1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực II

143 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực II Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực II Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực II Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực II

Trang 1

TÓM TẮT

Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang

nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh tế xã hội và văn phát triển mạnh mẽ của giáo dục bậc cao trong các thập niên qua, sự đa dạng trong các hình thức sở hữu và trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu đã tạo ra một sự cạnh tranh giữa các trường đại học với nhau ở tất cả các phạm vi, toàn cầu hay địa phương, khu vực hay trong mỗi quốc gia

Để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, phát huy hơn nữa những lợi thế và tiềm năng của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Chính trị khu vực 2, đưa nghiên cứu khoa học trở thành một nhiệm vụ quan trọng, chủ lực góp phần thúc đẩy chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Học viện, cần có những nghiên cứu đánh giá khách quan về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện 2, đặc biệt là cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên trẻ Do đó, tôi chọn vấn đề “Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2” góp phần nâng chất cao chấtlượng NCKH của cán bộ GV, NCV trẻ ở Học viện 2

Để làm rõ cơ sở lý luận về năng lực NCKH, đề tài đã khái quát hóa các nghiên cứu về cá thành phần NCKH trên thế giới và ở Việt Nam, tìm hiểu và xác định các khái niệm liên quan đến đề tài, mục tiêu, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực NCKH Từ đó tiến hành việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2 Kết quả cho thấy:

- Ngoài những mặt đạt được các GV, NCV trẻ còn gặp phải một số hạn chế, mà nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính GV, NCV

- Có nhiều GV, NCV trẻ thiếu kiến thức về ngoại ngữ chuyên ngành, khả năng đọc hiểu các tài liệu nghiên cứu khoa học xuất bản trên thế giới cũng như khả năng trình bày và phản biện bài nghiên cứu chưacao

- Nhiều GV, NCV trẻ hiện nay còn hạn chế về nghiên cứu định lượng, phân tích

Trang 2

xử lý số liệu bằng các phầnmềm

Theo phân tích kết quả khảo sát thực trạng, những mặt hạn chế mà GV, NCV trẻở Học viện Chính trị khu vực 2 đang gặp phải hiện nay còn có những vấn đề khách quan:

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng về các năng lực nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế

- Chính sách khen thưởng nghiên cứu khoa học đối với GV, NCV trẻ hiện tại chưa tạo được động lực cho GV, NCV trẻ tham giaNCKH

- Chính sách về định mức bắt buộc đối với GV, NCV trẻ về giảng dạy và học tập như hiện nay chưa tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lựcNCKH

- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiết thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc nghiên cứu củaGV, NCV trẻ

và phát triển đạt kết quả cao cả về số lượng và chất lượng

Thực hiện các giải pháp trên phải đồng bộ, phù hợp, hiệu quả cụ thể là phải phát triển được tư duy sáng tạo, khơi dạy đam mê cho các nhà nghiên cứu Bồi dưỡng có mục đính nhằm tạo ra được những nhà nghiên cứu hội đủ ba nhân tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái đội Mỗi người sau khi đào tạo, bồi dưỡng đều nâng cao được trí tuệ lẫn đức độ, điều này không chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học mà còn góp phần xây dựng xã hội phát triển ngày một tốt hơn

Trang 3

ABSTRACT

In the current global change process, countries all over the world are striving to improve their research capacity and knowledge creation in the context of strong socio-economic development and development of higher education Over the past decades, the diversity in ownership forms and in training and research activities has created a competition between universities in all scopes, global or local or regional,

or in each country

To develop the capacity of scientific research, to further promote the advantages and potential of lecturers and researchers of Region 2 Political Academy, to make scientific research an important task To contribute to training quality and to enhance the position of the Institute, there should be objective evaluation studies on the development of scientific research capacity of lecturers and researchers at Academy

2, especially young lecturers and researchers Therefore, I choose the issue of

"Developing scientific research capacity for young teaching and researching staff in the Political Academy Region 2" contributing to improving the quality of scientific research of faculty and staff children at Academy 2

To clarify the theoretical basis for scientific research capacity, the thesis generalized researches on scientific research components in the world and in Vietnam, explored and identified concepts related to the topic and objectives, content and factors affecting scientific research capacity Since then conducting the survey, analysis and evaluation of the status of scientific research capacity for teaching staff and young researchers at the Regional Political Academy 2 The results show that:

- In addition to the achievements of the teachers, young students also face a number of limitations, which are subjective reasons stemming from the teachers and students themselves

- There are many young teachers and students who lack specialized knowledge

of foreign languages, the ability to read and understand scientific papers published in the world as well as the ability to present and review research articles is not high

Trang 4

- Many young teachers and researchers are still limited in quantitative research, analysis and data processing by software

According to the analysis of the actual situation survey results, the limitations that teachers, young students in the Political Academy Region 2 are facing today still have objective issues:

- The policy of training and retraining on scientific research capacities is still limited

- The policy of rewarding scientific research for teachers, young students currently has not created a motivation for teachers, young students to participate in scientific research

- Policies on compulsory norms for teachers and young students on teaching and learning today do not create favorable conditions for them to maximize their scientific research capacity

- Conditions of facilities, equipment are still inadequate, not meeting the requirements of the research of young teachers and students

Solution:

- Solutions on mechanisms and policies to create motivation for scientific research for young teachers and students

- Strengthening training and fostering solutions for scientific research capacity

is an effective solution for the research process because of its suitability and ease of implementation

- At present, the process of assessing the applicability of the solutions proposed

in the research is an essential activity to help post-research and development research projects achieve high results in both quantity and quality amount

The implementation of the above solutions must be synchronous, appropriate and effective, especially to develop creative thinking and arouse passion for researchers The purpose of fostering is to create researchers who meet the three basic elements of knowledge, skill and attitude Each person, after training and retraining,

Trang 5

improves both intellect and virtue, which not only serves scientific research but also contributes to building a better and developing society

Trang 6

MỤC LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

LÝ LỊCH KHOA HỌC i

LỜI CAM ĐOAN iii

CẢM TẠ iv

TÓM TẮT v

ABSTRACT vii

MỤC LỤC x

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiv

DANH SÁCH CÁC HÌNH xv

DANH SÁCH CÁC BẢNG xvi

MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở trong nước 8

1.2 Lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 10

1.2.1 Năng lực nghiên cứu khoa học 10

Trang 7

1.2.1.1 Khái niệm năng lực 10

1.2.1.2 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học 10

1.2.1.3 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học 11

1.2.1.4 Cấu trúc năng lực NCKH 13

1.2.1.5 Hệ thống các năng lực nghiên cứu khoa học 17

1.2.1.6 Tiêu chí đánh giá năng nghiên cứu khoa học 18

1.2.1.7 Các yếu tố năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên 25

1.2.1.8 Đánh giá năng lực NCKH 26

1.2.2 Phát triển triển năng lực nghiên cứu khoa học 30

1.2.2.1 Khái niệm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 30

1.2.2.2 Các yếu tố tác động đến việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 31

1.2.3 Vai trò của phát triển nghiên cứu khoa học 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU TRẺ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC 2 42 2.1 Tổng quan về Học viện Chính trị khu vực 2 42

2.2 Tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học ở Học viện chính trị khu vực 2 43 2.2.1 Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học 45

2.2.2 Về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học 46

2.2.3 Quy trình tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học 46

2.2.4 Liên kết nghiên cứu khoa học với các cơ quan nhà nước và các tổ chức Chính trị, xã hội 47

2.3 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện chính trị khu vực 2 48

2.3.1 Mô tả mẫu phiếu điều tra 48

2.3.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện chính trị khu vực 2 49

2.3.2.1 Nhận thức của GV, NCV về NCKH 49

Trang 8

2.3.2.2 Năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 53

2.3.2.3 Năng lực lập đề cương và bảo vệ đề cương nghiên cứu 54

2.3.2.4 Năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu 54

2.3.2.5 Năng lực điều tra, thu thập thông tin nghiêncứu 55

2.3.2.6 Năng lực xử lý thông tin nghiên cứu 56

2.3.2.7 Năng lực trình bày kết quả nghiên cứu 57

2.4 Nhu cầu phát triển năng lực NCKH của GV, NCV trẻ 58

2.4.1 Nhu cầu bồi dưỡng 58

2.4.2 Nhu cầu về cơ chế chính sách, môi trường 64

2.5 Đánh giá chung về năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2 72

