhiều sản phẩm công nghiệp Do vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh chính xác và có ý nghĩa đại diện cho tổng thể Thu thập 100 mẫu/thành phố

Trang 18

2 Cần Thơ, Đồng Nai, Tiền Giang là các tỉnh tiêu biểu cho khu vực sản xuất

và cung ứng các sản phẩm nông sản chủ yếu đại diện cho khu vực Do vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh chính xác và có ý nghĩa đại diện cho tổng thể Thu thập 50 mẫu/tỉnh

Phương pháp thống kê mô tả: Dùng phương pháp này để thống kê số liệu

về công nghiệp chế biến, nông nghiệp sản xuất nông sản Việt Nam và nhu cầu thị trường về sản phẩm nước trái cây có gas tại thị trường Việt Nam Nhằm phục vụ cho việc phân tích và đánh giá tiềm năng phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas cũng như phương hướng cải thiện công nghiệp chế biến nông sản

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng phương pháp này để so sánh tình

hình sử dụng các nguồn lực (nguồn lực từ tự nhiên, con người, vật chất, tài chính):

Sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ các cuộc khảo sát, thống kê của các cơ quan chức năng và các tài liệu khảo sát có liên quan

7 Đóng góp của luận văn

Kiến nghị các nhóm giải pháp cho phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam nhằm:

 Góp phần vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao giá trị nông sản Việt

 Cải thiện các vấn đề xã hội, tạo việc làm cho người lao động

 Nâng cao trình độ lao động và công nghệ cho ngành công nghiệp chế biến

 Hỗ trợ cải thiện và thúc đẩy mở trọng đầu ra cho nông nghiệp cây ăn trái

 Góp phần đa dạng hóa các sản phẩm trong ngành công nghiệp chế biến nông sản nói chung và công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống nói riêng

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Trang 19

Chương 3: Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SẢN PHẨM NƯỚC TRÁI CÂY CÓ GAS TẠI VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Công nghiệp chế biến trái cây

Sau khi nghiên cứu các khái niệm về công nghiệp chế biến, và công nghiệp

chế biến trái cây (Trương Đức Lực Luận văn tiến sĩ kinh tế “Phát Triển Công Nghiệp Chế Biến Rau Quả Ở Việt Nam Trong Quá Trình Hội Nhập”), Tác giả đưa ra nhận

định về công nghiệp chế biến trái cây như sau:

Công nghiệp chế biến trái cây thuộc ngành công nghiệp chế biến rau quả, là một trong những phân ngành hẹp của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm (Hình 1.1) Công nghiệp chế biến trái cây là một ngành công nghiệp chế biến mà ở đó nó sử dụng các loại trái cây tươi mới được thu hoạch làm nguyên liệu đầu vào nhằm chế biến, biến đổi chúng thành các loại trái cây vẫn còn nguyên giá trị ban đầu của nó nhưng có chất lượng cao hơn, an toàn vệ sinh hơn, thời gian bảo quản được lâu hơn Hoặc biến các loại trái cây thành các sản phẩm khác nhưng vẫn giữ được những tính chất đặc trưng của nó như: nước ép trái cây, các loại bánh kẹo thành phần trái cây, các loại sản phẩm sấy khô Ngoài ra, công nghiệp chế biến trái cây rất nhạy cảm với nguồn nguyên liệu dùng để chế biến bởi lẽ: nguồn nguyên liệu nó rất đa dạng về chủng loại, tuỳ vào từng mùa mà có những loại trái cây đặc trưng cho nên có lúc thì nguồn nguyên liệu rất dồi dào, cũng có lúc lại khan hiếm, do vậy phải biết điều tiết sản xuất, chế biến sao cho hợp lý nhằm khai thác, tận dụng tối đa công suất của nhà máy, tránh tình trạng có lúc thì thừa nguyên liệu, có lúc thì thiếu nguyên liệu

Trước đây chúng ta chưa quan tâm nhiều đến công nghiệp chế biến trái cây, chưa thấy được tầm quan trọng của nó đối với nền nông nghiệp nước ta Nhưng ngày nay với nền sản xuất hiện đại: công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cho nên chúng ta thấy

rõ được vị trí của ngành công nghiệp chế biến trái cây là một ngành quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến nông sản, nó lại càng quan trọng hơn đối với đất nước ta bởi lẽ Việt Nam là một nước nông nghiệp, góp phần thúc đẩy trong việc tiêu thụ các

Trang 21

loại sản lượng trái cây dồi dào, mặt hàng có giá trị kinh tế cao Bên cạnh đó, còn góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nông thôn, làm tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến nông sản vào GDP, nâng cao đời sống của người dân

1.1.2 Sản phẩm nước trái cây có gas

Hiện tại, thị trường chưa có khái niệm rõ ràng về sản phẩm nước trái cây có gas được làm từ trái cây tươi Do đó, theo nghiên cứu, khảo sát và tham khảo thông tin từ nhiều nguồn, Tác giả đưa ra nhận định về khái niệm sản phẩm nước trái cây có gas như sau:

vị thật từ trái cây tự nhiên Nhờ vào sự phong phú của nông sản Việt, nên các sản phẩm nước trái cây có gas có rất nhiều mùi vị và chủng loại khác nhau, mang đặc trưng riêng của từng loại trái cây Việt Nam, tạo nên danh mục sản phẩm vừa mới lạ, vừa đa dạng cho sự lựa chọn của người tiêu dùng

- Đặc điểm và phân loại

Có thể nói, nước trái cây có gas là một loại thức uống mang tính chất kết hợp giữa nước ngọt có gas và nước ép hoa quả Trong đó sử dụng trái cây tươi làm nguyên liệu chính trong quá trình chế biến như nước ép hoa quả, và đồng thời sử dụng thêm thành phần nước carbon điôxít bão hòa như nước ngọt có gas Tuy nhiên, nước trái cây có gas có nhiều điểm khác biệt so với hai dòng sản phẩm này ở một số điểm sau:

+ Hàm lượng và chất lượng đường trong sản phẩm nước trái cây có gas sẽ thấp và tốt hơn nước ngọt có gas do sử dụng chính hàm lượng đường vốn có trong trái cây và chỉ thêm lượng đường khá nhỏ nhằm điều vị sản phẩm, vì cùng một loại trái cây và cùng vụ mùa nhưng mỗi quả thường có sự khác biệt về độ chua và độ ngọt

