Tổ chức hoạt động học của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tại trường mầm non hoa hồng 6, thị xã dĩ an theo phương pháp giáo dục montessori Tổ chức hoạt động học của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tại trường mầm non hoa hồng 6, thị xã dĩ an theo phương pháp giáo dục montessori Tổ chức hoạt động học của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tại trường mầm non hoa hồng 6, thị xã dĩ an theo phương pháp giáo dục montessori
Trang 1Ngày nay, tiếng Anh đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người và
nó được coi là ngôn ngữ quốc tế phổ biến nhất trên thế giới Giảng dạy bằng phương pháp dạy học tương tác, làm cho người học tích cực và chủ động được xem là phù hợp với nền giáo dục hiện đại Do đó, nhu cầu học tiếng Anh ngày càng gia tăng ở mọi quốc gia Tuy nhiên, sinh viên Việt Nam còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng tiếng Anh, đặc biệt là trong giao tiếp Đây cũng chính là rào cản trong việc tiếp nhận
và lĩnh hội kiến thức mới của thế giới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hầu hết người học tiếng Anh như một ngoại ngữ cảm thấy khá khó khăn để cải thiện khả năng giao tiếp tiếng Anh của mình, bởi vì nhiều nguyên nhân khác nhau như thiếu tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Anh, không có ý tưởng hoặc vốn từ vựng không đủ để diễn đạt một cách lưu loát và chính xác Xuất phát từ những lý do đó, người nghiên cứu sẽ đề xuất một số giải pháp áp dụng quan điểm sư phạm tương tác để cải thiện khả năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên Đây là một cách tiếp cận dạy học nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa ba yếu tố người học - người dạy - môi trường Từ những lý
do trên và qua quá trình thực tế giảng dạy tiếng Anh trình độ (A2), người nghiên cứu
đã thực hiện đề tài: “Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường đại học Công nghệ Thông tin – Đại học Quốc gia Tp.HCM”
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng các PPDH theo quan điểm sư phạm tương tác (PPDH hợp tác; PP sử dụng các trò chơi ngôn ngữ; PPDH ngôn ngữ giao tiếp; PPDH sử dụng phương tiện truyền thông) vào dạy tiếng Anh giao tiếp cho SV trường đại học Công nghệ Thông Tin Thời gian nghiên cứu thực tế từ giữa cuối học kì I bằng phương pháp thực nghiệm sư phạm Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các PPDH theo QĐ SPTT đã đem lại hiệu quả trong việc dạy học tiếng Anh giao tiếp
Cấu trúc luận văn:
Luận văn được chia làm 3 phần:
Mở đầu
Trang 2Chương 2: Thực trạng về dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường đại học Công nghệ Thông tin
Chương 3: Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường đại học Công nghệ Thông tin
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3as the most common international language in the world Teaching with the interaction teaching method encouraged and activated learner which has been considered as suitable for modern education Therefore, the demand of learning English has been increasing all over the world However, Vietnamese student are quite weak of using English, especially in communication This is the difficulty for student to learn and get new knowledge from the world Most of the research findings have shown that most of the students of English as a Foreign Language finds it quite difficult to improve their ability of communicating in English, because of many reasons such as lack of confidence, have no idea and vocabulary to express it smoothly and accuracy Based on these conditions, the researcher would like to offer some methods that apply the interactive approach in order to improve student’s ability
of English communication This is a way to approach teaching which emphasize a relationship of interaction between learner – teacher – environment From these above reasons and the process of real teaching at level A2, the researcher would like to do
a research on: “Applying interactive pedagogy viewpoint in teaching English communication at Information Technology University – Vietnam National University Ho Chi Minh City”
This thesis studies the application of teaching methods following interactive pedagogy viewpoint (Cooperative language learning; The language games; Communicative language teaching; The use of the multimedia in English language teaching) in teaching English communication for students at Information Technology University The actual study period from mid to the end of the first term by experimental padagogy method The research’s result show that using teaching methods following interactive pedagogy viewpoint brought effective in teaching and learning English communication
The thesis structure:
This thesis is devided into three sections:
Trang 4Chapter 1: Rationale for teaching English communication by applying interactive pedagogy viewpoint
Chapter 2: The reality of teaching and learning English communication at Information Technology University
Chapter 3: Suggestions for methods to teach English communication by applying interactive pedagogy viewpoint
The third section: Conclusion and suggestion
Reference
Appendix
Trang 5QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
ABSTRACT vi
MỤC LỤC viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU xii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xiii
DANH MỤC HÌNH xiv
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
8 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 7
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 8
1.1 TỔNG QUAN 8
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 11
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 14
1.2.1 Phương pháp dạy học 14
Trang 61.3 QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC 18
1.3.1 Đặc điểm của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 18
1.3.2 Cấu trúc của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 19
1.3.3 Các dạng tương tác cơ bản của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 25
1.4 DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 30
1.4.1 Triết lí dạy học ngoại ngữ 30
1.4.2 Dạy học tiếng Anh giao tiếp theo quan điểm sư phạm tương tác 31
1.4.2.1 Phương pháp dạy học tương tác giữa người học và người học (Peer interaction). 32
1.4.2.2 Phương pháp dạy học tương tác giữa người dạy và người học (instructor - learner interaction). 35
1.4.2.3 Phương pháp dạy học tương tác giữa người dạy, người học và môi trường (learner-instructor-environment interaction). 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 42
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 42
2.2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 47
2.2.1 Mục đích khảo sát 47
2.2.2 Nội dung và đối tượng khảo sát 47
2.2.3 Phương pháp và công cụ 48
2.2.4 Đánh giá kết quả khảo sát 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
Trang 7THÔNG TIN 65
3.1 ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH GIAO TIẾP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 65
3.2 NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP 70
3.2.1 Nội dung vận dụng 70
3.2.2 Biện pháp vận dụng 72
3.3 VẬN DỤNG DẠY HỌC MINH HỌA 75
3.3.1 Minh họa chủ đề 1 75
3.3.2 Minh họa chủ đề 2 80
3.4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.4.1 Mục đích thực nghiệm. 85
3.4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm. 85
3.4.3 Nội dung thực nghiệm 86
3.4.4 Xử lý kết quả thực nghiệm 87
3.4.5 Phân tích, đánh giá thái độ và kết quả học tập của sinh viên 98
3.4.6 Kết quả đánh giá nhận xét của GV dự giờ 98
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 104
1 KẾT LUẬN 104
2 KIẾN NGHỊ 105
3 HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 111
Trang 8THỨ TỰ CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
Trang 9Bảng 1.1: So sánh môi trường dạy học truyền thống và hiện đại [49] 29
Bảng 2.1: Mức độ thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học của GV 52
Bảng 2.2: Mức độ thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học của GV 53
Bảng 2.3: Các yếu tố GV quan tâm khi chuẩn bị giờ dạy tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 54
Bảng 2.4: Những khó khăn của GV khi dạy tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 56