2.5.1 Điểm mạnh 72

2.5.2 Điểm yếu 73

2.5.3 Cơ hội 74

2.4.4 Thách thức 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU TRẺ TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC 2 80 3.1 Cơ sở để đưa ra giải pháp 80

3.1.1 Cơ sở pháp lý 80

3.1.2 Quan điểm và định hướng phát triển nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị khu vực 2 81

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 88

3.1.4 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 89

3.1.4.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 89

3 1.4.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 89

3.1.4.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 89

3.1.4.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và trải nghiệm sáng tạo 89

Trang 9

3.2 Các nhóm giải pháp nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2 89

3.2.1 Nhóm giải pháp về bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ 90 3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách nhằm tạo động lực nghiên cứu khoa học cho GV, NCV trẻ 94

Trang 10

9 KHKT&CN Khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 1.1: Cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học 14

Hình 1.2: Các yếu tố tác động đến việc phát triểnnăng lực NCKH 31

Hình 2.1: Khảo sát GV, NCV trẻ nhận thức về tầm quan trọng trong giảng dạy và NCKH 50

Hình 2.2: Khảo sát GV, NCV trẻ về sử dụng ngôn ngữ để NCKH 50

Hình 2.3: Bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 59

Hình 2.4: Thời gian bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 60

Hình 2.5: Hình thức bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 61

Hình 2.6: Tổ chức bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học 611

Hình 2.7: Phạm vi bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 62

Hình 2.8: Kế hoạch bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học 62

Hình 2.9: Nội dung mong muốn được bồi dưỡng 63

Hình 2.10: Đổi mới cơ chế chính sách theo hướng khuyến khích NCKH 64

Hình 2.11: Mức độ ảnh hưởng của chính sách đối phát triến năng lực NCKH của giảng viên 65

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Năng lực nghiên cứu khoa học 18

Bảng 1.2: Tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 199

Bảng 1.3: Tiêu chí đánh giá năng lực lập đề cương nghiên cứu 20

Bảng 1.4: Tiêu chí đánh giá năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu 21

Bảng 1.5: Tiêu chí đánh giá năng lực xây dựng bộ công cụ khảo sát thu thập thông tin 22

Bảng 1.6: Tiêu chí đánh giá năng lực xử lý thông tin khảo sát nghiên cứu 23

Bảng 2.1: Công bố hoạt động nghiên cứu trong nước 2014-2018 44

Bảng 2.2: Đánh giá của GV, NCV trẻ về quy trình tổ chức NCKH 47

Bảng 2.3: Tỷ lệ giới tính 48

Bảng 2.4: Tỷ lệ trình độ học vị 49

Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về mức độ quan trọng của năng lực NCKH ở GV, NCV trẻ 51

Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về các lý do để GV, NCV tham gia NCKH 5151

Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình NCKH 52

Bảng 2.8: Bảng kết quả khảo sát về năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 53

Bảng 2.9: Bảng kết quả khảo sát về năng lực lập đề cương và bảo vệ đề cương nghiên cứu 54

Bảng 2.10: Bảng kết quả khảo sát về năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu 55

Bảng 2.11: Bảng kết quả khảo sát về năng lực điều tra, thu thập thông tin nghiên cứu 56

Bảng 2.12: Bảng kết quả khảo sát về năng lực xử lý thông tin nghiên cứu 56

Bảng 2.13: Bảng kết quả khảo sát về năng lực trình bày kết quả nghiên cứu 57

Bảng 2.14: Bảng tổng hợp nhu cầu bồi dưỡng năng lực NCKH của GV, NCV trẻ 58 Bảng 2.15: Bảng tổng hợp nhu cầu về cơ chế chính sách, môi trường 64

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang

nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh tế xã hội và văn phát triển mạnh mẽ của giáo dục bậc cao trong các thập niên qua, sự đa dạng trong các hình thức sở hữu và trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu đã tạo ra một sự cạnh tranh giữa các trường đại học với nhau ở tất cả các phạm vi, toàn cầu hay địa phương, khu vực hay trong mỗi quốc gia Đa số các trường đại học, học viện

ở các nước tiên tiến đều đề xuất và cố gắng thực hiện tốt ba chức năng cơ bản của trường đại học như: nghiên cứu để sáng tạo tri thức, giảng dạy để truyền bá tri thức

và cung cấp dịch vụ để phụng sự xã hội Để định vị cao hơn và tạo sự khác biệt, các trường đại học lớn ở các nước đang phát triển đều mong muốn hướng tới để được xem như là một trường đại học nghiên cứu (hoặc định hướng nghiên cứu) nhằm đạt được một “đẳng cấp quốc tế”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trong đó có nhiệm vụ,

giải pháp “Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học (NCKH)” Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên, nghiên

cứu viên phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình

Học viện Chính trị khu vực 2 hiện có 03 phó giáo sư, 35 tiến sĩ, 96 thạc sĩ và gần 100 cử nhân (Thống kê Ban Tổ chức - Cán bộ) Số cán bộ có học hàm, học vị cao tập trung chủ yếu ở khối giảng dạy và nghiên cứu Về cơ bản, đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hiện nay của Học viện đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đào tạo chương trình cao cấp lý luận

Tuy nhiên, hiện nay, các giảng viên đều được biết đến nhiều nhất ở vai trò nhà giáo, vai trò nhà nghiên cứu thường lu mờ hơn trong khi vai trò cung ứng dịch vụ chỉ

Trang 14

dựa vào kiến thức chuyên môn chuyên ngành mà họ đã được đào tạo khi học đại học

và sau đại học, chứ chưa xuất phát nhiều từ các kết quả nghiên cứu trong quá trình làm việc, đội ngũ cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện 2 tham gia nghiên cứu khoa học còn rất nhiều hạn chế: nhiều giảng viên, nghiên cứu viên còn thụ động, thiếu tích cực trong việc tham gia nghiên cứu khoa học, sự tham gia của những người này chủ yếu nhằm mục đích là để đủ điểm khoa học khi xét thi đua; đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên tham gia nghiên cứu khoa học tuy có đông, nhưng có nhiều giảng viên, nghiên cứu viên còn ít kinh nghiệm trong khi đội ngũ có kinh nghiệm đang có dấu hiệu thiếu tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, điều này làm cho những công trình có chất lượng và khả năng ứng dụng thực tiễn không nhiều; thực tiễn cho thấy nhiều giảng viên, nghiên cứu viên chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để khai thác các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học; nhiều giảng viên khi tham gia nghiên cứu khoa học chưa nhuần nhuyễn về phương pháp nghiên cứu, về kỹ năng xử lý số liệu, do đó khi sử lý các số liệu điều tra hầu hết phải thuê và phụ thuộc khá nhiều và các đối tác bên ngoài khác; v.v…

Từ đó, để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, phát huy hơn nữa những lợi thế và tiềm năng của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Chính trị khu vực

2, đưa nghiên cứu khoa học trở thành một nhiệm vụ quan trọng, chủ lực góp phần thúc đẩy chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Học viện, cần có những nghiên cứu đánh giá khách quan về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ GV, NCV Đặc biệt là cán bộ GV, NCV trẻ tại Học viện 2 Do đó, tác giả chọn đề tài

“Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2” làm công trình tốt nghiệp thạc sĩ của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài khảo sát và đánh giá năng lực NCKH của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực Trên cơ sở đó, kiến nghị, đề xuất một

số giải pháp nhằm phát triển năng lực NCKH cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu trẻ, góp phần đáp ứng nhu cầu NCKH ngày càng cao của Học viện Chính trị khu vực 2

Trang 15

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

(i) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học;

(ii) Đánh giá thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2;

(iii) Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, người nghiên cứu thực hiện các nhiệm

vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học của

đội ngũ cán bộ GV, NCV trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2

Nhiệm vụ 2: Đánh gía thực trạng về công tác nghiên cứu khoa học của GV,

NCV trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2

Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp tác động cơ bản nhằm nâng cao năng lực

nghiên cứu khoa học của đội ngũ GV, NCV trẻ Khảo nghiệm theo ý kiến chuyên gia

để minh chứng tính khả thi của các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng công tác, nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị khu vực 2