Trang 22

+ Mang màu sắc tự nhiên từ trái cây tươi, không sử dụng chất tạo màu/màu tổng hợp nên người tiêu dùng hoàn toàn có thể an tâm về giá trị dinh dưỡng và sự an toàn khi sử dụng sản phẩm

+ Sản phẩm nước trái cây có gas có giá trị dinh dưỡng tương đương hoặc cao

hơn với các loại nước ép hoa quả chế biến trực tiếp từ trái cây thật, nhưng lại mang hương vị thơm ngon, sảng khoái và kích thích vị giác hơn nhờ vào việc bổ sung thêm thành phần nước bão hòa CO2

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Sau khi nghiên cứu các khái niệm về công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp chế biến trái cây và khái niệm về sản phẩm nước trái cây có gas… Tác giả xin đưa ra khái niệm về công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas như sau:

Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas là phân ngành của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống Trong đó sử dụng sản phẩm của nông nghiệp cây ăn trái làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất chế biến, biến đổi chúng thành sản phẩm nước trái cây có gas với chất lượng cao, an toàn vệ sinh và giá trị sử dụng cao hơn, song vẫn giữ được tính đặc trưng riêng trong hương vị và màu sắc của loại trái cây đó

Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas và ngành nông nghiệp cây ăn trái có mối quan hệ hữu cơ với nhau Tuy nhiên, giống như công nghiệp chế biến rau quả, công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas bị phụ thuộc lớn bởi nguồn nguyên liệu đầu vào Vì chất lượng, hương vị của trái cây chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết và vụ mùa, thậm chí độ chua ngọt ở mỗi trái đều không đồng nhất với nhau, thêm vào đó mỗi mùa lại có nhưng loại quả đặc trưng riêng biệt Do đó, nguồn nguyên liệu lúc thì dồi dào, có lúc lại khan hiếm

Tạo ra sản phẩm nước trái cây có gas từ nguồn nguyên liệu nông nghiệp thông qua quá trình chế biến công nghiệp Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas đòi hỏi sự phát triển từ cả các yếu tố nông nghiệp lẫn công nghiệp chế biến, và thị trường tiêu thụ bao gồm những nội dung phát triển chính sau đây:

Trang 23

 Phát triển vùng nguyên liệu

 Phát triển cơ sở vật chất và công nghiệp chế biến

 Phát triển sản phẩm đa chủng loại

 Phát triển chuỗi liên kết để tạo đầu ra cho sản phẩm

1.2.1 Vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

- Vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

Sự phát triển của CNCBTP sẽ có tác động tích cực và toàn diện tới sự phát

triển kinh tế, tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đóng vai trò rất

quan trọng không chỉ với bản thân ngành công nghiệp mà đặc biệt đối với phát triển

của nông nghiệp, nông thôn

Thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, hình thành các vùng nguyên liệu, sản xuất tập trung, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn và tạo điều kiện quan trọng cho thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn Thông qua chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp tăng lên

gấp nhiều lần Theo tính toán của các chuyên gia trong ngành, sau khi tinh chế, giá trị của nông sản có thể tăng từ 4 đến 10 lần so với giá trị trước khi chế biến Mặt khác, qua chế biến, từ một sản phẩm nông nghiệp, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm rất khác nhau, thậm chí tạo ra những đặc tính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm nông nghiệp, từ đó đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân và là nguồn xuất khẩu quan trọng, đẩy mạnh giao lưu hàng hoá với các nước, đóng góp không nhỏ

cho ngân sách Nhà nước

Góp phần rất quan trọng vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn, đặc biệt là qua việc phát triển hệ thống các cơ sở chế

biến ngay tại nông thôn Từ đó, làm tăng thu nhập cho dân cư Ở khía cạnh khác, chính CNCBTP tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc của yếu tố thời gian, thời vụ và khoảng cách đối với tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp Sự phát triển của CNCBTP còn làm tăng nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp,

từ đó tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn

Trang 24

Góp phần nâng cao tiềm lực của nền kinh tế, tạo ra cơ cấu kinh tế có khả

năng cạnh tranh cao hơn do phát huy được lợi thế so sánh của đất nước

Góp phần vào phát triển nền công nghiệp sạch và bền vững: trước yêu

cầu của việc sản xuất tập trung, thâm canh, công tác quy hoạch sẽ tránh được việc phân tán, manh mún trong trồng trọt, chế biến như hiện nay, hình thành nên các khu vực sản xuất tập trung, khép kín giúp cho việc sử dụng hiệu quả sản phẩm phụ, xử lý triệt để ô nhiễm môi trường

Đối với những nước có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, phát triển CNCBTP

có ý nghĩa rất to lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ những ngành kém hiệu quả hơn sang ngành có hiệu quả cao hơn CNCBTP chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất khá cao trong ngành công nghiệp, khoảng 25% đối với các nước đang phát triển; từ 10% đến 15% ở các nước phát triển, còn ở nước ta năm 1998 là 24,5%, năm 2005 là

20,95% (Trương Đoàn Thể, ‘‘Đổi mới công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong các doanh nghiệp CBTP ở Việt Nam“)

- Vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến trái cây

Sau khi tham khảo và thu thập thông tin từ nhiều nguồn về vai trò của ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông sản và rau quả, trái cây Tác giả đưa

ra nhận định về vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến trái cây như sau:

CNCB giữ vai trò quan trọng không chỉ riêng ngành nông nghiệp cây ăn trái

mà nó còn có ảnh hưởng lớn đối với ngành nông nghiệp nước ta, đến nền kinh tế quốc dân Để làm rõ được vai trò của nó ta cần phải đặt trong mối quan hệ với thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp; đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; tạo việc làm

và đóng góp vào ngân sách

Thúc đẩy ngành nông nghiệp cây ăn trái phát triển

Ngành công nghiệp chế biến trái cây sử dụng nguyên liệu chính là trái cây tươi của ngành nông nghiệp sản xuất, do đó khi ngành công nghiệp chế biến trái cây phát triển sẽ giúp thúc đẩy và mở rộng đầu ra cho sản phẩm nông sản, góp phần cải thiện sản lượng tiêu thụ trái cây tươi hàng năm Bên cạnh đó, CNCBTC phát triển sẽ thúc đẩy những vùng trồng nguyên liệu, nhà máy, xí nghiệp chế biến phát triển theo tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân có thể canh tác, sản xuất theo hướng tập trung,