Bảng 2.5: Tính tích cực học tập kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trình độ (A2) 60
Bảng 3.1 Nội dung chương trình tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 66
Bảng 3.2: Thái độ học tập của SV đối với môn tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 87
Bảng 3.3: Mức độ tự tin khi giao tiếp tiếng Anh trong lớp của SV 89
Bảng 3.4: Mức độ giao tiếp tiếng Anh lưu loát của SV 90
Bảng 3.5: Biểu hiện tích cực trong giờ học của SV 91
Bảng 3.6: Khả năng đặt và trả lời câu hỏi của SV 91
Bảng 3.7: Phân bố điểm kiểm tra cuối khóa của lớp thực nghiệm 92
Bảng 3.8: Phân bố điểm kiểm tra cuối khóa của lớp đối chứng 94
Bảng 3.9: Thống kê điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn 95
Bảng 3.10: Phân phối tần số xuất hiện điểm số ở lớp ĐC và lớp TN 95
Trang 10Biểu đồ 2.1: Mức độ cần thiết của kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong học tập cũng
như trong công việc 50 Biểu đồ 2.2: Nhận xét của GV về nội dung chương trình môn học kỹ năng giao tiếp
tiếng Anh trình độ (A2) 51 Biểu đồ 2.3: Các yếu tố GV quan tâm khi chuẩn bị giờ dạy tiếng Anh giao tiếp trình
độ (A2) 55 Biểu đồ 2.4: Những khó khăn của GV khi dạy tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 56 Biểu đồ 2.5: Nhận thức của SV về môn học tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 57 Biểu đồ 2.6: Nhận xét của SV về khả năng giao tiếp tiếng Anh của mình hiện tại 58 Biểu đồ 2.7: Mức độ thường xuyên của SV trong việc luyện tập giao tiếp bằng tiếng Anh
58 Biểu đồ 2.8: Kỹ năng SV đạt được sau khi học tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 59 Biểu đồ 2.9: Nhận xét của SV về tài liệu học tập, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
học tại trường hiện nay 61 Biểu đồ 2.10: Nhận định của SV về khóa học tiếng anh giao tiếp trình độ (A2) 62 Biểu đồ 3.1: Thái độ học tập của SV đối với môn tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) 88 Biểu đồ 3.2: Mức độ tự tin khi giao tiếp tiếng Anh trong lớp của SV 89 Biểu đồ 3.3: Mức độ giao tiếp tiếng Anh lưu loát của SV 90 Biểu đồ 3.4: Phân phối tần số xuất hiện điểm số ở lớp ĐC và lớp TN 96
Trang 11Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy-học [19, tr.116] 19
Hình 1.2: Tương tác giữa người dạy và người học [44, tr.85] 26
Hình 1.3: Tương tác giữa người học và người học [44, tr 86] 27
Hình 2.1: Bộ nhận dạng UIT 42
Hình 2.2: Toàn cảnh Trường ĐH CNTT 44
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức Trường ĐH CNTT 46
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếng Anh và IT giữ một vị thế hết sức quan trọng, không những đối với sinh viên, mà còn đối với tất cả giảng viên trong thời đại công nghệ 4.0 Làm việc trong môi trường IT giúp tôi khám phá nhiều ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là những ứng dụng trong dạy và học tiếng Anh Thêm vào đó, tiếng Anh giúp sinh viên tăng thêm khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong tìm kiếm, phát hiện tri thức mới, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay; tiếng Anh giúp sinh viên tự tin trong giao tiếp, tạo điều kiện cho sinh viên có được việc làm tốt và thăng tiến nghề nghiệp khi ra trường Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay trong sử dụng tiếng Anh của sinh viên ngành IT là khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp Vì vậy, việc nghiên cứu tìm
ra những phương pháp và hình thức dạy học tiếng Anh phù hợp để phát triển khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh ngay khi còn học trong nhà trường là cần thiết và phù
hợp với xu hướng phát triển năng lực của sinh viên hiện nay
Theo Kế hoạch số 808/KH-BGDĐT ngày 16/08/2012, Bộ GD-ĐT đã ban hành
“Kế hoạch triển khai Đề án ngoại ngữ 2020 trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn
2008-2020” Mục tiêu chung của đề án là “Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và
học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, nhằm đảm bảo đến năm 2015 đạt được bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên ” [23] Tuy nhiên, đối với
các ngành học không chuyên ngữ, trong đó các nhóm ngành kỹ thuật như Công nghệ thông tin, sau khi tốt nghiệp sinh viên phải đạt trình độ tối thiểu bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam [2] Chuẩn bậc 3 yêu cầu người học
như sau: “Có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn
mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí, … Có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra khi đến các khu vực có sử dụng ngôn ngữ đó
Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm Có thể mô tả được các kinh nghiệm, sự kiện, giấc mơ, hi vọng, hoài bão
và có thể trình bày ngắn gọn các lí do, giải thích các ý kiến và kế hoạch của mình”
Trang 13[1] Qua đây ta thấy rằng nhà nước đã quan tâm rất nhiều đến chiến lược đào tạo ngoại ngữ cho thế hệ tương lai của quốc gia Theo dự thảo “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam” ngày 28-12-2008 về mục tiêu chiến lược giáo dục 2008-2020,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại,
khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [5,
tr.12] Theo Điều 5, Khoản 2 của Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2005:“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [12] Kết quả khảo sát của
Đề án Ngoại ngữ quốc gia đã chỉ ra rằng sau khi học xong chương trình phổ thông cũng như ở các trường đại học, học sinh, sinh viên không thể giao tiếp bằng tiếng Anh như mục tiêu đề ra Theo Lê Văn Hoàng và Mai Ngọc Khôi (2017) rằng một số giáo viên tiếng Anh trung học phổ thông tự đánh giá mình không đạt chuẩn do Đề án Ngoại ngữ 2020 đề ra [26] Đó là lý do mà SV phàn nàn rằng một số giảng viên vẫn còn những lỗi sai cơ bản về kiến thức chuyên môn của họ Về phía SV, đại đa số cho rằng mình bị bắt buộc học môn Tiếng Anh và tâm thế của họ khi học là học để “đối phó” hoặc là kiểu học thụ động từ một phía với tâm lý “thụ động ngồi chờ” [13] Phải chăng nguyên nhân một phần là chưa sử dụng đúng phương pháp dạy và học tiếng Anh?
Vấn đề hiện nay mà người học tiếng Anh đang mắc phải chính là sự khó khăn trong giao tiếp Họ không thể sử dụng tiếng Anh vào mục đích giao tiếp một cách hiệu quả Thiếu tự tin trong giao tiếp, không có hứng thú cũng như sự tích cực trong việc học tiếng Anh, thiếu vốn từ vựng, không có ý tưởng cùng với sự lưu loát khi
Trang 14giao tiếp là những nguyên nhân mà người học tiếng Anh thấy khó khăn trong khi giao tiếp Việc xác định được vai trò của tiếng Anh hiện nay cũng như những vấn đề mà người học hay gặp phải trong việc học tiếng Anh mang ý nghĩa cấp thiết cho việc tìm kiếm những phương pháp dạy học hiệu quả Có nhiều phương pháp dạy học tiếng Anh được đưa ra và nhiều nhất là phương pháp dạy học tiếng Anh giao tiếp để đáp ứng xu hướng hội nhập thế giới ngày hôm nay Chính nhu cầu này đã tạo ra đòi hỏi cao về chất lượng giảng dạy cũng như hiệu quả đạt được của người học Ngoài ra, nhu cầu về phương pháp giảng dạy cũng là một trong những yếu tố quyết định chất lượng dạy và học ngoại ngữ Do đó, phương pháp dạy học ngoại ngữ hiện nay chính
là lấy tương tác làm yếu tố tiên quyết trong giảng dạy Người học được học giao tiếp bằng tiếng Anh trong môi trường giao tiếp thật sự, sử dụng phần lớn thời gian trên lớp để thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh, hoạt động theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ
để tiếp thu kiến thức hay nội dung bài học mà người dạy muốn truyền đạt trong buổi học ngày hôm đó Cách thức dạy và học ngoại ngữ theo hướng tương tác là hoạt động chính trong quá trình dạy và học Đường hướng này đã làm thay đổi cách dạy và học, đòi hỏi cả người dạy và người học phải hoạt động liên tục trong lớp để đạt được nhiệm
vụ và mục tiêu dạy học
Thực tế cho thấy rằng phương pháp dạy học (PPDH) hợp lý là một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo trong dạy học PPDH là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức, nội dung bài học với các kỹ năng sao cho quy trình giảng dạy luôn luôn hoạt động nhịp nhàng, từ đó người dạy tạo được động lực học tập cho người học, làm cho hoạt động học nối tiếp hoạt động dạy, đan xen hỗ trợ lẫn nhau Để thực hiện được điều này, yêu cầu người dạy phải sử dụng đúng phương pháp để truyền tải nội dung và phương pháp đó phải phù hợp với mỗi đối tượng người học thì sẽ đem đến kết quả khả quan Vì vậy, PPDH được xem là rất quan trọng trong sự thành công của nền giáo dục hiện đại Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và tự tin của người học trong việc sử dụng tiếng Anh để giao tiếp đòi hỏi phải có những cơ sở lý luận theo hướng khoa học sư phạm hiện đại Quan điểm sư phạm tương tác (QĐSPTT) là một hướng đáp ứng được những yêu cầu này