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Năng lực NCKH của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2 có độ tuổi từ 23 tới 40 tuổi

Khách thể nghiên cứu

- Trưởng ban quản lý khoa học, Phó giám đốc học viện

- Đội ngũ giảng viên trẻ, nghiên cứu viên trẻ tại học viện

Trang 16

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Hiện nay năng lực nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị khu vực 2 còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu đối với cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên giảng dạy ở Học viện.Nếu Học viện triển khai các giải pháp như người nghiên cứu đề xuất ở chương 3, sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của cán

bộ GV, NCV trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện bởi hai phương pháp cơ bản:

Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp lý thuyết nền nhằm khảo cứu tài liệu là các công trình nghiên cứu có liên quan đăng tải trên các sách, báo chuyên ngành, tạp chí khoa học chuyên ngành, các hội thảo nhằm tìm ra khung phân tích cho luận văn Phương pháp này được sử dụng với tổng hợp các phương pháp như:

- Phương pháp logic, lịch sử;

- Phương pháp trừu tượng hóa;

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra:

+ Điều tra bằng phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo giảng viên, nghiên cứu viên có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và NCKH, qua đó nắm bắt đầy đủ những thông tin cần thiết cho nội dung nghiên cứu

+ Điều tra bằng phiếu hỏi:

Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến cán bộ quản lý giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện Chính trị khu vực 2

- Phương pháp chuyên gia: Để góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn

của luận văn, phương pháp chuyên gia được áp dụng nhằm thông qua khảo nghiệm các biện pháp đề xuất nâng cao hiệu quả công tác NCKH trong nhà trường

Trang 17

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học

+ Chương 2: Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2

+ Chương 3: Giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán

bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2

Trang 18

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1 Lịch sử nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trong đó có nhiệm

vụ, giải pháp “Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng

và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học” [1] Thông

qua hoạt động NCKH, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên phải không ngừng tự học,

tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn của mình

NCKH của giảng viên, nghiên cứu viên là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học, học viện Đây cũng là hình thức tổ chức dạy học đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của nhà trường Chính vì thế, việc tổ chức, rèn luyện cho giảng viên, nghiên cứu viên đặc biệt là giảng viên, nghiên cứu trẻ kỹ năng hoạt động NCKH đã trở thành vấn đề cấp thiết thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước

1.1.1 Ở nước ngoài

Nghiên cứu khoa học của giảng viên trong trường đại học là một trong những nhiệm vụ bắt buộc đối với từng giảng viên (giảng dạy; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ; nhiệm vụ học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ và các nhiệm vụ cụ thể khác cho từng chức danh giảng viên) Nghiên cứu khoa học được cụ thể hóa trong luật khoa học và công nghệ năm (2013), trong các văn bản dưới luật của Nhà nước

như: Thông tư số 24/2015 của Bộ giáo dục và đào tạo về quy định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học[2], các cơ quan nghiên cứu khoa học,…Hoạt động nghiên

cứu khoa học trong trường đại học là hoạt động được xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng làm thế nào để phát triển năng lực nghiên cứu của giảng viên, đây

Trang 19

chính là vấn đề cấp bách cho hoạt động nghiên cứu các khoa học hiện nay Theo người nghiên cứu tìm hiểu, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên và cũng đã có rất nhiều đề tài, luận văn, báo cáo khoa học phân tích đánh giá, nhận định theo nhiều góc độ khác nhau từ các nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới, cụ thể:

Donald và Anne cho rằng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào khả năng và ý chí của người làm nghiên cứu mà còn phụ thuộc vào bản chất của các tổ chức và các hệ thống mà tổ chức vận hành (Donald

& and Anne, 2015).[3]

Emmanuel nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng về chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học củ giảng viên, khuyến khích ngườihọc tốt hơn, cách xây dựng mô hình để phát triển kỹ năng nghiên cứu của giảng viên và thực nghiệm của mình để giải quyết các vấn đề, cách thay đổi mô hình để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên như: giao quyền giải quyết vấn đề cho

bộ phận chuyên trách, có chương trình huấn luyện các kỹ năng để phát triển nghiên cứu, đào tạo cho những người học giả cao cấp để nâng cao năng lực hướng dẫn người nghiên cứu Bên cạnh đó, Emmanuel còn cho rằng đổi mới chính sách của Trường để phát triển năng lực của giảng viên (Emmanuel,2015).[4]

Với tác phẩm “Scientific Research Competencies of Prospective Teachers anh their Attitudes toward Scientific Research”, Hasan Huseyin Sahan và Rukiye (2015)

đã xác định được năng lực nghiên cứu khoa học giáo viên tương lai, xác định mức độ ảnh hưởng của thái độ giáo viên tương lai tới nghiên cứu khoa học[5] Phương pháp nghiên cứu khoa học về kỹ năng nghiên cứu của họ, thái độ đối với nghiên cứu Nghiên cứu này có hai chiều: Là một nghiên cứu mô tả nhờ xác định các kỹ năng nghiên cứu và thái độ giáo viên tiềm năng đối với nghiên cứu, là một nghiên cứu thực nghiệm nhờ xác định ảnh hưởng của khoa học phương pháp nghiên cứu khóa học về

kỹ năng giáo viên tương lai và thái độ của họ đối với nghiên cứu Tác giả cũng đề xuất cho nghiên cứu tiếp theo về vấn đề chính sách nghiên cứu khoa học của nhà trường phát triển sẽ giúp phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học như thế nào

Trang 20

1.1.2 Ở trong nước

Có khá nhiều bài viết được đăng trên báo và tạp chí về chủ đề NCKH, tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi quan tâm đến hai nội dung có liên quan là

lý luận về NCKHvàhoạt động NCKH của giảng viên, nghiên cứu viên

Đánh giá năng lực NCKH không phải là vấn dề mới trong lý luận và thực tiễn đào tạo đại học ở Việt Nam Phải thừa nhận rằng vấn đề trên đã được tìm hiểu và nghiên cứu từ rất sớm, vì vậy đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng, công trình nghiên cứu về NCKH và năng lực NCKH ở các khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu theo hướng học thuật thường được bắt nguồn từ những nghiên cứu trước đó trên thế giới

và được thể hiện cụ thể trong các giáo trình, tài kiệu tham khảo, kỹ băng mềm cho các nhà nghiên cứu Trong đó, các giáo trình về phương pháp luận NCKH của những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam cũng đã thể hiện rất rõ năng lực cần thiết của một nhà nghiên cứu Trong giáo trình của Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Lê, Lê Huy Bá… các khái niệm NCKH, các phương pháp tiếp cận trong NCKH, các bước NCKH, cách thu thập và đọc tài liệu, các bước hình thành một đề tài nghiên cứu, cách xây dựng giả thuyết, chọn một đề tài nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, thu thập số liệu, xử lý số liệu trong nghiên cứu, cách biểu diễn dữ liệu kết quả nghiên cứu, viết báo cáo khoa học… đều đã được phân tích một cách rất chi tiết và sâu sắc Đặc biệt

là trong năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã viết cuốn sách “Từ nghiên cứu đến công bố kỹ năng mềm cho nhà khoa học” [6], cuốn sách đã giới thiệu những kỹ năng mềm cho nhà khoa học, trong đó có các kỹ năng viết một bài báo khoa học, cách trình bày báo cáo, kỹ năng viết đề cương NCKH, văn phong khoa học… đã được thể hiện qua hai thứ tiếng Việt – Anh

Ở khía cạnh năng lực, các nhà nghiên cứu giáo dục và tâm lý cũng đã đưa ra nhiều quan điểm và cách phân chia thang năng lực khác nhau Đáng chú ý là thang

đo năng lực của Bloom (nhận thức, thái độ và kỹ năng) Thang đo này cũng đã được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong đánh giá kết quả học tập và đánh giá năng lực Hình thức đánh giá năng lực thường là các bài kiểm tra khảo sát như kiểm tra kỹ năng, kiến thức, trắc nghiệm