Trang 25

chuyên canh, đồng thời sẽ được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật sản xuất, góp phần nâng tầm giá trị, chất lượng của các sản phẩm trái cây tươi và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất của ngành nông nghiệp Việt Nam

Do đó, có thể nói rằng phát triển CNCBTC sẽ trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp cây ăn trái thông qua nhu cầu sử dụng trái cây tươi trong quy trình chế biến Nhờ đó, ngành nông nghiệp cây ăn trái được phát triển một cách thuận lợi và ổn định hơn, đồng thời giá trị của trái cây tươi Việt Nam cũng được nâng tầm

rõ rệt sau khi ứng dụng công nghệ chế biến

Nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm trái cây, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Nhu cầu tiêu dùng trái cây tươi trong nước ngày một tăng do thu nhập và mức sống của dân cư ngày càng được nâng cao Tiêu chuẩn tiêu dùng các sản phẩm trái cây tươi hiện nay không chỉ dừng lại ở việc tươi, ngon mà còn phải đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng cao và đặc biệt là không sử dụng thuốc trừ sâu, tăng trưởng trong quá trình trồng trọt Do đó, khi CNCBTC phát triển sẽ hoàn toàn

có đáp ứng được tiêu chí đó, thông qua công nghệ chế biến hiện đại và các tiêu chuẩn

về vệ sinh an toàn thực phẩm, các nguyên liệu trái cây sẽ được tuyển chọn khắt khe với tiêu chuẩn tươi sạch và an toàn vệ sinh ngay từ giai đoạn trồng trọt cho đến khi thu hoạch, sau đó trải qua công nghệ chế biến để cho ra những sản phẩm tươi sạch đảm bảo chất lượng và vẹn nguyên dinh dưỡng

Hơn thế nữa, công nghệ chế biến trái cây còn góp phần tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có nguồn gốc từ trái cây như bánh, mứt, kẹo, đồ uống, trái cây sấy, Không những đa dạng hoá nhu cầu của người tiêu dùng mà lại còn nâng cao chất lượng, giá trị và thời gian sử dụng của trái cây Việt Nam, đáp ứng sản lượng lớn cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Nếu không có công nghệ chế biến trái cây, thì các loại trái cây chỉ được chế biến thô sơ như ngâm, muối, dầm, sấy khô bằng nhiệt của ánh nắng mặt trời, chủ yếu sản xuất thủ công với sản lượng thấp

Đặc biệt là đối với thị trường nước ngoài, các tiêu chuẩn về nhập khẩu cực kỳ khắt khe và đòi hỏi các sản phẩm đạt chất lượng cao từ trong ra ngoài Do đó, khi công nghiệp chế biến trái cây phát triển, tiêu chuẩn trồng trọt ngành nông nghiệp cây

Trang 26

ăn trái cũng được nâng cao theo, nhờ đó cải thiện đầu ra cho thị trường xuất khẩu, nâng cao cơ hội xuất khẩu trái cây Việt Nam và các sản phẩm từ trái cây, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho các thị trường khó tính

Tạo việc làm cho người lao động

Một vai trò không kém phần quan trọng của ngành CNCBTC là tạo ra công ăn việc làm cho người lao động không chỉ cho chính ngành này mà còn cho các ngành công nghiệp liên quan Khi ngành CNCBTC phát triển, các nhà máy sản xuất chế biến

sẽ được xây dựng và đòi hỏi nhu cầu sử dụng lao động lớn tại địa phương đó Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp liên quan khác, đặc biệt là ngành nông nghiệp cây ăn trái cũng đòi hỏi nguồn lao động dồi dào nhằm đáp ứng cho năng lực sản xuất ngành phục vụ cho CNCBTC, góp phần nâng cao và ổn định đời sống cho người nông dân, người lao động

Tăng năng lực cạnh tranh nhờ giảm giá thành chế biến trái cây

Các loại trái cây khi chưa qua chế biến, xử lý thì việc bảo quản là hết sức khó khăn và tốn nhiều chi phí, do vậy khi sản phẩm trái cây đến được tay người tiêu dùng

có giá rất là cao Bên cạnh đó, các phương pháp chế biến trái cây thủ công còn rất thô

sơ làm cho trái cây sau khi thu hoạch giảm sút về cả số lượng và chất lượng, hơn nữa thời gian chế biến lâu, mất nhiều lao động do đó dẫn đến giá thành các loại trái cây sau chế biến tăng cao Khi ngành CNCBTC phát triển thì trái cây được chế biến bằng máy móc, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại nên thời gian chế biến và bảo quản được cải thiện đáng kể, ít tốn nhân công, vì vậy mà chi phí sản xuất chế biến được tối

ưu hóa, giá thành sản phẩm được cải thiện rõ rệt, nâng cao được sức cạnh tranh với các mặt hàng trái cây của nước ngoài nhập khẩu cả về chất lượng lẫn giá bán

- Vai trò của phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas

Sau khi tham khảo vai trò của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, công nghiệp chế biến trái cây, Tác giả đưa ra nhận định về vai trò của ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas như sau:

Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas có vai trò quan trọng không chỉ riêng đối với ngành công nghiệp chế biến nói riêng mà còn ảnh hưởng lớn

Trang 27

đến ngành nông nghiệp cây ăn trái, và các ngành kinh tế khác nói chung Bởi khi ngành này phát triển sẽ có sự ảnh hưởng và sức lan tỏa đến các ngành có liên quan,

từ đó tạo điều kiện cùng nhau phát triển, tạo việc làm cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước Tiêu biểu như những lợi ích sau:

Giải quyết đầu ra cho ngành nông nghiệp cây ăn trái Việt Nam

Với tư cách là cầu nối giữa nguyên liệu với thị trường, công nghệ chế biến sản phẩm nước trái cây có gas có tác dụng giữ gìn chất lượng nguyên liệu được lâu hơn, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao thông qua công nghệ chế biến, nhờ đó thu được lợi nhuận cao hơn Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas chính

là một trong những thị trường đầu ra lớn của ngành nông nghiệp cây ăn trái Nó có tác dụng định hướng về các mặt quy mô, cơ cấu, kích cỡ, chất lượng, giá cả cho khâu sản xuất nguyên liệu một cách trực tiếp