Trang 15Đó là một cách tiếp cận dạy học đề cao vai trò tương tác bộ ba giữa người học, người dạy và môi trường dạy học Tương tác trong lớp học đạt được kết quả tốt như thế nào phụ thuộc vào việc quản lý trong lớp học của người dạy và người học ra sao Cụ thể hơn là, sự tiến triển trong tương tác lớp học phụ thuộc vào thái độ tham gia trong lớp của người dạy và người học, sự thấu hiểu lẫn nhau trong khi học Nếu không có sự tương tác trong lớp học cũng đồng nghĩa là không có sự giao tiếp Đó là những lý do quan trọng của sự tương tác trong việc dạy và học ngoại ngữ
Rivers (1987) cho rằng thông qua tương tác, người học có thể nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của họ Họ có thể nghe và đọc các tài liệu bằng ngôn ngữ gốc hoặc thậm chí là đưa ra thảo luận, giải quyết vấn đề và đọc hiểu các tạp chí trên chính ngôn ngữ mà họ đang học [42, tr.4] Không lâu sau, Littlewood (1998) đồng ý rằng trong giao tiếp thì tương tác là cách để người học học được ngôn ngữ mục tiêu [37, tr.97] Thêm vào đó, ông chỉ ra rằng việc học ngôn ngữ là phản ứng tự nhiên của nhu cầu giao tiếp Do đó, người dạy nên cố gắng đảm bảo việc người học luôn luôn ý thức
về giá trị của giao tiếp trong khi học
Từ những lý do kể trên, người nghiên cứu đã chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường đại học Công nghệ Thông tin – Đại học Quốc gia Tp.HCM” nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học tiếng Anh giao tiếp tại trường ngày một tốt hơn, đem lại hiệu quả thật sự cho người học trong công việc cũng như trong cuộc sống hiện tại và tương lai
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia
Hồ Chí Minh
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc dạy học tiếng Anh giao tiếp theo quan điểm
sư phạm tương tác
3.2 Đánh giá thực trạng về dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường Đại học Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 163.3 Đề xuất biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học tiếng Anh giao tiếp
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp
4.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường Đại học Công nghệ Thông tin – Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường ĐH CNTT phù hợp với cơ sở lý luận và thực tiễn sẽ phát triển năng lực giao tiếp tiếng Anh cho sinh viên không chuyên, qua đó giúp nâng cao hiệu quả dạy học
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khảo sát thực trạng dạy học và đề xuất các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên năm thứ nhất trường ĐH CNTT
+ Sinh viên năm thứ nhất học tiếng Anh trình độ (A2)
+ Giảng viên dạy tiếng Anh trình độ (A2)
Thực nghiệm phương pháp dạy học theo hướng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác đối với sinh viên năm thứ nhất tại trường ĐH CNTT
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thực hiện bằng cách nghiên cứu tài liệu và sách báo với mục đích nghiên cứu cơ sở lý thuyết về bản chất, đặc trưng của quan điểm sư phạm tương tác,
làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phương pháp phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên để thu thập các số liệu khách quan về thực trạng dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường ĐH
Trang 17CNTT trước và sau khi áp dụng các biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác
7.3 Phương pháp khảo sát điều tra
Sử dụng phiếu khảo sát bằng bảng hỏi để thăm dò và thu thập các thông tin thực
tế về chất lượng dạy học tiếng Anh giao tiếp tại trường ĐH CNTT
Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm với cách thức điều tra như sau: tiến hành phát phiếu trực tiếp tại lớp, hướng dẫn trả lời hợp lệ, thời gian trả lời từ 3-5 ngày với
sự hỗ trợ của tác giả, giảng viên tiếng Anh
7.4 Phương pháp chuyên gia
Thảo luận trao đổi với các chuyên gia về phương pháp dạy học tiếng Anh giao tiếp trình độ (A2) để xem xét tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.5 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm các phương pháp dạy học tiếng Anh theo quan điểm sư phạm tương tác nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học Tác động của các biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác đối với quá trình dạy học tiếng Anh trình độ (A2) tại trường ĐH CNTT Quá trình thực nghiệm được thực hiện qua các bước như sau:
7.6 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả khảo sát thực trạng dạy học tiếng Anh giao tiếp Ứng dụng toán học để xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê, phân tích kết quả thu được từ kết quả thực nghiệm để đánh giá về hiệu quả sử dụng của các biện pháp đề xuất
Trang 188 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
1 Xây dựng chuyên đề 2/2019 - 4/2019 Đề cương
2 Nghiên cứu cơ sở lý luận 4/2019 – 7/2019 Chương 1
4 Nghiên cứu thực trạng dạy tiếng
Anh giao tiếp tại trường ĐH
6 Thống kê kết quả thử nghiệm 10/2019 Chương 3
7 Hoàn thành luận văn 11/2019-01/2020 Chương 3 & 4
8 Phản biện luận văn 2/2020
10 Hoàn thiện luận văn theo đóng
góp ý kiến của Hội đồng
3/2020
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm các phần sau:
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP
THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
1.1 TỔNG QUAN
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trong lịch sử của nhân loại đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các yếu tố, vai trò cũng như các mối quan hệ tương tác của các thành tố trong hoạt động dạy học Tư tưởng dạy học tương tác xuất hiện từ khi con người nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và luôn muốn kiếm tìm những cách thức để nâng cao hiệu quả học tập của mình
Tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại” (1633–1638) của nhà giáo dục lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A Komensky (1592-1670) đã khẳng định vai trò quan trọng của người dạy, người học, và môi trường dạy học Ông chỉ ra các phương pháp dạy học như: dạy học phải gắn liền với sự vật cụ thể, dạy học tương tác, và dạy học đảm bảo tính trực quan Quá trình dạy học phải phù hợp với người học và sự hiểu biết là do các giác quan đem lại…Tác phẩm còn trình bày tư tưởng cấp tiến, khoa học về mô hình giáo dục hiện đại Tư tưởng sư phạm của ông vẫn còn tác dụng cho đến ngày nay [17, tr.9]
Tác phẩm “Con người, kiến thức và giáo dục” (1774) của nhà giáo dục người Pháp Helvétius (1715 – 1771) đã chỉ ra có một sự tương đồng về tiếp nhận kiến thức giữa mọi người với điều kiện giáo viên có khả năng kiểm soát được môi trường xung quanh của học sinh [6, tr.162] Tác giả cho rằng ngoài hai yếu tố người dạy và người học thì nhân tố môi trường dạy học cũng cực kì quan trọng
Nhà triết gia và là nhà giáo dục người Mỹ, John Dewey (1859-1952) cho rằng giáo viên cần phải xem trọng vốn kiến thức sẵn có của mỗi học sinh, học đường không chỉ bao gồm lớp học mà còn là ở phòng đọc sách, sân vườn, v.v Để tăng hiệu quả học tập, ông đề nghị học sinh nên làm việc theo nhóm, có sự tương tác, thảo luận
Trang 20trong nhóm [6, tr.249]
Trong lý thuyết dạy học biện chứng, nhà tâm lý học L.X.Vygotsky (1896 – 1915) đã cho rằng cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tác, dạy học là sự hợp tác hai chiều giữa thầy và trò Thầy đóng vai trò hướng dẫn, đạo diễn và trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo [20, tr.9] Quan điểm dạy học tương tác phát triển của L.X.Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới – dạy học tích cực
Trong tác phẩm “Tiến tới một sư phạm học tương tác” (2001) của hai tác giả người Canada là Jean Marc Denommé và Madeleine Roy đã nói tới một trường phái