Trang 21

Vũ Cao Đàm và cộng sự (2006) với đề tài về “Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội” [7] đã chỉ ra rằng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cần phải khắc phục sự chia cắt đào tạo và nghiên cứu khoa học, tổ chức lại hệ thống sao cho giảng viên cũng đồng thời là nhà nghiên cứu; khuyến khích khoa học sáng tạo, mở đường cho giảng viên đại học trở thành một nghiên cứu viên khoa học; trường đại học nhanh chóng thoát ra khỏi hệ thống giáo dục kinh viện Ngoài ra, muốn nâng cao năng lực nghiên cứu thì phải bắt đầu từ sinh viên, cần trang bị cho sinh viên kiến thức về phương pháp luận nghiên cứu khoa học để khi ra trường dù có cơ hội nghiên cứu hay không cũng có thể giúp cho họ phương pháp học tập theo phong cách nghiên cứu khoa học

Đề tài “nghiên cứu giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giáo viên dạy nghề trường cao đẳng nghề Cần Thơ” của tác giả Lê Thị Thơ (2009)

đã đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trường cao đẳng nghề Cần Thơ và xác định ba nhóm giải pháp góp phần cho việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học đó là: (i) Bản thân người giáo viên, (ii) quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, (iii) nhóm chính sách.[8]

Đến năm 2016, tác giả Lê Thị Thơ lại tiếp tục phát triển đề tài “Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học – công nghệ cho giảng viên Cao Đẳng Nghề Vùng đồng bằng sông Cửu Long” qua việc tìm hiểu, xác định năng lực nghiên cứu, xác định các

hệ thống năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cao đẳng nghề để có được mô hình tổ chức bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cao đẳng nghề.[9]

Đào Thị Oanh và cộng sự (2014) xác định năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học sư phạm biểu hiện ở 3 mặt chính thông qua đề tài “Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại học sư phạm” Ba mặt đó là kỹ năng nghiên cứu, kinh nghiệm nghiên cứu và kỹ năng phổ biến/ứng dụng, đây cũng là cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên.[10] Khái niệm nội dung bồi dưỡng năng lực được xác định trong đề tài “Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các họcviện trường

Trang 22

sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Văn Tượng, 2016) Theo đó bồi dưỡng năng lực là tổng thể các hoạt động của chủ thể, tác động trực tiếp vào nhận thức, hành

vi và hoạt động học tập, rèn luyện của học viên đào tạo giảng viên,nhằm nâng cao tri thức tổng hợp, trình độ tư duy, kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.[11]

Năm 2014, Trần Thanh Ái cho ra đời tác phẩm nghiên cứu “Cần phải làm gì để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục” Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đã rút ra một số giải pháp cho việc phát triển năng lực như: khuyến khích các tiến sĩ làm nghiên cứu khoa học, tăng cường gửi giảng viên đi đào tạo tiến sĩ, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giảng viên, tăng cường tập huấn phương pháp nghiên cứu cho giảng viên trẻ, cải tiến cơ chế đánh giá khoa học theo chuẩn mực quốc tế, cải tiến nội dung giảng dạy môn phương pháp nghiên cứu khoa học.[12]

1.2 Lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học

1.2.1 Năng lực nghiên cứu khoa học

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

Nguyễn Văn Cường (2014), năng lực được định nghĩa “là một thuộc tính tâm

lý phước hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm”.[13]

Theo john Erpenbeck (1998), năng lực là cơ sở để phát triển tri thức, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi gía trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiên quá qua chủ định Năng lực là khả năng bao gồm kiến thức, kỹ năng

và thái độ thực hiện nhiệm vụ một cách thành công theo chuẩn xác.[14]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, năng lực được hiểu là điều kiện đủ để làm một việc gì đó: Năng lực tư duy của con người là khả năng để thực hiện tốt một công việc:

có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức

Tóm lại năng lực là khả năng về kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của cá nhân để thực hiện công việc hiệu quả theo mục tiêu đặt ra

1.2.1.2 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học

Boerma Josefine (2011), cho rằng năng lực là khả năng về nghiên cứu bao gồm

Trang 23

phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật nghiên cứu, kết cấu nghiên cứu và khả năng thực hiện nghiên cứu khoa học.[15]

Theo Vũ Cao Đàm và cộng sự (2006), thì “năng lực nghiên cứu khoa học là sự thành thạo về kỹ năng hình thành và chứng minh luận điểm (tư tưởng) khoa học, tạo

ra được kết quả thỏa mãn yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu”

Trần Thanh Ái (2014), tiếp cận theo hướng năng lực nghiên cứu khoa học chung thì năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm 3 thành tố chủ yếu cấu thành: kiến thức,

Theo Trần Thanh Ái (2014) năng lực của người nghiên cứu gồm ba yếu tố cấu thành: Kiến thức, kỹ năng và thái độ của người nghiên cứu

Năng lực nghiên cứu được định nghĩa bởi Emmanuel năm 2015 Emmanuel cho rằng nó chính là khả năng cho phép người nghiên cứu khám phá thông tin mới, là kết quả của cuộc đấu tranh có hệ thống (Emmanuel, 2015)

Từ tìm hiểu khái niệm về năng lực nghiên cứu khoa học của các tác giả trên,

quan điểm của tác giả trong luận văn này năng lực nghiên cứu khoa học được hiểu là khả năng thực hiện có kết quả công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện qua cách vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn vào tổ chức triển khai và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào nâng cao thực xã hội

1.2.1.3 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học

Donald McIntyre và Anne McIntyre cho rằng năng lực nghiên cứu không phải

là bao nhiêu nghiên cứu được hoàn thành mà là bao nhiêu nghiên cứu có thể được hoàn thành Như vậy, rõ ràng năng lực nghiên cứu khoa học không phải đếm trên đầu sản phẩm mà là cách làm và hoàn thành nó (Donald & and Anne, 2015)

Trang 24

Theo Nguyễn Viết sự (2007), năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học gồm các năng lực thể hiện trong kiến thức, kỹ năng và thái độ trong việc thực hiện các đề tài tại trường hoặc đơn vị liên kết [16]

Trong đề tài này năng lực nghiên cứu khoa học được định nghĩa cụ thể như sau

“ Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học là khả năng thực hiện có kết quả một công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện ở sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ để nghiên cứu đạt kết quả cao.”

Đặc điểm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên:

Từ khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đã được trình bày ở phần 1.2.3, có thể thấy được đặc điểm của năng lực nghiên cứu khoa học là:

- Năng lực được hình thành và biểu hiện trong hoạt động nghiên cứu khoa học của cá nhân, càng nghiên cứu nhiều thì năng lực càng được nâng cao

- Phải có một kiến thức chuyên ngành nhất định thì mới có thể làm nghiên cứu

- Có tính độc lập và tư duy sáng tạo

- Nhạy bén trong nắm bắt các thông tin và có hoài nghi trong nghiên cứu

- Năng lực nghiên cứu khoa học có sự phối hợp chặt chẽ về kiến thức, kỹ năng

và thái độ để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học

+ Năng lực nghiên cứu của giảng viên Đại học bao gồm:

- Năng lực xác định vấn đề nghiên cứu: với năng lực này, giảng viên cần biết phân tích hiện thực khách quan, hình thành ý tưởng nghiên cứu: Có kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp thực tiễn, phát hiện các vấn đề cần quan tâm giải quyết, chọn lựa vấn đề cấp thiết cần giải quyết, hình thành ý tưởng nghiên cứu Đồng thời triển khai

ý tưởng nghiên cứu thành một đề tài nghiên cứu: Có kỹ năng thực hiện ý tưởng bằng một quy trình cụ thể, trước hết là biến ý tưởng thành một vấn đề cần giải quyết, một câu hỏi cụ thể cần phải trả lời

- Năng lực lập kế hoạch nghiên cứu: Với tiêu chuẩn này, giảng viên cần có kiến thức và kỹ năng xây dựng đề cương sơ bộ và đề cương chi tiết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ (bao gồm cả đề cương nội dung, dự toán kinh phí và kế hoạch nghiên cứu cụ thể) Và phải biết lập kế hoạch nghiên cứu: Có kỹ năng lập kế hoạch