Như ta đã biết thì trái cây là một trong những sản phẩm quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta, đặc biệt hơn là CNCBTC ngày càng cho thấy tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng của nó đối với việc phát triển của các ngành khác trong nông nghiệp giai đoạn hiện nay Công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas với

tư cách là cầu nối giữa ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp cây ăn trái thông qua việc sử dụng trái cây tươi và chế biến thành sản phẩm nước trái cây có gas Công nghiệp CBSP NTCCG tạo ra cho ngành nông nghiệp cơ sở vật chất vững chắc để phát triển, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam Khi công nghiệp CBSP NTCCG phát triển sẽ thúc đẩy những vùng trồng nguyên liệu phát triển theo Các nhà máy, xí nghiệp CBSP NTCCG tạo mọi điều kiện cho người sản xuất có thể trồng tập trung theo quy hoạch của nhà máy, người dân sẽ được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật sản xuất, được nhà máy bao tiêu đầu ra Do vậy, năng suất và chất lượng cây trồng cao, tránh được những tổn thất sau thu hoạch Khi trái cây đã qua chế biến sẽ cho chất lượng cao hơn, làm cho giá trị của nó tăng lên so với lúc ban đầu, thời gian bảo quản cũng lâu hơn do vậy có thể vận chuyển và tiêu thụ ở nhiều nơi Mặt khác khi không có công nghiệp CBSP NTCCG thì ngoài việc các loại trái cây được tiêu thụ một cách trực tiếp, tươi sống, chỉ sử dụng được trong một thời gian ngắn, hoặc có muốn bảo quản xử lý các loại trái cây được chỉ ở dạng thủ công như: muối, dầm, sấy khô thủ công bằng

Trang 28

nhiệt của ánh nắng, đun khô cho chất lượng thấp, chưa có những sản phẩm mới, đa dạng cho nên giá trị của các mặt hàng trái cây là rất thấp Công nghiệp CBSP NTCCG tạo ra một bộ mặt mới cho nông nghiệp nước ta, không chỉ có tỷ trọng đóng góp ngày một lớn vào tổng sản lượng nông sản, mà còn thúc đẩy các ngành chế biến nước giải khát cải thiện và nâng tầm dây chuyền chế biến nhằm gia tăng chất lượng cho sản phẩm

Thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến trái cây phát triển

Ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas phát triển góp phần

đa dạng hóa và gia tăng giá trị ngành công nghiệp chế biến, đồng thời thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến trái cây và các ngành kinh tế khác phát triển

Đối với nhu cầu người tiêu dùng hiện đại ngày nay, đặc biệt là người Việt Nam vẫn

có thói quen tiêu thụ trái cây tươi trực tiếp trong các bữa ăn hàng ngày Vì vậy, khi nhu cầu tiêu dùng ngay giảm sút, các loại trái cây tươi sẽ rất khó tiêu thụ, giá giảm, người nông dân bị lỗ nặng, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp cây

ăn trái Tuy nhiên, xu hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh

mẽ nên nhu cầu của thị trường đang dần chuyển qua tiêu thụ các sản phẩm chế biến

từ trái cây ở dạng đóng hộp, tiện dụng, đảm bảo vệ sinh và dinh dưỡng Do vậy, phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm chế biến từ trái cây, tăng giá trị và chất lượng sử dụng,

đồng thời đáp ứng nhu cầu tiện lợi cho người tiêu dùng hiện đại

Nâng cao giá trị nông sản và tăng hiệu quả kinh tế

Thị trường tiêu thụ sản phẩm trái cây Việt Nam trong những năm gần đây thường không ổn định Giá sản phẩm tiêu thụ thấp, thường xuyên gặp phải tình trạng

“Được giá mất mùa” và “Được mùa mất giá” Nếu phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas sẽ góp phần cải thiện và ổn định thị trường đầu ra cho nông sản Việt, giữ cho giá cả ổn định Mặt khác, thông qua quá trình chế biến sẽ, giá trị và chất lượng trái cây sẽ được cải thiện đáng kể, làm tăng hiệu quả của quá trình trồng trọt và chế biến công nghiệp

Tạo việc làm cho người lao động

Trang 29

Một vai trò không kém phần quan trọng của ngành công nghiệp CBSP NTCCG

là tạo việc làm cho không chỉ riêng ngành nông nghiệp mà còn tạo việc làm cho cả

xã hội Khi ngành CNCB phát triển nó buộc người dân sản xuất trái cây phải phát triển theo kiểu tập trung hơn, làm cho vùng đó phải huy động một lực lượng lao động tương đối lớn tham gia vào việc trồng các loại trái cây theo cách chuyên môn hoá, theo kiểu công nghiệp hơn Do vậy, những lao động dư thừa ở nông thôn sẽ được huy động vào các doanh nghiệp chế biến theo kiểu mùa vụ, tạo thêm thu nhập cho họ trong lúc nhàn rỗi Hoặc là họ được tuyển vào các khu công nghiệp chế biến làm công nhân lâu dài, huy động được nguồn nhân lực tại địa phương mà doanh nghiệp đặt nhà máy

Công nghiệp CBSP NTCCG phát triển ngoài việc tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người nông dân, nó còn đóng góp vào ngân sách quốc gia tương đối lớn Ngoài việc thu được ngoại tệ lớn về cho đất nước từ xuất khẩu các mặt hàng trái cây, nó còn đóng các khoản thuế cho Nhà nước làm tăng ngân sách quốc gia

Tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao đáp ứng nhu cầu thị trường

Ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas với sứ mệnh mang lại các sản phẩm nước giải khát tốt cho sức khoẻ được chế biến trực tiếp từ trái cây tươi Việt Nam kết hợp với công nghệ sản xuất hiện đại Các sản phẩm nước trái cây

có gas không những đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các quy định, đánh giá nghiêm ngặt trong ngành công nghiệp chế biến, mà còn giữ trọn dưỡng chất của trái cây tươi sạch thông qua quy trình sản xuất khép kính từ nông trại đến thành phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng khó tính của người tiêu dùng ngày nay Hơn nữa, ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas phát triển còn giúp

mở rộng thị trường nước giải khát, mang đến nhiều sự lựa chọn tốt cho sức khoẻ cho người tiêu dùng

Đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

Việt Nam đang trong quá trình CNH, HĐH, đồng thời tốc độ đô thị hóa nhanh,

do vậy thói quen tiêu dùng có xu hướng dịch chuyển sang sử dụng các sản phẩm chế

Trang 30

biến để tiện lợi, ít tốn kém thời gian Đặc biệt là các sản phẩm ứng dụng công nghệ chế biến càng được ưa chuộng vì yếu tố uy tín, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cao Bên canh đó, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên và

có giá trị dinh dưỡng cao đang là tiêu chí tuyển chọn hàng đầu trong hầu hết các chủng loại sản phẩm thực phẩm và đồ uống của người tiêu dùng hiện đại Theo báo cáo của Vinaresearch năm 2013 cho biết, có tới 86% người tiêu dùng chọn thức uống bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe thay cho các sản phẩm khác

Do vậy, phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas hoàn toàn là một ngành công nghiệp phù hợp và đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện nay Là một trong những giải phát cung cấp sản phẩm “Tươi”, “Dinh Dưỡng” và "Tiện lợi" đến tay người tiêu dùng hiện đại trong và ngoài nước, thoả mãn nhu cầu sử dụng các sản phẩm thực phẩm "Xanh"

1.2.2 Nội dung của phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

1.2.2.1 Phát triển vùng nguyên liệu có chất lượng

Có thể nói, mối quan hệ giữa phát triển vùng nguyên liệu với phát triển công nghiệp chế biến là mối quan hệ biện chứng, bởi phát triển công nghiệp chế biến sẽ thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu và đồng thời phát triển vùng nguyên liệu tốt sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến Bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng cần phải có nguyên liệu, không có nguyên liệu thì công nghiệp chế biến

không thể hoạt động được (Đậu Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp phát triển vùng nguyên liệu dứa ở huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An”)

Dựa trên nền tảng đó, Tác giả nhận định rằng phát triển vùng nguyên liệu là một trong những bước tiền đề trong việc phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas Và cũng là bước quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến hương vị và chất lượng sản phẩm sau chế biến Tuy nhiên, với đặc thù của loại nguyên liệu nông sản có tính mùa vụ cao, mau hư và thời gian bảo quản ngắn Đồng thời với nhu cầu phục vụ cho sản xuất công nghiệp nên đòi hỏi vùng nguyên liệu phải đáp ứng được quy mô lớn Vì vậy, phát triển vùng nguyên liệu nên tập trung vào những yếu

tố sau:

Trang 31

- Lựa chọn vùng nguyên liệu tập trung, có địa lý thuận lợi

Vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp CBSP NTCCG có thể chia làm hai loại đó là: vùng nguyên liệu tập trung và phi tập trung

Vùng nguyên liệu tập trung là vùng nguyên liệu mà ở đó các loại trái cây được trồng tập trung vào các trang trại, các vùng chuyên canh Ví dụ như vùng chuyên sản xuất các loại rau, chuyên sản xuất các loại quả như: xoài, dứa Vùng nguyên liệu tập trung nó tạo điều kiện thuân lợi cho việc thu mua tập trung, cung cấp kịp thời các loại trái cây cho các nhà máy chế biến Nó đảm bảo cho quá trình chế biến trái cây diễn

ra một cách liên tục

Vùng nguyên liệu phi tập trung là vùng nguyên liệu mà ở đó các loại trái cây được trồng một cách phân tán, thường nó do các hộ gia đình nông dân cá thể trồng với quy mô nhỏ bé, chất lượng các loại trái cây thường có chất lượng không cao Sau khi tiêu dùng không hết họ mới đem bán Do đó với vùng nguyên liệu như vậy thì các doanh nghiệp chế biến cần có hệ thống thu mua nguyên liệu một cách thật quy mô, chặt chẽ, phải thu mua một cách kịp thời Với vùng nguyên liệu này chỉ cung cấp các loại trái cây cho các doanh nghiệp chế biến mang tính chất mùa vụ, không thường xuyên Ví dụ: các hộ gia đình nông dân trồng cây cải để lấy hạt cung cấp cho các nhà máy ép dầu thực vật

Bên cạnh đó, vùng nguyên liệu nên nằm trong cự ly tối ưu đối với nhà máy sản xuất chế biến, tránh tình trạng vận chuyển quá xa, do điều kiện và thời gian bảo quản của trái cây tươi rất ngắn và khắt nghiệt Đồng thời, việc xây dựng vùng nguyên liệu gắn kết với nhà máy sản xuất chế biến cũng góp phần cải thiện chi phí vận chuyển trong sản xuất và đáp ứng nguyên liệu kịp thời cho nhu cầu chế biến, tối ưu hóa quy trình sản xuất

Chính vì vậy, trong quy trình phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas, việc xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và gắn kết với nhà máy sản xuất chế biến là cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định của nguồn nguyên liệu đầu vào ở quy mô lớn, hệ thống các tiêu chuẩn và quy trình sản xuất trái cây Nhờ đó, dễ dàng thiết lập chu trình chế biến phức hợp khép kín từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm Song song đó, xây dựng hệ thống chuỗi liên kết trong việc

Trang 32

thu mua trái cây từ các vùng nguyên liệu phi tập trung để gia tăng thêm sản lượng cho nguồn nguyên liệu đầu vào và góp phần hỗ trợ đầu ra cho các tiểu thương nhỏ lẻ

- Sản phẩm ngon, sạch và đảm bảo giữ được dinh dưỡng tối đa thông qua thổ nhưỡng và khí hậu

Đối với nông nghiệp cây ăn trái, thổ nhưỡng (đất) là tư liệu sản xuất quan trọng

và quý báu nhất Vừa có vai trò cung cấp dinh dưỡng và làm chỗ dựa cho cây trồng, đất còn là môi trường để tiến hành các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, để tăng cường và bồi dưỡng sức khoẻ giúp cây đạt chất lượng và sản lượng thu hoạch tốt Do đó, đất cần đạt được những điều kiện nhất định về tính ổn định, cấu trúc, độ thoáng khí, độ ẩm, … nghĩa là có tính chất vật lý thích hợp, nhằm đáp ứng được vai trò trên Ngoài ra, đất còn cần phải chứa nhiều dinh dưỡng khoáng, có khả năng giữ và cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây

Có như vậy, vùng nguyên liệu mới đủ khả năng phục vụ cho công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas, cung cấp nguyên liệu với quy mô lớn Song trong quá trình sử dụng đất cần phải liên tục bảo vệ bồi dưỡng đất, tích cực mở rộng diện tích đất bằng các khai hoang tăng vụ, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu thâm canh sản xuất, có như vậy thì đất mới đạt chất lượng và phục vụ được lâu dài (Ts Nguyễn Như Hà,