sư phạm học tương tác cùng nền tảng lý luận của nó và mở ra một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc là một “bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường Còn nội dung kiến thức như là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh Thêm vào đó, tác giả còn phân tích kĩ người học phải học như thế nào, đòi hỏi giáo viên cần có kiến thức hiểu biết về hệ thần kinh nhận thức của người học, tính năng động của nó để phối hợp tốt hơn các mối liên hệ qua lại giữa người học, người dạy và môi trường trong việc lĩnh hội kiến thức mới Tuy nhiên, tác phẩm vẫn còn một số mặt hạn chế như chưa chỉ ra bằng cách nào, công cụ ra sao để nhà sư phạm phát huy tác động tích cực của môi trường đến người học và hoạt động học của
họ cũng như hạn chế tác động không có lợi của môi trường đến người học và phương pháp học của họ [9]
Trong tác phẩm “Một tiếp cận tương tác tới ngôn ngữ sư phạm” (2001) của hai tác giả Brown – Douglas H đã đưa ra nhiểu biện pháp giúp giảng viên tận dụng tối
đa thời gian lên lớp để hướng dẫn sinh viên tự học, tự rèn luyện: (a) Sử dụng thời gian trong lớp học để hướng dẫn và tương tác với sinh viên; (b) Không lãng phí thời gian cho những hoạt động mà sinh viên có thể tự học, tự luyện tập ở nhà; (c) Giảm bớt vai trò của bài thi và nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực mà sinh viên đạt được; (d) Khuyến khích sinh viên có những chiến lược học tập, rèn luyện bên ngoài lớp học; (e) Cung cấp nhiều cơ hội học tập, rèn luyện thêm bên ngoài lớp học cho sinh viên và (f) Thành lập câu lạc bộ và có những hoạt động thường xuyên, bổ ích
Trang 21Thêm vào đó, liên quan đến sự tương tác trong giao tiếp tác giả nói rằng “ tương tác, thật sự là cốt lõi hay còn gọi là tim mạch của sự giao tiếp: nó là tất cả những gì của
sự giao tiếp khi nói về” [29] Nghiên cứu cũng chỉ ra ý nghĩa tương tự của tương tác trong lớp học, định nghĩa lớp học tương tác theo một quy trình bao gồm hai chiều giữa những người tham gia trong quá trình học Người dạy gây ảnh hưởng đến người học và ngược lại
Trong công trình nghiên cứu của Diallo Sessoms (2008) cho rằng dạy học tương tác là sự kết hợp của việc dạy và học tương tác được hỗ trợ bởi các thiết bị công nghệ Việc kết hợp các công cụ tạo ra một môi trường tương tác, cho phép người dạy có cơ hội để dạy trong một môi trường dạy học tương tác [47]
Ngoài những tác giả trên, phải kể đến những nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo Giáo Viên (IUFM) ở Greonoble (Pháp) như C Margolinas, R Douady, M Artigue, Clause Comiti, Guy Brouseau…đã thiết kế các phương pháp dạy học dựa trên sự tương tác của các cá nhân trong tập thể lớp học Họ xác nhận cấu trúc hoạt động dạy học bao gồm bốn nhân tố: Học (Người học); Dạy (Người dạy); Kiến thức (khái niệm khoa học); Môi trường (Điều kiện dạy học cụ thể) Họ đã đặt
cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, thúc đẩy hoạt động học của học sinh lên mức cao, mà vẫn không làm lu mờ, hạ thấp vai trò của thầy giáo với tư cách là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học [21, tr.117] Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này thì yếu tố môi trường chưa được phân tích một cách bao quát hết các khía cạnh và các mặt khác nhau của môi trường dạy học Malamah - ThomasA (1987) cho rằng mỗi tình huống tương tác đều tiềm ẩn khía cạnh hợp tác và xung đột Tình huống diễn ra và phát triển theo hướng nào phụ thuộc vào thái độ tham gia của các bên liên quan cũng như dựa trên sự thấu hiểu về thái độ và sự chú ý về nhau Tóm lại, chỉ khi có sự hợp tác giữa hai bên khi giao tiếp thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong khi học cùng nhau [40] Tác giả còn cho rằng
sự tương tác có được là nhờ vào hai yếu tố biểu đạt ngôn ngữ có lời và không lời trong đó yếu tố không lời đóng vai trò quan trọng như là một phần của ngôn ngữ Một điều mà làm cho lớp học khác với các tình huống xã hội khác chính là mục đích sư
Trang 22phạm cơ bản Người dạy sử dụng nhiều thời gian để nói chuyện, giảng bài, hỏi các câu hỏi, và đưa ra sự hướng dẫn, v.v Người dạy không chỉ sử dụng ngôn ngữ cho việc thực hiện các chức năng giảng dạy mà còn dùng chúng để minh họa hay mô tả các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh lớp học
Theo Bygate, giao tiếp là một trong những kỹ năng mang tính phản xạ, giúp người học sử dụng được ngoại ngữ để bày tỏ ý kiến, suy nghĩ và cảm xúc với người đối diện, người nghe [30] Kỹ năng giao tiếp cũng góp phần củng cố thêm kỹ năng nghe của người học, giúp tăng cường vốn từ vựng và luyện tập các kỹ năng khác có liên quan
Nhà ngôn ngữ học Khamkhien cho rằng giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất khi học một ngoại ngữ, trong đó có ngôn ngữ tiếng Anh [38]
Celce-Murcia M – Olshtain E cho rằng ở nhiều góc độ khía cạnh khác nhau thì
kỹ năng giao tiếp tiếng Anh được xem như là một kỹ năng khó nhất để đạt được khi
đề cập đến sự lưu loát trong giao tiếp, bởi nó đòi hỏi người học phải tích hợp nhiều
kỹ năng cùng lúc như cách sử dụng từ vựng, sử dụng ngữ pháp, và còn cả kiến thức
xã hội có liên quan đến chủ đề luyện tập và thực hành để tạo nên một cuộc trò chuyện [31]
Ngoài ra, Wongsuwana cho rằng kỹ năng giao tiếp có thể được nâng cao thông qua việc rèn luyện thường xuyên, “nó không phụ thuộc vào tài năng” Chính lẽ đó, phương pháp luyện tập cùng với quá trình SV rèn luyện thường xuyên sẽ quyết định mức độ tiến bộ của SV Thêm vào đó, sự tiến bộ này có thể được tích lũy dần dần theo thời gian bằng cách luyện tập thường xuyên trong lớp học cùng với bạn bè, GV,
và đồng thời cả việc rèn luyện bên ngoài lớp học cũng như là ngoài giờ học của SV [48]
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của giáo dục, vấn đề về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cũng rất được quan tâm Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và trong sự phát triển của dất nước Trong đó, tiếng Anh được xem là ngôn ngữ toàn cầu cũng như là ngôn ngữ trong văn hóa thế
Trang 23hệ trẻ quốc tế [31] Trước nhu cầu to lớn đó, các hội thảo trong và ngoài nước đã được tiến hành để nâng cao phương pháp giảng dạy tiếng Anh Và quan điểm sư phạm học tương tác là một trong những đề tài được các nhà giáo Việt Nam trao đổi rất nhiều trong thời gian gần đây
Lần đầu tiên ở Việt Nam, vào năm 2000, tư tưởng sư phạm học tương tác đã được J.M Denommé và M Roy giới thiệu Trong các tài liệu sư phạm của Liên Xô, Đức và Việt Nam trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy-Học
Vào năm 1992 tại Huế, trong lý thuyết tình huống môn toán của nhóm tác giả người Pháp là G Brousseau, C Margolinas, … nghiên cứu về sự tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy học cũng đã được phổ biến Tuy nhiên, không lâu sau đó, năm 1995, tại trường ĐHSP TP.HCM, trong hội thảo didactic của những người nói tiếng Pháp thì thuật ngữ sư phạm học tương tác mới được biết đến
Trong cuốn sách “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) nêu ra ảnh hưởng của tương tác giữa người dạy, người học và đối tượng dạy học [19] Hoạt động dạy học tương tác được quy về các hoạt động định hướng, giúp
đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên các hoạt động của người học Sự tác động của đối tượng học với người học là trực tiếp, hai chiều, đây là tương tác đa phương Tác giả cũng đã chỉ ra các phương pháp tổ chức dạy học tương tác gồm: Các phương pháp đóng kịch, các PPDH bằng trò chơi, và DHTT theo lý thuyết lịch sử văn hóa về sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao của L.X.Vygotsky Tác giả khẳng định rằng trong bất kì quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học, và đối tượng dạy học
Khi đề cập đến môi trường dạy học theo phương pháp SPTT, tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006) khoa Tâm lý Giáo dục học trường Đại học Sư Phạm thành phố
Hồ Chí Minh, đã khẳng định khả năng ứng dụng quan điểm dạy học tương tác này vào quá trình dạy và học bởi các yếu tố cấu thành hoạt động dạy học gồm: Kiến thức-Học-Dạy-Môi trường Mỗi yếu tố trên đảm nhận chức năng riêng biệt nhưng luôn luôn tồn tại và gắn kết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Môi trường bàn đến ở đây được hiểu là các tình huống dạy học do người dạy tạo ra cho người học hoạt động,
Trang 24cải biến và thích nghi [14]
Trong cuốn sách “PPDH truyền thống và đổi mới”, tác giả Thái Duy Tuyên (2010) cũng trình bày những khái niệm của phương pháp sư phạm học tương tác, các dạng bài học trong sư phạm học tương tác và các dạng tương tác trong dạy học [22] Ông đặc biệt nhấn mạnh sự quan tâm đến khái niệm tương tác giữa 3 yếu tố là người học, người dạy, và môi trường Cụ thể là sự tương tác thầy - trò, tương tác môi trường