Trang 25

tổng thể và từng giai đoạn của quá trình nghiên cứu

- Năng lực tổ chức nghiên cứu: tổ chức hoạt động nghiên cứu tức là có kiểu biết

kỹ năng tập hợp lực lượng liên ngành trong nghiên cứu, phát huy tổng hợp các nguồn lực chủ quan và khách quan trong nghiên cứu Đồng thời biết vận dụng các cơ sở khoa học hợp lý Có kiến thức vững vàng về các cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu, có kỹ năng cập nhật và vận dụng các kiến thức hiện đại vào quá trình nghiên cứu Ngoài ra cần biết sử dụng các phương pháp và phương tiện nghiên cứu

Có kỹ năng sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của đề tài, tích cực sử dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại một cách có hiệu quả Sử dụng có hiệu quả các thiết bị kỹ thuật và phương tiện nghiên cứu hiện đại Mặt khác phải có phương pháp, kỹ năng quản lý hồ

sơ nghiên cứu và thông tin khoa học Tức là có hiểu biết và kỹ năng quản lý và thông tin từng phần kết quả trong quá trình nghiên cứu; quản lý khoa học và đúng quy định

hồ sơ nghiên cứu

- Năng lực tổng kết kết quả nghiên cứu và thông tin khoa học: tổng kết kết quả nghiên cứu tức là có kiến thức và kỹ năng tổng hợp kết quả nghiên cứu, tự đánh giá kết quả nghiên cứu, viết báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học Tiếp đến là công bố kết quả nghiên cứu: Viết được các bài báo khoa học để đăng Tạp chí hoặc tham dự hội nghị khoa học; sử dụng được nhiều hình thức hợp lý khác nhau để công bố kết quả nghiên cứu, triển khai thực hiện kết quả đề tài

1.2.1.4 Cấu trúc năng lực NCKH

Theo Vũ Cao Đàm, năng lực nghiên cứu thể hiện ở trình độ hiểu biết và kỹ năng của người nghiên cứu, năng lực gồm có năng lực dặt giả thuyết của người nghiên cứu, cách tiếp cận và các phương pháp cụ thể thu thập và xử lý thông tin để chứng minh giả thuyết đặt ra Năng lực nghiên cứu luôn được nâng cao sau một giai đoạn nghiên cứu nói chung và một đề tài, chương trình nghiên cứu cụ thể

Theo Nguyễn Xuân Qui, năng lực NCKH gồm ba yếu tố cấu thành: kiến thức,

kỹ năng và thái độ [17, tr.146]

Trang 26

Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau ta có thể tóm lại năng lực NCKH được cấu thành bởi các yếu tố như sau:

Hình 1.1: Cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học

Kiến thức:

- Kiến thức khoa học chuyên ngành:

Để có thể tiến hành một NCKH, các cá nhân phải có đủ kiến thức về chuyên ngành của mình Trên nguyên tắc, người có bằng cấp càng cao thì kiến thức chuyên ngành càng phong phú Trong hệ thống đào tạo của các quốc gia, tiến sĩ là bằng cấp cao nhất; nó chứng nhận năng lực tối thiểu mà người có bằng đã đạt được để tổ chức các NCKH độc lập Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng không thiếu những nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp khoa học quan trọng nhưng không có được bằng cấp cao, và trong chiều ngược lại, cũng có không ít người bằng cấp cao nhất nhưng vẫn không có

đủ năng lực nghiên cứu Vì thế, tiêu chí bằng cấp cũng chỉ là một trong số nhiều điều kiện cần thiết ban đầu mà thôi Để có thể làm NCKH, trình độ khoa học chuyên ngành của người nghiên cứu phải đủ để xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ chưa có lời đáp khoa học thỏa đáng Trình độ chuyên môn của nhà nghiên cứu chưa cao sẽ khiến họ xác định vấn đề nghiên cứu không phù hợp, và do đó, nghiên cứu của họ không có giá trị Khoa học hiện đại đuợc xây dựng trên quan niệm cho rằng kiến thức khoa học chỉ là tạm thời, và nó không ngừng phát triển, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Sự phát triển đó chủ yếu là thông qua con đường NCKH, Vì mục tiêu của NCKH

là sản sinh ra kiến thức mới Vì thế, nhà khoa học phải có đủ kiến thức để phát hiện

ra ranh giới giữa “cái đã biết” của khoa học và cái chưa biết Để đạt được điều này, mỗi cá nhân phải tự học để bổ xung kiến thức khoa học chuyên ngành Vì thế, NCKH luôn bắt đầu bằng tự học, tự đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn

Trang 27

- Kiến thức về phương pháp NCKH

Từ nhiều thập kỷ nay, phương pháp NCKH có nhiều tiến bộ lớn lao và nó đã trở thành một nhà khoa học theo đúng nghĩa Kiến thức về phương pháp NCKH cũng mang tính chất của kiến thức khoa học nói chung: nó cũng phát triển, cũng được điều chỉnh, bổ xung thường xuyên Theo J Beillerot (1991), ở các nước phương tây, từ

“khoa học” được dùng chung với từ “nghiên cứu” mới từ những năm 1930, để chỉ một hoạt động tuân thủ một quy trình chặt chẽ và khách quan nhằm tìm hiểu những vấn đề mà nhà khoa học quan tâm [18] Vì thế, việc tự học về phương pháp NCKH

là điều kiện bắt buộc đối với nhà khoa học Tuy nhiên hiện nay có nhiều cách hiểu lệch lạc về phương pháp NCKH, đặc biệt là phương pháp nghiên cứu trong các ngành

xã hội, nhân văn và giáo dục, khiến hoạt động này có nhiều biến tướng Vì thế, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực NCKH, không thể không bàn về phương

pháp NCKH

Kỹ năng:

Để có thể làm NCKH được, người nghiên cứu phải làm chủ được nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, tùy theo tính chất của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, tách tiếp cận nghiên cứu… Bao trùm các phương pháp đó là phương pháp khoa học, được

GS Lê Thành Khôi định nghĩa rằng “phương pháp khoa học chủ yếu không đưa ra kết luận nào mà không có chứng cứ; phai dựa trên những ý kiến các nhân thường xuất phát từ kinh nghiệm hạn hẹp; phải phân biệt những dữ liệu và sự diễn dịch những dữ liệu đó, không gò các sự việc vào ký thuyết mà phải điều chỉnh lý thuyết cho phù hợp với sự việc; phải có tính phê phán, nghĩa là phải chấp nhận việc xem xét lại lý thuyết,

dù cho nó đã hoàn chỉnh đến đâu đi chăng nữa” Để có thể thực hiện được phương pháp khoa học người làm công tác nghiên cứu phải có nhiều kỹ năng khác nhau, trong

số đó có các kỹ năng có tầm đặc biệt trong NCKH

- Kỹ năng xây dựng đề tài nghiên cứu: Xây dựng đề tài nghiên cứu là một kỹ năng vô cùng quan trọng vì nó quyết định sự thành công hay thất bại của nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu không phải là cái có sẵn mà là kết quả của cả một quá trình phức tạp và biện chứng, từ những ghi nhận có được trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Trang 28

chuyên ngành đến ký năng qua sát và phân tích thực tế và việc đối chiếu những phân tích đó với tình trạng kiến thức hiện tại để phát hiện vấn đề nghiên cứu

- Kỹ năng thiết kế nghiên cứu: Thiết kế một công trình nghiên cứu phải tương ứng với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, loại dữ liệu định thu thập, phương pháp phân tích… Không có một công thức cố định như các công thức toán học để người nghiên cứu dập khuôn cho mọi nghiên cứu khác nhau Vì thế nhà nghiên cứu phải có kỹ năng thiết kế nghiên cứu để có thể tiến hành một cách độc lập