“Giáo trình Thổ Nhưỡng, Nông Hóa”

Ngoài ra, cây trồng còn chịu tác dộng trực tiếp của thời tiết và khí hậu, nếu thời tiết khí hậu thuận lợi thì cây trồng sẽ phát triển tốt hoặc ngược lại Việt Nam chúng ta nằm trong vành nhiệt đói gió mùa với thuận lợi cho việc gieo trồng các loại trái cây nhiệt đới và á nhiệt đới Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng gặp rất nhiều khó khăn, trái cây nước ta bị nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như bão, lụt, biến đổi khí hậu dẫn đến rủi ro cao về chất lượng và sản lượng của trái cây sau khi thu hoạch Do

đó, trong quá trình xây dựng vùng nguyên liệu cũng cần chú ý thiết lập và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu cho cây trồng, đảm bảo sản phẩm đầu ra đạt chất lượng và sản lượng theo mong đợi

- Nguồn nguyên liệu với sản lượng dồi dào và ổn định

Ta biết rằng nguyên liệu là yếu tố quan trọng, chủ yếu của quá trình sản xuất

và chế biến Trong ngành công nghiệp CBSP NTCCG thì nguyên liệu chính là các

Trang 33

loại trái cây tươi và một tỷ lệ nhỏ các loại nguyên liệu khác Do vậy chất lượng và sản lượng trái cây có ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm nước trái cây có gas nói riêng

và sự phát triển của cả ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas nói chung

Trong ngành công nghiệp nước trái cây có gas hay bất cứ ngành công nghiệp sản xuất chế biến nào thì cũng có những sản phẩm chủ lực và những sản phẩm thời

vụ Do đó, để đáp ứng sản lượng sản xuất đủ và ổn định cho nhu cầu sản xuất chế biến thì vùng nguyên liệu cũng cần được định hướng, quy hoạch sản xuất sao cho phù hợp

Điển hình như đối với những loại sản phẩm NTCCG có hương vị phổ biến mang nhu cầu lớn, đòi hỏi sản lượng nguyên liệu lớn, thì các doanh nghiệp chế biến nước trái cây có gas cần tập trung vào vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, thâm canh sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, nhằm đáp ứng nguyên liệu dồi dào và ổn định cho nhu cầu sản xuất chế biến với sản lượng lớn Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chế biến NTCCG có thể chủ động trong việc đầu tư thêm vốn, giống, kỹ thuật canh tác mang tính đồng bộ cho những vùng nguyên liệu tập trung

Còn đối với những sản phẩm NTCCG mang hương vị đặc trưng, mùa vụ hoặc những sản phẩm hương vị mới đòi hỏi thời gian tham khảo thị trường tiêu thụ, thì sản lượng sản xuất sẽ không nhiều hoặc không liên tục thì việc phân bổ khai thác nguyên liệu tại những khu vực phi tập trung là hết sức hợp lý và cần thiết Tuy nhiên, việc phát triển CNCB ở vùng nguyên liệu phi tập trung thường gặp nhiều khó khăn như trình độ và kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, sản lượng ít và tính ổn định thấp Do vậy, trong ngành CNCB NTCCG cũng cần tăng cường đào tạo các phương pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến dành riêng cho người dân địa phương có tham gia trong chuỗi nguyên liệu phi tập trung, xây dựng các chuỗi liên kết thu mua nguyên liệu nhằm hệ thống hoá và kiểm soát tốt chất lượng đầu vào Có như vậy, vùng nguyên liệu phi tập trung mới được quy hoạch theo hướng ổn định và cùng phát triển theo quy mô của ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas

Có thể nói rằng để đáp ứng đủ và ổn định nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas không chỉ dừng lại ở việc phát triển

Trang 34

vùng nguyên liệu có quy mô và chất lượng, mà còn phải xây dựng và quy hoạch vùng nguyên liệu theo đúng nhu cầu tiêu dùng và năng lực sản xuất, từ đó cả một hệ thống

từ vùng nguyên liệu đến nhà máy chế biến sản xuất mới có thể phục vụ cho nhu cầu của thị trường một cách dễ dàng, linh hoạt

1.2.2.2 Phát triển sản phẩm đa chủng loại

Chủng loại trái cây nước ta vô cùng dồi dào và phong phú, tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển và đa dạng hoá chủng loại và hương vị sản phẩm cho ngành CNCB NTCCG Tuy nhiên, mỗi loại trái cây đều mang đặc tính khác nhau do

đó quy trình và kỹ thuật chế biến cũng có những đặc trưng riêng tương ứng, đây cũng

là một trong những khó khăn lớn sẽ gặp phải trong ngành CNCB NTCCG trong tương lai bởi lẻ sản xuất công nghiệp ở quy mô lớn, khó có thể liên tục điều chỉnh máy móc,

kỹ thuật trong mỗi lần sản xuất theo mỗi loại trái cây khác nhau Do vậy phát triển sản phẩm đa chủng loại trong ngành này không chỉ dừng lại ở việc đa dạng nguyên liệu đầu vào mà còn phải đa dạng hoá công thức chế biến, kỹ thuật và thiết bị sao cho quy trình sản xuất được diễn ra thuận lợi và phù hợp cho nhiều chủng loại trái cây khác nhau Tuy nhiên, với sứ mệnh của ngành là mang lại các sản phẩm thức uống có chất lượng, dinh dưỡng cao từ thành phần trái cây tươi, nên các công thức và quy trình chế biến cũng phải được thực thi nghiêm ngặt để thực hiện được mục đích này

Với tình hình cạnh tranh cực kỳ gay gắt trong thị trường đồ uống hiện nay tại Việt Nam, việc không ngừng phát triển và cập nhật các chủng loại sản phẩm và hương

vị mới là vô cùng quan trọng nhằm nâng cao tính thích thời và làm mới danh mục sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng hiện nay Theo quan

điểm của Ông Trần Vũ Hiệp – Giám Đốc Marketing Công Ty La Vie, Chỉ 2.3% những

sản phẩm mới (bao gồm nhãn hiệu hoặc chủng loại mới) trong giai đoạn 2015-2018

có tỉ lệ người mua thử đạt 1% dân số (Diệu Uyên, “ Phát triển sản phẩm mới #2: Nước uống có ga hương trái cây La Vie”)