- trò, tương tác môi trường - thầy - trò.Những điểm tích cực và hạn chế cũng được tác giả nêu rõ nhằm mục đích đưa ra các biện pháp cho những vấn đề gặp phải
Trong cuốn sách “Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường SPTT” của tác giả Phó Đức Hoài (2011) đã giới thiệu mô hình sư phạm tương tác và dạy học tích cực trong môi trường sư phạm tương tác [18] Thêm vào đó, tác giả cũng đã giới thiệu một số phần mềm thiết kế giáo án điện tử theo quan điểm sư phạm tương tác cũng như chỉ ra được các PPDH tích cực áp dụng vào dạy học trong môi trường SPTT
và CNTT
Trong luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Phạm Quang Tiệp (2013) đã nghiên cứu về đề tài “Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV tiểu học trình độ đại học” Tác giả thiết kế 5 mô hình dạy học dựa vào tương tác theo kiểu làm mẫu – luyện tập, theo kiểu khuyến khích - tham gia, kiểu thông báo – tiếp nhận, kiểu kiến tạo – tìm tòi, kiểu tình huống - nghiên cứu [20].Tuy rằng quan niệm dạy học tương tác được nghiên cứu, vận dụng ở những bình diện khác nhau với đối tượng người học khác nhau, nhưng đều khẳng định mức độ và giá trị của dạy học tương tác đem lại hiệu quả khả quan
Trong luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thanh Hương (2015) đã nghiên cứu đề tài “Phương pháp dạy học tương tác và hiệu quả trong giảng dạy ngoại ngữ” Tác giả
đã dưa ra 9 phương pháp dạy học tương tác được ứng dụng trong giảng dạy ngoại ngữ và vai trò trong giảng dạy của các phương pháp nêu trên Tác giả cho rằng phương pháp dạy học tương tác là một chuỗi kích thích và phản ứng của các thành tố (người dạy – người học – môi trường) nhằm giải quyết các vấn đề truyền thụ, tiếp nhận và
sử dụng kiến thức trong hoạt động dạy học Tác giả còn cho rằng phương pháp dạy
Trang 25học tương tác khắc phục nhiều nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống
Nó đã làm tăng tính tự chủ và độc lập của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ
và phát triển môi trường học ngoại ngữ một cách tích cực Đồng thời phương pháp này cũng tạo cơ hội cho người học có thể tiếp thu và thực hành ngoại ngữ một cách trực tiếp [7]
Khi đề cập đến thực trạng năng lực tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ trường đại học Vinh, các tác giả Nguyễn Thị Lành – Phạm Thị Lương Giang – Nguyễn Thị Phương Thảo (2018) đã chỉ ra rằng năng lực tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại Học Vinh (cho dù đã học tiếng Anh từ các cấp dưới từ 7-10 năm) vẫn còn rất hạn chế [15] Các tác giả đưa ra nguyên nhân có thể xuất phát từ các nguồn khác nhau: từ người dạy, từ chương trình, và từ bản thân người học Từ thực tế này, những nhà giáo dục, bao gồm những người xây dựng chương trình, các nhà giáo, … cần lưu ý đến năng lực thực sự của người học để có những hướng đi phù hợp Một trong những giải pháp đó là cung cấp nguồn dữ liệu mở cho người học và thay đổi cách đánh giá cũng như tạo môi trường học tập cộng đồng cho người học Bên cạnh đó, mục tiêu đào tạo cho chương trình tiếng Anh tại các trường đại học cũng cần được quan tâm, xem xét để kết quả đào tạo được khả quan hơn 1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
1.2.1 Phương pháp dạy học
“Phương pháp” là một thuật ngữ thuộc về phạm trù triết học Phương pháp được hiểu là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định
Thuật ngữ “Méthodos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là con đường nghiên cứu, một lý thuyết, một học thuyết Ngày nay ta hiểu phương pháp là một tập hợp những cách thức những thủ thuật hoặc thao tác lý thuyết hay thực hành nhằm nhận thức thực tiễn hoặc giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó [21, tr 158]
“Dạy học” theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2009): “Dạy học là một hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm cuộc sống, trên cơ sở đó hình thành phát triển nhân cách của người học Đó là sự vận động của một hoạt động
Trang 26kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học” [16,
tr 30]
PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Babanxki.Iu.K 1983) [3] PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn (Lecne I Ia 1987) [10]
PPDH là vấn đề rất trừu tượng Nó không phải là một thực thể, một thực trạng
ổn định mà là những suy nghĩ về cách làm của từng con người trước một mục đích
và điều kiện cụ thể Nó trừu tượng và luôn vận động nên khó nhận biết và mô tả, nó
là sự kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật, nó tuân theo những quy luật chung nhưng mang tính sáng tạo và bản sắc cá nhân rõ nét [21, tr.608]
PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu dạy học (Trần Bá Hoành 2002) [24]
Từ những định nghĩa trên, trong phạm vi luận văn này, PPDH có thể được hiểu
là những hình thức, cách thức hành động của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể
1.2.2 Sư phạm tương tác
Sư phạm có nguồn gốc xuất phát từ tiếng Hy Lạp (pédagogie) có nghĩa là hướng dẫn một đứa trẻ Nguồn gốc của từ này là có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được hướng dẫn
Nhà từ điển học Hoàng Phê định nghĩa “sư phạm” là khoa học về giáo dục và
“tương tác” là tác động qua lại lẫn nhau [8, tr.1116], theo từ điển tiếng Việt (1988) Trong các từ điển ngôn ngữ nước ngoài đều có khái niệm “tính tương tác” bao gồm: “inter” có nghĩa là ở giữa, trong số, đồng hành, “active” có nghĩa là hành động, làm một cái gì đó, vì thế “interactive” – “tương tác” có nghĩa là làm điều gì đó cùng
Trang 27nhau Tương tác trong hoc tập có thể được giải thích là sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, người học trong một trạng thái của một cuộc trò chuyện, một hội thoại, một hoạt động chung
Theo “The Oxford Modern English Dictionary”, “tương tác” có nghĩa là “hành
động cùng nhau” [37] Theo “từ điển Tiếng Việt”, “tương tác” là “sự tác động qua lại
lẫn nhau” [27]
Theo nghĩa từ điển thì sư phạm tương tác được hiểu là: quá trình dạy và quá trình học dựa trên sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa người dạy và người học Theo hai tác giả Jean-Marc Denomé và Madelenie Roy thì tương tác sư phạm
là cách tiếp cận về hoạt động dạy học dựa trên sự ảnh hưởng tác động lẫn nhau giữa
ba tác nhân là người học, người dạy và môi trường [9]
Vậy quan điểm sư phạm tương tác là tiếp cận hoạt động dạy học, tập trung vào người học hay nói cách khác là “hướng vào người học”, trong đó xác định rõ và nhấn mạnh các yếu tố, vai trò, gia tăng giá trị tương tác giữa ba yếu tố người học, người dạy, và môi trường, từ đó thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học Thêm vào đó, yếu tố môi trường thực sự được quan tâm và mang lại sự thành công nhiều nhất cho người học Điều này như một tư duy tích cực giúp nhà sư phạm lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp đối với người học trong sự tác động của môi trường dạy học
Trên cơ sở nghiên cứu đối tượng tham gia tương tác, Jean Maxc Denomme và Madeleine Roy cho rằng sự tương tác trong hoạt động dạy học là mối quan hệ tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản, đó là: người dạy, người học và môi trường học [9] Như vậy, tương tác trong dạy học chính là: sự tác động qua lại giữa người dạy với người học, người học với người học, và người dạy, người học với môi trường Trong đó, mối tương tác giữa người dạy và người học là mối quan hệ tương tác chủ đạo Biểu hiện của mối quan hệ tương tác giữa người dạy, người học và môi trường chính là người học tương tác với người dạy và môi trường học để bộc lộ, khẳng định bản thân; còn người dạy tương tác với môi trường học lại bộc lộ những hiểu biết, kinh nghiệm, thậm chí những thiếu sót để từ đó người học lĩnh hội được kiến thức và kinh nghiệm để phát triển bản thân
Trang 28Từ sự phân tích trên, khái niệm “Sư phạm tương tác” trong luận văn này được
hiểu là mối quan hệ tác động qua lại giữa người dạy, người học và môi trường học, làm cho hoạt động dạy học vận động và phát triển, nhằm thực hiện chức năng dạy học và hướng vào việc phát triển kĩ năng, nhận thức và năng lực của người học
1.2.3 Tiếng Anh giao tiếp