- Kỹ năng thu tập dữ liệu: NCKH hiện đại phải dựa vào những dữ liệu thường nghiệm (Empiric data) Vì thế việc thu thập dữ liệu là công đoạn rất qua trọng đặc biệt là trong nghiên cứu xã hội nhân văn và giáo dục Khoa học giáo dục có đối tượng nghiên cứu rất phức tạp như các mối quan hệ giữa con người, giữa con người với các

hệ thống tổ chức xã hội, các hành vi, thái độ… Nên người nghiên cứu phải có kỹ năng

tổ chức thu thập dữ liệu sao cho đảm bảo tính khách quan khoa học

- Kỹ năng phân tích dữ liệu và sử dụng công cụ phân tích: Phân tích dữ liệu nhằm mục tích làm nổi bật những đặc điểm, đặc tính, tính chất của đối tượng nghiên cứu (nghiên cứu mô tả) hoặc nhằm giúp người nhiên cứu kiểm chứng giả thuyết (nghiên cứu giải thích) Ngày nay công nghệ thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong NCKH ngay cả trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn Vì thế nhà nghiên cứu phải biết cách sử dụng nhiều phần mềm phân tích Đây là một hỡ trợ kỹ thuật rất quan trọng, tạo lợi thế đáng kể khi công bố quốc tế

- Kỹ năng viết báo cáo khoa học: Một công trình nghiên cứu phải được kết thúc bằng bài báo hoặc báo cáo khoa học Việc trình bày bài viết đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kỹ năng thông tin, viết những gì vần viết, thể hiện chính xá bản chất của sự việc sao cho người đọc nào cũng hiểu giống nhau Ngày nay nhà khoa học có nhiều dịp tham dự diễn đàn khoa học quốc tế và nhất là vai trò công bố quốc tế ngày càng

có ý nghĩa quan trọng nên kỹ năng diễn đạt bằng ngoại ngữ là không thể thiếu được, nhất là tiếng Anh

Thái độ:

- Nhiệt tình, say mê khoa học

Trang 29

- Nhạy bén với sự kiện xảy ra

- Khách quan, trung thực, nghiêm túc

- Kiên trì, cẩn thận khi làm việc

- Tinh tần hợp tác khoa học

- Hoài nghi khoa học, dũng cảm bảo vệ chân lý khoa học

1.2.1.5 Hệ thống các năng lực nghiên cứu khoa học

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Qui thì năng lực NCKH gồm có các năng lực theo thành phần như sau [19]:

- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

- Năng lực quan sát

- Năng lực sáng tạo

- Năng lực đọc và tìm kiếm thông tin

- Năng lực tư duy

- Năng lực thiết kế đề cương nghiên cứu

- Năng lực viết báo cáo khoa học

- Năng lực bảo vệ đề tài dự án

Theo Lê Thị Thơ (2016), đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên căn cứ vào các tiêu chí dựa trên các thang đo bằng điểm số để đánh giá năng lực qua bồi dưỡng của đề tài [20] Các năng lực được đánh giá xếp loại tương đương với 05 loại sau:

- Loại tốt: Là các năng lực đáp ứng đầy đủ, chính xác theo các tiêu chí, các biểu hiện và có minh chứng thể hiện đạt yêu cầu

- Loại khá: Là các năng lực đáp ứng đầy đủ, chính xác theo các tiêu chí, các biểu hiện và có minh chứng đạt yêu cầu bằng hoặc hơn 2/3

- Loại trung bình: Là các năng lực đáp ứng đầy đủ, chính xác theo các tiêu chí, các biểu hiện và có minh chứng đạt yêu cầu bằng hoặc hơn 1/2

- Loại yếu: Là các năng lực đáp ứng đầy đủ, chính xác theo các tiêu chí, các biểu hiện và có minh chứng đạt yêu cầu ít hơn 1/3

Trang 30

- Loại kém: Là các năng lực đáp ứng đầy đủ, chính xác theo các tiêu chí, các biểu hiện và có minh chứng đạt yêu cầu ít hơn 1/4

Do đặc thù công việc ở Học viện Chính trị khu vực 2 chủ yếu là nghiên cứu và giảng dạy, vì thế việc NCKH đối với các GV, NCV trẻ là điều hết sức quan trọng, người nghiên cứu cần khảo sát các năng lực thành phần chính như sau:

Bảng 1.1: Năng lực nghiên cứu khoa học STT Năng lực nghiên cứu khoa học

1 Phát hiện vấn đề nghiên cứu

2 Lập và bảo vệ đề cương nghiên cứu

3 Tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu

4 Điều tra, thu thập thông tin nghiên cứu

5 Xử lý số liệu nghiên cứu

6 Trình bày kết quả nghiên cứu Trên cơ sở 06 năng lực cốt lõi của năng lực nghiên cứu, bao gồm: năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu; năng lực xây dựng và bảo vệ đề cương; năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu; năng lực điều tra, thu thập thông tin; năng lực

xử lý thông tin; năng lực trình bày kết quả nghiên cứu; các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học sẽ được tác giả trình bày chi tiết hơn ở phần các phần sau

1.2.1.6 Tiêu chí đánh giá năng nghiên cứu khoa học

- Tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu khoa học:

Năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu là năng lực không thể thiếu đối với một người làm nghiên cứu Nó chính là năng lực đầu tiên của toàn bộ quá trình nghiên cứu Đối với năng lực này quan trọng nhất là tìm ra vấn đề có mâu thuẫn

và tìm cách giải quyết vấn đề Năng lực được đánh giá từ các năng lực thành phần, các tiêu chí, các biểu hiện và minh chứng cụ thể

Trang 31

Bảng 1.2: Tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu

Năng lực

thành phần Tiêu chí đánh giá Biểu hiện

Minh chứng sản phẩm cụ thể

đủ các thông tin về sự kiện có vấn đề cần giải quyết Đưa ra được các

ý tưởng nghiên cứu từ thực tiễn công việc và

từ nghiên cứu lý luân cụ thể là: Phát hiện, ghi chép thông tin ý tưởng cần nghiên cứu chi tiết,

rõ ràng

Xác định rõ bản chất vấn đề của sự vật, hiện tượng cần NC

Quan sát, ghi chép cẩn thận thông tin về các

sự kiện có vấn đề cần giải quyết

Trình bày các ý tưởng

về vấn đề nghiên cứu

rõ ràng, và cần thiết phục vụ cho công việc

và nghiên cứu

Nêu ra đúng các nội hàm cần giải quyết, sự cần thiết bằng văn bản, ghi chép có nội dung Nêu ra tên sự vật, hiện tượng vấn đề nghiên cứu, giải quyết vấn đề bằng các ý tưởng Đưa ra các nội dung chính, công việc cần làm rõ ý tưởng nghiên cứu

dự báo cần tìm hiểu, thực hiện mục tiêu ý tưởng nghiên cứu của

đề tài

Xác định rõ các vấn

đề liên quan, lý luận, chứng minh có dẫn chứng thuyết phục trong phân tích ý tưởng

Trình bày chi tiết các yêu cầu chính phục vụ nghiên cứu ý tưởng

Bảng liệt kê, các công việc cần thực hiện sau phân tích với nội dung Xác định được các yêu cầu liên quan, xây dựng được phương pháp tư duy nghiên cứu phù hợp với ý tưởng

Xem xét các yếu tố liên quan, gắn chúng với cơ sở lý luận

Xác định lĩnh

vực và ý tưởng

nghiên cứu

Từ việc phân tích dẫn đến Rút ra được vấn đề cần NC giải quyết là gì?

Xác định cụ thể ý tưởng nghiên cứu thuộc lĩnh vực, chuyên ngành nào?