1.2.2.3 Phát triển cơ sở vật chất và công nghệ chế biến

Là ngành công nghiệp chế biến nên cơ sở vật chất và công nghệ chế biến đóng vai trò cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, năng suất sản phẩm đầu ra và sự phát triển của toàn ngành CNCB NTCCG Không chỉ dừng lại ở đó, hàm

Trang 35

lượng dinh dưỡng của sản phẩm sau chế biến phụ thuộc rất lớn vào hai yếu tố này Với sứ mệnh mang lại sản phẩm nước trái cây có gas giữ trọn hương vị và vẹn nguyên dưỡng chất của trái cây tươi, thì cơ sở vật chất và công nghệ chế biến của ngành này càng đòi hỏi phải thật sự hiện đại, và đạt tiêu chuẩn cao

Mặt khác, phát triển cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất của ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas còn góp phần nâng tầm công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất, chế biến của các ngành nghề liên quan Điển hình như nguyên liệu trái cây đầu vào với tiêu chuẩn tuyển chọn khắt khe sẽ thúc đẩy ngành nông nghiệp cây ăn trái áp dụng kỹ thuật canh tác cao hơn, mặt bằng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến nước giải khát cũng đòi hỏi phải cải tiến theo để nâng cao năng lực cạnh tranh

1.2.2.4 Phát triển chuỗi liên kết để tạo đầu ra cho sản phẩm

Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả trích lược một số quan điểm về chuỗi sản phẩm của các tác giả trên thế giới Ganeshan và cộng sự cho rằng chuỗi sản phẩm

là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến người tiêu dùng Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm

là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng (Đinh Thị Bích Hảo Luận văn thạc sĩ

“Liên Kết Các Chủ Thể Tham Gia Vào Chuỗi Sản Phẩm Bò Sữa Ở Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội”)

Như vậy, theo các quan điểm đã trích dẫn, về cơ bản một chuỗi sản phẩm bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:

- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất ra sao? chủ thể chế biến hoặc chuyển đổi trong chuỗi mua nguyên liệu như thế nào? mua

từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp?

Trang 36

- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng

- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng một cách kịp thời và hiệu quả

Vì vậy, Tác giả nhận định rằng, chuỗi liên kết trong ngành công nghiệp CBSP NTCCG là chuỗi liên kết bao gồm tất cả các chủ thể liên quan đến các khâu từ sản xuất nguyên liệu đầu vào; thu gom cung cấp vận chuyển nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến; sản xuất chế biến các sản phẩm bán thành phẩm và thành phẩm,

và tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng Chuỗi liên kết này không chỉ liên quan đến các nhà thu gom và cung cấp nguyên liệu đầu vào, nhà sản xuất, nhà chế biến,

mà còn liên quan đến các chủ thể hoạt động thương mại, kinh doanh, bán hàng trong ngoài nước và người tiêu dùng

Hình 1 1 - Quy trình chuỗi cung ứng công nghiệp chế biến

Nguồn: Theo Phụ Lục 2 “Sơ Đồ Chuỗi Giá Trị Ngành Hàng Nông Sản Chủ Lực Gắn Với Truy Xuất Nguồn Gốc”(Kèm Theo Kế Hoạch

Số 231 /KH-UBND Ngày 24 /10/2018 Của UBND Tỉnh Đồng Tháp)

Phát triển chuỗi liên kết trong ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas nhằm tạo sự kết nối vững chắc giữa các cá thể, các công đoạn trong toàn chuỗi hệ thống, từ nguyên liệu đầu vào cho đến phân phối sản xuất đầu ra đều diễn ra theo một chu trình chặt chẽ Có như vậy, thì sự phát triển của ngành này mới vững bền, các cá thể tham gia trong chuỗi liên kết được ổn định đầu ra và đảm nhiệm từng vai trò cụ thể, nhờ đó hoạt động toàn ngành diễn ra nhịp nhàng và có tổ chức hơn

Trang 37

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas,

có rất nhiều nhân tố tác động Sau khi trao đổi và tham khảo ý kiến của các chuyên gia, Tác giả đã tổng hợp các nhân tố chính yếu, ảnh hưởng quan trọng đến phát triển công nghiệp CBSP NTCCG như sau:

1.2.3.1 Nhu cầu của thị trường về sản phẩm nước trái cây có gas

Nhu cầu thị trường là nhân tố quyết định để ngành sản xuất tồn tại và phát triển Bởi thị trường có nhu cầu thì sản phẩm sản xuất ra mới có cơ may được chấp nhận tiêu thụ Nhu cầu thị trường càng lớn và có mức tăng trưởng cao hứa hẹn nhiều

cơ hội phát triển trong tương lai cho ngành sản xuất Trong ngành công nghiệp này, nhu cầu thị trường lại càng ảnh hưởng nhiều hơn bởi không chỉ khâu chế biến sản xuất bị ảnh hưởng mà cả ngành nông nghiệp cây ăn trái và toàn ngành nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng lớn do nguồn nguyên liệu đang được sản xuất theo nhu cầu của ngành công nghiệp này Điển hình như nhu cầu thị trường các sản phẩm nước trái cây

ở từng mùi vị, chủng loại thường khác nhau, khi nhu cầu này đột ngột thay đổi nằm ngoài dự kiến của ngành thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình phát triển của cả ngành công nghiệp này vì tại thời điểm đó toàn bộ vùng nguyên liệu và nhà máy đang tập trung cho sản phẩm hương vị, chủng loại đó, gây ảnh hưởng và tổn thất cực kỳ nghiêm trọng cho sự phát triển và sinh tồn của ngành cũng như toàn nền kinh tế và các ngành liên quan khác

Do đó, đặc biệt trong ngành này, việc xác định đúng và tìm hiểu rõ nhu cầu tiêu dùng là yếu tố hàng đầu để đưa ra các sản phẩm phù hợp, góp phần thúc đẩy và phát triển ngành công nghiệp CBSP NTCCG

1.2.3.2 Nguyên liệu chế biến sản phẩm nước trái cây có gas

Đây là nhân tố chính của đầu vào của quá trình sản xuất chế biến Ngành nào cũng vậy, để hoạt động sản xuất được diễn ra thuận lợi và hiệu quả cần có nguồn nguyên liệu dồi dào và sẵn sàng cung ứng Đối với công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas thì nguồn nguyên liệu càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi nhà máy ở gần, đảm bảo cung ứng nhanh chóng, kịp thời, chất lượng cao thuận lợi cho