Theo “The Oxford Modern English Dictionary”, “giao tiếp” có nghĩa là “trao đổi thông tin, tin tức, ý tưởng v.v với người nào đó” hoặc là “làm cho các ý tưởng, cảm xúc, suy nghĩ của mình được người khác biết đến để họ hiểu mình” [37] Giao tiếp là một quá trình tương tác trong đó người giao tiếp sử dụng cách thức diễn đạt có lời và không lời để đạt được mục tiêu giao tiếp Kĩ năng giao tiếp được hình thành và phát triển trong quá trình nắm vững và thực hiện hành động giao tiếp
và nhận thức
Tiếng Anh giao tiếp được hiểu là tiếng Anh giúp con người giao tiếp một cách hiệu quả với nhau Giao tiếp tốt không chỉ là vấn đề ngữ pháp, cấu trúc và sự kết hợp của các từ
Vậy tiếng Anh giao tiếp trong luận văn này được hiểu là một khái niệm dùng
để chỉ cho việc sử dụng tiếng Anh trong việc diễn đạt một sự việc, sự kiện hay tình huống nào đó nhằm giúp người nghe hiểu những vấn đề mà người nói hay người giao tiếp muốn truyền đạt
• Các yếu tố của kĩ năng giao tiếp
Trong dạy học ngoại ngữ không ai có thể thay thế người học trong việc học ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của của người học Phương pháp dạy học ngoại ngữ chọn giao tiếp là phương hướng chủ đạo, năng lực giao tiếp là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương tiện dạy học
Theo Canale và Swain (1980) cho rằng kỹ năng giao tiếp là sự tổng hợp các kiến thức về các quy tắc ngữ pháp cơ bản và kiến thức về ngôn ngữ trong mối tương quan với môi trường xã hội Canale và Swain đã làm rõ quan điểm của mình bằng cách phân tích
kỹ năng giao tiếp dựa trên các yếu tố được cho là cấu thành nên năng lực giao tiếp
Trang 29- Năng lực về ngôn bản là khả năng kết nối các câu đơn thành một ngôn bản mang
ý nghĩa
- Năng lực về thủ thuật giao tiếp là cách nhận biết và sửa chữa các hạn chế trong giao tiếp như: làm thế nào để khắc phục những hạn chế về kiến thức ngôn ngữ và làm thế nào để hiểu được ý nghĩa lời nói trong bối cảnh giao tiếp cụ thể
1.3 QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC
1.3.1 Đặc điểm của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
- Tương tác là cách thức và là mục tiêu dạy học Dạy học tương tác dựa trên các hoạt động tương tác đa dạng, đặc biệt chú trọng đến tương tác xã hội và tương tác chủ động của người học với môi trường học tập
- Dạy học tương tác chú trọng việc xây dựng môi trường dạy học Môi trường dạy học tương tác cần tạo điều kiện và hỗ trợ mạnh mẽ các hoạt động tương tác đa dạng
- Dạy học tương tác định hướng vào người học, coi trọng vốn kiến thức, kinh nghiệm của người học, đặt họ vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học Giáo viên chủ yếu đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển môi trường dạy học
- Nội dung học tập gắn với tình huống thực tiễn, mang tính phức hợp, phù hợp với hứng thú người học
- Các nhiệm vụ học tập hỗ trợ phát triển năng lực, vận dụng tri thức vào thực tiễn, giải quyết các vấn đề phức hợp, sáng tạo
- Phương tiện dạy học hỗ trợ quá trình tự tìm tòi tri thức của người học, tạo điều
Trang 30kiện cho sự tương tác
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và tự điều khiển của người học Hình thức làm việc chủ yếu là làm việc hợp tác trong nhóm và làm việc độc lập của người học Chú trọng các hoạt động thực tiễn của người học và kết hợp nhiều giác quan
- Môi trường dạy học tương tác thường là môi trường đa phương tiện, sử dụng các thiết bị dạy học, phần mềm dạy học có chức năng tương tác, tạo điều kiện cho người học tương tác với môi trường dạy học
1.3.2 Cấu trúc của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Cấu trúc hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác là xem xét cơ chế tương tác trong mối quan hệ tam giác: Người học – Người dạy – Môi trường Các yếu tố này tác động qua lại với nhau, tương tác và hỗ trợ nhau nhằm đạt mục tiêu học tập đề ra (Minh họa ở hình 1.1) [9]
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy-học [21, tr.116]
Trong đó:
- Người học: được hiểu là chủ thể của hoạt động học Là người mà với năng lực
cá nhân của mình tham gia vào một quá trình để thu lượm một tri thức mới Người học trước hết là người tìm cách học và tìm cách hiểu Với tư cách là một tác nhân theo phương pháp tương tác, người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy Theo quan điểm hiện đại, người học tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức trong học tập Người học không thể làm chủ kiến thức thực sự, trừ khi các em có cơ hội thảo luận, đặt câu hỏi, cảm nhận quá trình học tập và thậm chí là dạy lại cho người khác Khi học tập chủ động, người học liên tục trong trạng thái của
Trang 31một cuộc tìm kiếm, muốn có được một câu trả lời cho câu hỏi, tìm tòi các thông tin
để giải quyết vấn đề hoặc phản ánh lại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó cùng với những người học khác Như vậy, người học chủ động tiếp nhận tri thức, không ghi nhớ chúng một cách thụ động, máy móc Ngoài ra, người học cũng có thể tự khám phá tri thức trên cơ sở những kinh nghiệm sống của bản thân hoặc cùng hợp tác với các thành viên khác trong tập thể Theo lí thuyết thông tin: “Học là quá trình thu nhận
và xử lí thông tin từ môi trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi” Từ
đó, học được hiểu là “quá trình chuyển hoá tri thức của nhân loại thành tri thức của
cá nhân” Người học với vai trò là thành tố trung tâm của hoạt động dạy học, sẽ tiếp xúc với ngôn ngữ qua âm đọc, từ vựng, cấu trúc và các yếu tố phi ngôn ngữ như văn hóa, thói quen bản ngữ… Người học sẽ học tập và ôn luyện kiến thức bài giảng dưới
sự hướng dẫn của người dạy Người học không giao tiếp với người dạy và bạn học một cách thụ động Người học chủ động đặt câu hỏi, bổ sung ý kiến, bình luận trực tiếp về những vấn đề mà bạn học vừa nói, đưa ra ý kiến không tán thành… Người học sử dụng thán từ, cử chỉ, hành động để thể hiện cảm xúc trong giao tiếp Quan trọng hơn cả là người học không cảm thấy căng thẳng trong quá trình học
- Người dạy: là người với kiến thức, kinh nghiệm của mình chịu trách nhiệm
hướng dẫn người học Người dạy chỉ cho người học cái đích phải đạt, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu, làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của một người hướng dẫn Ngoài ra, người dạy là người hỗ trợ giúp đỡ người học trong quá trình dạy học Người dạy luôn hợp tác và chia sẽ khó khăn với người học Người dạy luôn tạo điều kiện và môi trường thân thiện trong hoạt động dạy học Người dạy là người hướng dẫn, lập kế hoạch trong công việc Xây dựng kế hoạch, xác định phương hướng cho mục đích cũng như quá trình dạy học để từ đó đề xuất nội dung và phương pháp sư phạm phù hợp Người dạy là người hỗ trợ, giúp đỡ người học trong quá trình dạy học Người dạy luôn hợp tác và chia sẻ các khó khăn với người học trong quá trình dạy học; sẵn sàng tư vấn cho người học trong học tập nhưng không thay thế người học giải quyết công việc và luôn tạo môi trường thân thiện trong hoạt động của người
Trang 32học Người dạy: với vai trò là người hỗ trợ, cùng tham gia vào các hoạt động học tập trong lớp Người dạy thông qua giáo cụ trực quan và các thiết bị phục vụ giảng dạy, hướng dẫn sinh viên tham gia giải quyết các vấn đề thuộc bài giảng như từ mới, cấu trúc ngữ pháp, yếu tố văn hóa… Người dạy sử dụng các câu hỏi để kiểm tra mức độ nắm bắt kiến thức bài giảng của người học, từ đó kích thích thảo luận, khơi gợi người học đưa ra những quan điểm trái chiều để tạo nên sự tranh luận trong tập thể và đi đến kết luận thống nhất Với vai trò là người điều khiển trong quá trình dạy học, người dạy phải tạo ra các tình huống dùng ngôn ngữ mà người học có nhiều khả năng sẽ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, tạo ra các cơ hội cho người học thực hành ngôn ngữ, giúp người học tham gia vào các hoạt động liên quan tới ngôn ngữ để phát triển các kỹ năng giao tiếp ở người học Nói chung, người dạy sẽ vận dụng mọi thao tác
và phương tiện để khuyến khích và thu hút một cách tự nhiên sự tham gia của người học vào các hoạt động dạy học; tăng cường thúc đẩy các hoạt động thực hành trong lớp học nhằm giúp người học phát triển tốt các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
- Môi trường:
Môi trường lớp học (MTLH) bao gồm MT vật chất và MT tâm lí, nó có ảnh hưởng lớn đến kết quả của quá trình dạy học Các yếu tố như: lắp đạt sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học; mối quan hệ tương tác giữa (GV) với sinh viên (SV); thiết bị dạy học chưa được chuẩn bị tốt nên chất lượng dạy học thực hành chưa cao [4] MTLH ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV cả về kiến thức, kĩ năng và thái
độ Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về MTLH trước đây, chủ yếu tập trung vào yếu
tố môi trường tâm lí, nguyên nhân do các nghiên cứu đều được thực hiện ở các nước
có nền giáo dục phát triển, điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy học thực hành Ở nước ta, do cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn hạn chế nên việc nghiên cứu ảnh hưởng của MTLH thực hành đến kết quả học tập của SV là cơ sở để nâng cao hiệu quả dạy học
Theo Fraser và Wubbels (1), MTLH là nơi mà GV và HS cùng tham gia vào các hoạt động học tập Ở đó, bao gồm không gian, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, … được xem như một phần quan trọng của quá trình học tập Theo Chandra and Fisher (2),
Trang 33MTLH là một biến số giáo dục, nếu thay đổi biến số này có thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và thái độ của người học
Khái niệm MTLH đã được đưa ra từ những năm 30 của thế kỉ trước Từ đó đến nay tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều khẳng định MTLH bao gồm MT vật chất và MT tâm lí diễn ra trong lớp học, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và nhận thức của người học
Các thành tố của môi trường
Xét dưới góc độ khoa học, các nhà trường đang xây dựng và quản lý môi trường học tập Tuy nhiên, để hoạt động dạy và học đạt chất lượng tốt thì cán bộ quản lý nhà trường cần phải hiểu và điều chỉnh tất cả các yếu tố của môi trường học tập Đây là một cách tiếp cận rất cơ bản, năng động và hệ thống về khoa học sư phạm, một tiếp cận lấy người học làm trung tâm, một tiếp cận về mối tương tác giữa ba tác nhân
chính là người học, người dạy và môi trường Trong đó, môi trường là tác nhân có
tác động thường xuyên, liên tục đối với quá trình học và phương thức dạy Các yếu
tố môi trường trong hoạt động sư phạm không tách biệt, khép kín độc lập mà chúng
có tác động qua lại lẫn nhau Người học và người dạy không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất, xã hội và văn hóa Tất cả các yếu tố này, bên trong cũng như bên ngoài, tạo thành môi trường của người dạy và người học Tác nhân này đóng một vai trò có ý nghĩa vì nó ảnh hưởng tới cả việc dạy và việc học
Thành tố môi trường bên trong
Các thành tố bên trong môi trường chính là nội lực của người học và người dạy, như: tiềm năng trí tuệ, cảm xúc, các giá trị, trải nghiệm, phong cách học và phong cách dạy, tính cách Những nội lực này tác động lên hoạt động dạy và học, có thể
hỗ trợ hay cản trở hoạt động dạy và học
Tiềm năng trí tuệ: Là di sản di truyền mà con người được thụ hưởng Tiềm
năng trí tuệ có nguồn gốc từ những khả năng vô hạn của hệ thần kinh Tiềm năng dựa vào các giác quan, vào hàng triệu nơ ron thần kinh và hai bán cầu đại não Trong quá trình hoạt động tiềm năng trí tuệ bao gồm hai bộ phận: những điều đã biết và những
Trang 34điều phải tiếp thu Năng lực trí tuệ thể hiện rất đa dạng vì vậy người thầy cần phải hiểu biết và thích nghi Những hạn chế tiềm năng trí tuệ thường do chính bản thân người học, do nhà trường, do xã hội và do di truyền tạo ra
Các cảm xúc: Cảm xúc tác động dưới nhiều hình thức và cường độ đa dạng
Kết quả học tập tốt, sự thành công thường kích thích sự cố gắng tối đa Những kết quả không tốt thường kìm hãm cả quá trình học tập lâu dài của người học Trong trường hợp thất bại, người học cần được thoát ra khỏi sự bi quan Những lời nói tích cực của người thầy có tác dụng kích thích người học, những lời nói tiêu cực làm động
cơ học tập của người học giảm đi
Các giá trị: Người học và người dạy được quy định bởi hệ thống các giá trị của
mình, là nhân tố nội tại ảnh hưởng quá trình học tập cũng như phương pháp sư phạm của thầy và trò Về phương diện cá nhân, người học và người dạy nuôi dưỡng động
cơ của mình thông qua hệ thống các giá trị mà họ đeo đuổi Về phương diện xã hội, các mối quan hệ tương hỗ trong lớp nhiều khi cũng được điều chỉnh cho phù hợp với
hệ thống đó
Các giá trị được phát triển gắn liền với các nền văn hóa, tín ngưỡng, các kinh nghiệm cá nhân và môi trường sống Các giá trị được lưu truyền bởi gia đình, nhà trường, xã hội và chúng quy định hành vi của thầy và trò Do vậy người dạy luôn quan tâm đến giáo dục, người học ý thức được giá trị của họ và giúp họ thích ứng, phát triển chúng Trong dạy học, giai đoạn ứng dụng kiến thức là lúc tốt nhất để người thầy can thiệp vào các giá trị cá nhân của người học
Trải nghiệm: Trải nghiệm giữ vai trò quan trọng trong dạy học Môi trường học
tập ở nhà trường là môi trường mới: người học bắt đầu làm quen với cấu trúc xã hội, học làm việc nhóm, được trải nghiệm thành công và thất bại Kinh nghiệm của người học chứa đựng những điều đã biết và làm cơ sở cho việc lĩnh hội kiến thức mới Trải nghiệm của người học càng phong phú thì quá trình học sẽ dễ dàng hơn và hiệu quả hơn
Phong cách học và phong cách dạy: Mỗi người có phong cách học riêng, cũng
như người thầy có phong cách dạy riêng của mình, có như vậy người dạy mới cá thể
Trang 35hóa được hoạt động dạy và đáp ứng tốt nhất những yêu cầu trong quá trình học của người học
Tính cách: Mỗi người đều có cá tính riêng Tính cách của mỗi người được thể
hiện qua nhiều khía cạnh với cái “tôi” vật chất và cái "tôi” tâm lý, xã hội
Cái tôi vật chất hay thân thể gồm hình dáng bề ngoài, hiện trạng sức khỏe, di truyền Cái tôi vật chất áp đặt lên cái tôi tâm lý đôi khi trở thành nguyên nhân của những phức hợp quy định con đường phát triển của người học: một thân hình đẹp thường đem lại cho người học sự tự tin vào bản thân, nếu ngược lại sẽ làm cho người học rụt rè, ít xuất hiện và ít năng động
Cái tôi tâm lý được tạo nên bởi cảm xúc và tình cảm, bởi sở thích, quyền lợi và ước vọng, bởi khả năng và năng lực, bởi những phẩm chất và khiếm khuyết Cái tôi tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động học và dạy, nó quy định thái độ của mỗi cá nhân và những mối quan hệ của những người khác đối với cá nhân đó
Cái tôi xã hội giúp cho con người tham gia vào các hoạt động của nhà trường, chia sẻ văn hóa, các giá trị và các năng lực của mình với cộng đồng Thông qua cái tôi xã hội người học tham gia nhiều hay ít trong các giờ học, trong các hoạt động tập thể
Thành tố môi trường bên ngoài
Thành tố môi trường bên ngoài là những thành phần phát triển bên ngoài hoạt động sư phạm Tác động của chúng xuất phát từ bên ngoài người dạy và người học
Đó là những yếu tố như: môi trường tự nhiên xã hội, người học hoặc người dạy, trường học, gia đình và xã hội Khí hậu và thời gian của một hoạt động sư phạm luôn ảnh hưởng đến thái độ của người dạy và người học Yếu tố âm thanh và ánh sáng cũng có ý nghĩa quyết định trong học tập
Nhà trường: Nhà trường với tư cách là nhân tố môi trường bên ngoài có tác
động mạnh mẽ đến phương pháp cũng như các thành tố khác của hoạt động dạy học Nguyên tắc hàng đầu của công tác quản lý một trường học là tạo mọi điều kiện cho hoạt động sư phạm, như vậy nhà trường phải chăm lo đến tài sản, quyền lợi của người học và người dạy Nhà trường cũng là một xã hội thu nhỏ, nơi đây con người lĩnh hội
Trang 36nền giáo dục, những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho việc hội nhập xã hội
Gia đình: là một nhân tố tác động mạnh mẽ trong môi trường dạy học Khả
năng trí tuệ của con người phần lớn do di truyền tạo nên, tuy nhiên những dữ kiện di truyền có thể được bồi đắp hay bào mòn dưới tác động của môi trường gia đình
Xã hội: có nhiệm vụ định hướng cho việc giáo dục các thành viên của mình trở
thành các công dân có trách nhiệm và hội nhập tốt Để làm được việc đó, xã hội quy định loại hình trường cần mở, xây dựng chương trình đào tạo, mục tiêu tổng thể và mục tiêu cuối cùng Xã hội quy định các chuẩn, tiêu chí đánh giá và phát triển Xã hội luôn phát triển và thường thực thi các cuộc cải cách trong hệ thống giáo dục Từ
đó đưa ra những định hướng mới thay đổi chương trình đào tạo, thay đổi SGK, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên… những thay đổi này tác động mạnh mẽ đến hoạt động hàng ngày của thầy và trò Bên cạnh đó, hệ thống chính trị và kinh tế có tác động mạnh đến nhà trường Sự nghèo nàn hay sung túc của xã hội sẽ tạo điều kiện hay gây khó khăn cho mọi cố gắng của nền giáo dục