Xác định đúng ý tưởng nghiên cứu của sự vật, hiện tượng và mục đích nghiên cứu là đạt được

Nêu ra một cách tường minh lĩnh vực nghiên cứu thuộc lĩnh vực như giáo dục, kinh tế, chính trị, xã hội, y tế, hoặc có liên quan tác động lẫn nhau, từ đó phát hiện được các vấn đề nghiên cứu cụ thể và

có thể thực hiện được

Giải thích, phân tích

sự vật, hiện tượng có phát sinh vấn đề cần giải quyết, trình bày ý tưởng chính xác

Bảng phân tích thuộc lĩnh vực chuyên ngành nghiên cứu, cơ sở lý luận liên quan nêu được nội dung cơ bản Xác lập được tên gọi, nội dung phù hợp cho vấn đề nghiên cứu, thành lập các thành tố liên quan đến đề tài, định hướng cho ý tưởng phát triển

Trang 32

- Tiêu chí đánh giá năng lực lập đề cương nghiên cứu khoa học

Thiết lập đề cương nghiên cứu cho một đề tài là bước thứ hai vô cùng quan trọng, qua đề cương có thể thấy toàn cảnh của nội dung và định hướng các bước cầnlàm để thực hiện một đề tài Như vậy, qua đề cương có thể xác định được mục đích, kế hoạch nghiên cứu và thấy được tổng quát nhất toàn bộ quá trình thực hiện của một đề tài Việc bảo vệ đề cương chặt chẽ, thuyết phục sẽ thấy được sự thấu hiểu các vấn đề nghiên cứu

Bảng 1.3: Tiêu chí đánh giá năng lực lập đề cương nghiên cứu

Ghi chép, phân tích và điều chỉnh tên đề tài NCKH Phát biểu được tên gọi về vấn đề cần nghiên cứu

Bản đề xuất viết rõ tên đề tài

Viết ngắn gọn, rõ ràng về mục tiêu cuối cùng của

đề tài NC

Trả lời cho câu hỏi, nghiên cứu vấn đề này nhằm giải quyết yêu cầu công việc hay nghiên cứu, xác định mục đích đến, thời gian hoàn thành, kết quả nghiên cứu phục vụ yêu cầu nào trong thực tiễn công việc sự vật, sự việc, hiện tượng gì?

Ghi chép mục tiêu về kết quả với ý tưởng NC

Bản ghi chép xác định rõ mục tiêu

Xác định rõ đâu là đối tượng, chủ thể, khách thể nghiên cứu

là gì? Đối tượng nghiên cứu

là ai, sự vật, sự việc, hiện tượng gì?

Bản ghi chép xác định khách thể và đối tượng NCKH-

đề tài NC

Trang 33

Bản liệt kê và phân tích các PPNC phù hợp với đề tài Phân tích, áp dụng PP

NC vào các trường hợp giải quyết vấn đề NCKH-CN

Nêu rõ mục đích sử dụng của từng PP NC đã chọn

Giải thích cụ thể mục đích sử dụng của từng PP NC

Các vấn đề được đặt ra chính xác về mặt khoa học và có hướng giải quyết cụ thể

Trình bày đề cương chi tiết đúng mẫu quy định

Sử dụng chính xác từ ngữ và văn phong khoa học

Trình bày các vấn đề cần giải quyết của đề tài NCKH-

CN Ghi chép nội dung đề cương chi tiết của đề tài NCKH-CN

Bản viết dàn ý đề cương chi tiết của

đề tài NCKH- CN

- Tiêu chí đánh giá năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu:

Bảng 1.4: Tiêu chí đánh giá năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu

Năng lực thành

phần

Tiêu chí đánh giá Biểu hiện

Minh chứng sản phẩm cụ thể

Thu thập nguồn tài

liệu nghiên cứu

Người nghiên cứu có, năng lực trong việc thu thập tài liệu

Thu thập tài liệu

Bảng tổng hợp các danh mục tài liệu tham khảohình ảnh, biểu đồ sủ dụng cho phân tích báo cáo vấn đề nghiên cứu

Chọn lọc tài liệu là việc tìm hiểu, phân thích có hệ thống các nội dung liên quan đến đề tài, phục vụ cho nghiên cứu

Bảng tổng hợp phụ lục nguồn khảo sát, phân tích

Ghi chép các kết quả thực nghiệm trong quá trình nghiên cứu làm tài liệu cho phân tích bổ sung lý luận

Bảng liệt kê các tài liệu thực nghiệm

Ngày nay, nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu khoa học ngày càng đa dạng

và phong phú Nếu thiếu năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu, giảng viên sẽ gặp phải

Trang 34

hạn chế trong việc lựa chọn các tài liệu liên nghiên cứu, dẫn đến khó khăn cho việc nắm bắt các vấn đề cốt lõi của đề tài, các cơ sở lý luận sẽ thiếu đi những nền tảng kiến thức của những đề tài đi trước Phân tích giúp cho người nghiên cứu tìm ra các tài liệu tìm ra những nội dung phù hợp làm cơ sở, làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu của mình

- Tiêu chí đánh giá năng lực xây dựng bộ công cụ khảo sát thu thập thông tin:

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu rất cần có năng lực điều tra Năng lực này giúp cho người nghiên cứu xác định được đối tượng, mục đích điều tra, nội dung điều tra để thiết kế bộ công cụ điều tra khảo sát, từ kết quả khảo sát để thu thập được số liệu phục vụ cho phân tích nguyên nhân của đề tài

Bảng 1.5: Tiêu chí đánh giá năng lực xây dựng bộ công cụ khảo sát thu thập thông

Ghi chép các địa điểm để chọn mẫu khảo sát

Bản ghi chép chi tiết lựa chọn địa điểm để chọn mẫu khảo sát

Xác định số lượng

mẫu cần khảo sát,

điều tra

Xác định chính xác loại đối tượng điều tra, khảo sát Xác định rõ số lượng cần thiết khảo sát cho mỗi loại đối tượng

Phân tích loại đối tượng điều tra, khảo sát Ghi chép tính toán số lượng điều tra, khảo sát cần thiết cho mỗi loại đối tượng

Số lượng mẫu biểu phải đủ lớn để đảm bảo độ chính xác của kết quả nghiên cứu

Bản ghi chép xác định đối tượng điều tra, khảo sát

Bản chi tiết số lượng cần thiết khảo sát cho mỗi loại đối tượng

Phân tích các dữ liệu (thông tin) cần thiết cho điều tra, khảo sát Việc thiết kế phiếu đều tra, mẫu khảo sát cần rõ ràng,

dễ hiểu, dễ dàng thực hiện cho người trả lời

Bản phân tích và xác định các dữ liệu cần thiết

Xác định số lượng

câu hỏi và loại câu

hỏi cần điều tra,

khảo sát

Xác định chính xác số lượng câu hỏi và loại câu hỏi cần điều tra, khảo sát

Ghi chép phân tích chi tiết

số lượng câu hỏi và loại câu hỏi cần điều tra, khảo sát

Số câu hỏi phải đủ, đúng yêu cầu cần nghiên cứu, đảm bảo tính thống nhất,

Bản ghi chép xác định số lượng câu hỏi

và loại câu hỏi cần điều tra, khảo sát

Trang 35

Năng lực thành

phần Tiêu chí đánh giá Biểu hiện Minh chứng sản phẩm cụ thể

logic, rõ ràng và khách quan

Thiết kế phiếu

điều tra, khảo sát

Xác định đúng các loại biểu mẫu dùng để điều tra, khảo sát

Thiết kế chính xác các phần cần thiết cho bộ mẫu điều tra, khảo sát

Phân tích các loại biểu mẫu dùng để điều tra, khảo sát

Trình bày các phần cần thiết cho bộ mẫu điều tra, khảo sát

Bộ mẫu phiếu điều tra, khảo sát

- Tiêu chí đánh giá năng lực xử lý thông tin khảo sát nghiên cứu

Xử lý số liệu để tìm hiểu và làm rõ thực trạng đã và đang diễn ra của bản chất, hiện tượng vấn đề cần nghiên cứu Có năng lực này, giảng viên sẽ nâng cao khả năng xác định và phân tích, xử lý, xem xét các khía cạnh, các yếu tố của vấn đề nghiên cứu

từ các số liệu được điều tra, khảo sát Đây đồng thời là cơ sở thực tiễn làm nền tảng khoa học cho việc đề xuất các định hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài

Bảng 1.6: Tiêu chí đánh giá năng lực xử lý thông tin khảo sát nghiên cứu

Ghi chép phân tích các phương pháp xử lý số liệu điều tra, khảo sát

Bản ghi chép phân tích

và lựa chọn phương pháp xử lý số liệu điều tra, khảo sát phù hợp với đề tài NC

Sử dụng được

các phần mềm

để phân tích số

liệu cho đề tài

Người nghiên cứu có, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiêm trong việc sử dụng các phần mềm phục vụ nghiên cứu