Trang 38

sản xuất Ngược lại, nếu nhà máy ở xa nguồn nguyên liệu, việc cung ứng sẽ không thuận tiện, đồng thời chất lượng nguyên liệu sẽ bị giảm

1.2.3.3 Vốn đầu tư

Vốn đầu tư cũng là nhân tố quan trọng cho việc phát triển ngành Vốn càng nhiều càng thuận lợi trong việc lựa chọn công nghệ, máy móc thiết bị và quy mô để đầu tư Đối với ngành chế biến sản phẩm nước trái cây có gas, vốn đầu tư không cần nhiều như những ngành công nghiệp nhẹ khác, tuy nhiên cũng không phải quá ít, vì trong thời đại ngày nay chế biến thực phẩm đòi hỏi phải được trang bị thiết bị, công nghệ hiện đại để có sản phẩm chất lượng cao đồng thời quá trình sản xuất phải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, chi phí cho việc đầu tư cũng phải đủ lớn mới đáp ứng được những yêu cầu đó

1.2.3.4 Thiết bị công nghệ chế biến

Sản xuất được sản phẩm gì, chất lượng sản phẩm ra sao đều phụ thuộc vào thiết bị công nghệ chế biến Trong thời đại công nghiệp phát triển cao và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên nhiều mặt, trong đó thiết

bị công nghệ là nhân tố rất quan trọng, có ý nghĩa then chốt Thiết bị công nghệ hiện đại sẽ sản xuất với năng suất cao và tạo ra sản phẩm có chất lượng, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng tốt hơn

1.2.3.5 Tình hình cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh trên thị trường vừa là động lực để doanh nghiệp phát triển đồng thời nó cũng là nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó cho thấy doanh nghiệp bị hao tốn nguồn lực, ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp Do vậy, tình hình cạnh tranh trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của ngành nói chung

1.2.3.6 Chính sách quản lý của Nhà nước

Nhà nước giữ vai trò quản lý đất nước, do vậy để tạo điều kiện tăng trưởng hay hạn chế sự phát triển của bất kỳ ngành nghề nào, Nhà nước đều có thể điều tiết thông qua các chính sách quản lý vĩ mô Việc phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm

Trang 39

nước trái cây có gas (là phát triển ngành phụ trợ của nông nghiệp cây ăn trái) là động lực để thúc đẩy ngành nông nghiệp cây ăn trái và công nghiệp chế biến phát triển, thường được chính quyền Nhà nước của các quốc gia ủng hộ Thực tế cho thấy, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp chế biến nông sản, nhiều quốc gia đã ban hành các chính sách hỗ trợ nhằm thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào ngành này Vì thế, nếu ngành CNCB NTCCG có thể nhận được các chính sách hỗ trợ phát triển từ nhà nước thì ngành sẽ có nhiều lợi thế hơn để phát triển và thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam

Sau khi tham khảo hệ thống chỉ tiêu đo lường sự phát triển của một số ngành

và chuyên gia, Tác giả tổng hợp và đề nghị chỉ tiêu phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas như sau:

1.2.4.1 Các chỉ tiêu đo lường về mặt Kinh Tế

- Tốc độ tăng trưởng của ngành

- Tỷ suất lợi nhuận và năng suất sản lượng của ngành ngành và sự tăng trưởng hàng năm

- Mức độ liên kết giữa ngành công nghiệp chế biến nước trái cây có gas với các ngành phụ trợ

- Tỷ lệ tổn thất sản lượng nông sản bị tiêu hủy, hư hại do hạn chế đầu ra

- Sự đa dạng và phát triển số lượng các sản phẩm nước trái cây có gas

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu công nông nghiệp theo hướng có lợi

1.2.4.2 Các chỉ tiêu đo lường về mặt Xã Hội

- Số lượng việc làm cho người lao động

- Tỷ lệ lao động đang làm việc trong ngành đã qua đào tạo cao

- Nâng cao chất lượng đời sống người tiêu dùng thông qua các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và tiện lợi

Trang 40

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas

Thị trường nước giải khát tại Việt Nam có tốc độ phát triển khá nhanh trong những năm gần đây Bình quân người Việt tiêu thụ nước giải khát trên 23lít/người/năm Theo Hiệp hội bia rượu - nước giải khát các dòng sản phẩm này chiếm lượng sản xuất và tiêu thụ lên đến 85% sản lượng của cả nước Trong nửa năm đầu 2015, ngành sản xuất đồ uống tăng 6,3% so với cùng kỳ Đến năm 2020, con số này sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, đạt khoảng 8,3-9,2 tỷ lít/năm Tính đến năm

2016, thị trường nước giải khát Việt Nam có khoảng 1.800 cơ sở sản xuất nước giải khát trong đó bao gồm cả các Tập đoàn hàng đầu thế giới như Pepsi, Coca Cola cùng với hàng nghìn các doanh nghiệp trong nước khác đang chứng tỏ sức thu hút to lớn của thị trường nước giải khát Việt Nam

Trong khi đó, ngành nông nghiệp cây ăn trái Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết đầu ra cho sản phẩm trái cây tươi Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), hiện nay, sản lượng trái cây thu hoạch trên cả nước đạt hơn 7 triệu tấn và tăng nhanh so với 7 - 8 năm trước Song có tới 90% sản lượng trái cây vẫn phải trông đợi vào thị trường tiêu thụ nội địa nên giá bán thấp, tỷ lệ trái cây xuất khẩu mới chỉ chiếm 10% với 5 - 6% là trái cây tươi, nên giá trị kim ngạch xuất khẩu thu về không nhiều Trong khi đó, tỷ lệ trái cây nhập khẩu mấy năm qua liên tục tăng ở hai con số Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 7 tháng qua, các doanh nghiệp đã nhập về 134 triệu USD mặt hàng trái cây, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước Nhiều loại trái cây như táo, cam, quýt, mận, nho, lựu từ Trung Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Mỹ, Niu Di-lân đầy dẫy trên thị trường nước ta

Từ đó cho thấy, việc phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây

có gas là giải pháp cần thiết, vừa kết hợp giải quyết đầu ra cho ngành nông nghiệp cây ăn trái, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến nông sản phát triển, cung cấp sản phẩm vừa tốt cho sức khỏe vừa thỏa mãn được nhu cầu sử dụng

nước giải khát uống liền của người tiêu dùng hiện đại

Ngày đăng: 04/12/2021, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w