Trên đây là những phân tích về môi trường học tập, những điều kiện cụ thể, đa dạng do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, thích nghi trên nền tảng những lựa chọn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đặt ra cho người học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học Người dạy và người học bị một loạt các yếu tố môi trường chi phối trong phương pháp dạy và học Sự ảnh hưởng của môi trường còn tùy theo mức độ áp lực, mạnh hay nhẹ, tác động ít hay nhiều đến thái độ của người học và người dạy, giúp người dạy hiểu rõ các yếu tố của môi trường giáo dục,
có được kiến thức và kĩ năng cơ bản về môi trường dạy học cũng như quản lý môi trường dạy học của mình, từ đó có những thay đổi phù hợp trong cách giảng dạy để đạt hiệu quả cao nhất
1.3.3 Các dạng tương tác cơ bản của dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Thành tố đóng vai trò chính trong dạy học theo sư phạm tương tác là người học – người dạy – môi trường Trong môi trường sư phạm tương tác quan hệ tương tác người dạy – người học – môi trường được đặc biệt quan tâm Sự thay đổi của một trong ba thành tố trên sẽ kéo theo sự thay đổi của hoạt động sư phạm tương tác
Trang 37a Tương tác người dạy – người học (instructor - learner interaction)
Tương tác người dạy – người học là một trong những mối quan hệ tương tác chủ đạo trong dạy học, thể hiện tính chất hai mặt của quá trình dạy học Hoạt động dạy và học diễn ra đồng thời và song song Chúng có chức năng chính trong việc thúc đẩy hoạt động dạy học theo mục tiêu đã định Mối quan hệ biện chứng này mang sự tương tác qua lại: người dạy thiết kế - người học thi công Theo Harmer, J (2009), người dạy cần tập trung vào ba điều khi thực hiện loại tương tác này [36]:
✓ Thứ nhất: người dạy cần lựa chọn và sử dụng từ ngữ để diễn đạt sao cho tất
cả học sinh có thể hiểu được một cách dễ dàng
✓ Thứ hai: người dạy cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về nội dung trình bày
✓ Thứ ba: người dạy cần xác định cách thức diễn đạt như chú ý về giọng nói, ngữ điệu
Ngoài ra, để thể hiện mối tương tác giữa người dạy và người học, Scrivener, J (2005) đã đưa ra sơ đồ như hình 1.2 sau:
Hình 1.2: Tương tác giữa người dạy và người học [46, tr.85]
b Tương tác người học – người học (Peer interaction)
Thuật ngữ “tương tác người học – người học” được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ học thuật tiếng Anh với cụm từ “Peer Interaction” Tương tác người học – người học trong dạy học đó là tương tác bên trong và giữa những người học với nhau Như vậy tương tác người học – người học có vai trò cực kì quan trọng trong quá trình học
và tạo nên sự hứng khởi cũng như ham muốn học tập ở người học Do đó, khi tổ chức dạy học, người dạy cần hướng mọi tương tác về quan hệ tương tác này nhằm tạo điều
Trang 38kiện cho người học tích cực trao đổi, chia sẻ, thậm chí cạnh tranh với nhau trong học tập Chỉ khi người học tìm thấy mục đích, mục tiêu học tập; khi người học còn có những gút mắc với vấn đề mà mình chưa sáng tỏ, chưa tìm ra kết quả hay câu trả lời đúng, thì khi ấy họ mới thực sự đang tham gia vào quá trình học Và đây được xem
là thành công trong dạy học của người dạy Scrivener, J (2005) đã thể hiện mối tương tác giữa người dạy và người học qua sơ đồ như hình 1.3 sau:
Hình 1.3: Tương tác giữa người học và người học [46, tr 86]
Nếu sự tương tác giữa người học và người học được người dạy tổ chức và quản
lý tốt thì sẽ giúp cho người học tăng khả năng nhận thức và năng lực tương tác xã hội
vì người học thiết lập mối quan hệ xã hội thông qua loại tương tác này Nó không những nâng cao ý thức học tập của người học mà còn làm cho họ thêm tự tin trong việc phát triển năng lực giao tiếp Theo Naegle Paula (2002) “talking students with their peers about the content of the course is a powerful way for them to reinforce what they have learned” cho rằng, trao đổi với bạn học về nội dung học sẽ là một cách thúc đẩy mạnh mẽ nhất để họ củng cố những gì đã học [41, tr.128]
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần khuyến khích và tổ chức thực hiện loại tương tác giữa người học và người học vì đó là một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất
để tăng tính chủ động trong học tập cho người học
c Tương tác giữa người học – người dạy – môi trường environment interaction)
(learner-instructor-Tương tác người học-người dạy-môi trường là sự tác động qua lại toàn diện của
Trang 39ba yếu tố trong sư phạm học Yếu tố môi trường được xem xét dưới góc độ tình huống
và tình huống ở đây không chỉ chứa đựng nhiệm vụ học tập – nhận thức mà còn chứa đựng cả các điều kiện, phương tiện để giải quyết nhiệm vụ học tập và cả những phương tiện và điều kiện để chính xác hóa, hợp thức hóa kết quả giải quyết nhiệm vụ học tập của người học thành tri thức khoa học để tái sử dụng
Môi trường dưới cách nhìn của Guy Brousseau là môi trường được thầy lựa chọn để cho người học hoạt động và phát triển Theo ông, nhiệm vụ nhận thức (như
là những đòi hỏi của môi trường) và các điều kiện, phương tiện cần thiết để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức đều đã được người dạy trù liệu, cân nhắc kĩ lưỡng và chuẩn
bị trước cho người học [22]
Dạy học dựa vào quan điểm sư phạm tương tác coi sự tác động qua lại giữa thành tố người học, người dạy và môi trường là mục đích, nguyên nhân cho sự phát triển của hoạt động dạy học Các tác nhân người dạy, người học và môi trường tác động qua lại và tạo nên một cộng hưởng liên tục Trong thực tế, vai trò của các tác nhân này gắn chặt với nhau Người học học với sự hỗ trợ của người dạy, người dạy chuyển tải kiến thức cho người học thông qua việc hỗ trợ trong quá trình học Người dạy được coi là người hướng dẫn người học Nói vậy không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ vai trò và hiệu quả của người dạy trong hoạt động dạy học Mọi tác động của người dạy phải là sự giúp đỡ tận tình đối với người học trong quá trình học tập Giữa người dạy và người học cần thiết lập cách giao tiếp bằng lời hay không lời, thể hiện dưới những hình thức trao đổi đơn giản, câu hỏi-trả lời hoặc bằng cử chỉ, điệu bộ, thái độ hay cách ứng xử Như vậy, người dạy sẽ thiết lập được mối quan hệ với người học và kích thích họ có những phản ứng từ bên trong, thích nghi với từng tình huống Còn yếu tố môi trường có tác động hiện hữu rõ nét trong hoạt động dạy
và học Nó có thể có tác động tích cực hay tiêu cực đối với quá trình dạy và học Mặc khác, người dạy và người học cũng có thể tác động ngược trở lại môi trường nhằm tăng cường hay giảm nhẹ ảnh hưởng của nó Từ đó nảy sinh mối quan hệ tương hỗ giữa ba tác nhân người học, người dạy và môi trường Bên cạnh đó, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông có tác động không nhỏ đến quá trình dạy học hiện đại
Trang 40Bảng so sánh dưới đây biểu hiện rõ nét về môi trường học tập ngày nay
Bảng 1.1: So sánh môi trường dạy học truyền thống và hiện đại [51]
Môi trường dạy học truyền thống Môi trường dạy học hiện đại
Một số môi trường học tập vẫn theo kiểu mẫu định sẵn Mọi thứ cố định, vị trí của giáo viên và sinh viên được thiết lập một chiều Chỉ có một cách để di chuyển trong lớp học
Mọi thiết bị trong lớp học chỉ cho giáo
viên sử dụng
Môi trường học tập đa mục đích
Giáo viên được xem là một phần rất quan
trọng của quá trình học tập
Giáo viên chỉ là một phần của quá trình dạy học
Định nghĩa lớp học: từng lớp học đơn lẻ là
không gian học tập tốt nhất cho việc học
Không gian ảo đã chiếm lấy không gian thật (vật lý)
Sự tham gia lớp của người học ít thực tế Sự tham gia lớp của người học nhiều
thực tế hơn Có sự tương tác đồng bộ Tiếp cận được một người xem từng được
cho là một việc khó đối với giáo viên hay
một tổ chức Thời gian hạn chế
Nhiều tương tác với người truy cập (chuyên gia), và có sự tham gia thật sự (hội nghị truyền hình)
Thời gian hạn chế Thời gian học cụ thể,
Các câu hỏi của người học là: “Nó có
nghĩa gì?” hoặc là “Nó hoạt động như thế
nào?”
Các câu hỏi của người học là “Tôi xây dựng nó như thế nào?”
Lớp học có thể thực hiện cách ly Môi trường học tập ngụ ý sự khác nhau
trong hợp tác làm việc giữa không gian
ảo và thật