Sử dụng thành thạo phân tích, tổng hợp thông tin,

dữ liệu điều tra, sử dụng thành thạo cộng nghệ thông tin word, exel, SPSS, phục vụ nghiên cứu định tính, định lượng

Biết tổng hợp, phân tích

và đưa ra các kết quả chính xác cao, nhận định,

dự báo phù hợp với yêu cầu mà đề tài nghiên cứu quan tâm

Năng lực phân tích dữ liệu có phát hiện ra điều

Các Bảng tổng hợp kết quả phân tích số liệu điều tra, các con số, tỷ

lệ trung bình, tỷ lệ %, phương sai, độ lệch chuẩn,…

Các bảng phân tích, bảng kết quả quan trọng như: phương trình hàm hồi quy liên quan, các

mố liên hệ có được từ các hiện tượng sau nghiên cứu

Bảng nhận xét riêng cho các vấn đề mới phát hiện sau nghiên cứu với

Trang 36

Năng lực

thành phần Tiêu chí đánh giá Biểu hiện Minh chứng sản phẩm cụ thể

gì mới, đặc biệt, khác biệt với tính toán, thiết

Sắp xếp, phân tích chính xác về mặt định lượng của kết quả điều tra, khảo sát

Ghi chép phân tích về mặt định tính các xu hướng, diễn biến của kết quả điều tra, khảo sát

Ghi chép phân tíchvềmặt định lượng của kết quả điều tra, khảo sát

Bản ghi chép cụ thể phân tích kết quả điều tra, khảo sát về định tính và định lượng của vấn đề NC

- Tiêu chí đánh giá năng lực trình bày kết quả nghiên cứu:

Trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài là năng lực giúp giảng viên tổng hợp toàn bộ quá trình nghiên cứu, viết báo cáo kết quả nghiên cứu, một cách logic, khoa học, rút ra kết luận cho vấn đề cần nghiên cứu

Bảng 1.7: Tiêu chí đánh giá năng lực trình bày kết quả nghiên cứu

Năng lực thành

phần Tiêu chí đánh giá Biểu hiện

Minh chứng sản phẩm cụ thể

Trình bày báo cáo đề tài rõ ràng, logic, khoa học, tường minh dễ đọc, dễ hiểu

Các kết luận được đưa

ra có tính thuyết phục cao dự vào những cơ

sở luận chứng thực tế ghiên cứu, khảo sát Nội dung nghiên cứu, phát hiện mới cần được trình bày riêng, nhấn mạnh, phục vụ cho báo cáo tham luận sâu

Bảng trìnhbày đề cương chi tiết của một đề tài làm trên máy tính và bảng sắp xếp viết bảng tay

Trang 37

1.2.1.7 Các yếu tố năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên

Theo Vũ Cao Đàm và công sự (2011), các thành tố của năng lực nghiên cứu [21]:

Thứ nhất: năng lực nghiên cứu thể hiện ở trình độ hiểu biết và kỹ năng của

người nghiên cứu, năng lực gồm có năng lực đặt giả thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận

và các phương pháp cụ thể thu thập và xử lý thông tin để chứng minh giả thiết đặt ra Trình độ năng lực huy động vốn, thiết bị phục vụ hoạt động nghiên cứu do người nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu đề ra Trình độ đáp ứng mọi nhu cầu thông tin cho nghiên cứu Năng lực nghiên cứu luôn được nâng cao sau một giai đoạn nghiên cứu nói chung và một đề tài, chương trình nghiên cứu cụ thể Như vậy, nghiên cứu khoa học là một hoạt động trải nghiệm có tính thường xuyên, càng nghiên cứu nhiều thì năng lực nghiên cứu càng được nâng cao

Thứ hai (Thiết bị nghiên cứu) thường sau một công trình nghiên cứu, các thiết

bị được trao lai cho các cơ sở tham gia dự án Phần thiết bị này góp phần tăng cường trang bị cho cơ sở Năng lực thiết bị bao gồm thiết bị thông dụng và thiết bị chuyên dụng

- Thiết bị thông dụng: Thiết bị dùng để đo lường, phân tích, kiểm nghiệm, đánh giá trong nghiên cứu (Các phần mềm, các thiết bị máy móc, vv…phục vụ trong nghiên cứu) Đây là thiết bị giúp cho người nghiên cứu thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu và triển khai tổ chức thực hiện

- Thiết bị chuyên dụng: Dùng để phục vụ cho tính chất riêng biệt của ngành Nguyễn Thị Minh Hồng và cộng sự (2016) cho rằng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh là các năng lực kiến thức, kỹ năng và thái độ [22] Các năng lực này biểu hiện cụ thể ở các yếu

tố sau:

Kiến thức: Thể hiện trong việc trình bày và giải thích các cơ sở của phương pháp luận, các loại hình nghiên cứu khoa học, trình bày được các giai đoạn của hoạt động nghiên cứu khoa học, nêu định nghĩa và các thúc tiến hành các phương pháp nghiên cứu khoa học, mô tả được cách trình bày kết quả nghiên cứu

Trang 38

Kỹ năng: Gồm có các kỹ năng chung và kỹ năng bổ trợ Kỹ năng chung (Gồm

hệ thống các kỹ năng thực hiện một đề tài nghiên cứu), kỹ năng bổ trợ (Gồm các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian trong nghiên cứu)

Thái độ: Thể hiện qua nhận thức, tình cảm và hành vi của người nghiên cứu đối với nghiên cứu khoa học

Theo Đào Thị Oanh và cộng sự (2014), năng lực nghiên cứu khoa học được cụ thể hóa thành các mặt biểu hiện chủ yếu sau: “Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục”, “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về nghiên cứu khoa học giáo dục”, “Phổ biến, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục vào giảng dạy và thực tiễn” Theo quan điểm này, năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng thực hiện một hoạt động nghiên cứu khoa học; Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục và nghiên cứu khoa học, qua việc thực hiện nghiên cứu khoa học thì năng lực nghiên cứu khoa học

sẽ tốt hơn; việc phổ biến, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục vào giảng dạy và thực tiễn cũng là yếu tố quan trọng thể hiện khả năng ứng dụng linh hoạt vào thực tế hoạt động giáo dục

Như vậy năng lực NCKH cũng giống như các năng lực khác, đều bao gồm thành

tố chính: kiến thức, thái độ và kỹ năng của chủ thể trong NCKH Dựa trên nội hàm của khái niệm năng lực, NCKH và những quan điểm về năng lực NCKH trước đây, trong nghiên cứu này năng lực NCKH của cán bộ giảng dạy và nghiên cứu trẻ được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ về phương pháp luận và phương pháp NCKH để tìm tòi, phát hiện, chứng minh hoặc sáng tạo ra cái mới trong quá trình công tác tại Học viện Chính trị khu vực 2

1.2.1.8 Đánh giá năng lực NCKH

Đánh giá được đề cập trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và mỗi ngành khoa học lại có những quan điểm riêng Theo quan điểm ngôn ngữ thì đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm

đề xuất những quyết định nhất định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng

Trang 39

cao chất lượng và hiệu quả công việc, đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị Theo quan điểm triết học thì đánh giá đó là một thái độ đối với những hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người, xác định các giá trị của chúng tương xứng với các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nhất định, được xác định bằng vị trí xã hội, thế giới quan, trình độ văn hóa

Theo quan điểm giáo dục thì đánh giá là việc so sánh các thông tin thu được thông qua các dữ liệu đo lường với mục tiêu giáo dục đề ra để kết luận về kết quả dạy

và học Quan điểm này được thể hiện thông qua nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Theo Dương Thiệu Tống (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006) [23], đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dụctiếp theo Đánh giá được thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính Trong nhiều thập kỷ trước đây, quá trình giáo dục cảu Việt Nam được kiểm tra, đánh giá thông qua các hình thức truyền thống như các câu hỏi trắc nghiệm hay quan hay tự luận Điều này giúp cho giảng viên đo lường được quá trình nhận thức của người học, tuy nhiên trong mô hình đánh giá truyền thống, người học ít có cơ hội để vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào nhiều tình huống khác nhau trên thực tiễn Trong những năm trở lại đây, khi quan điểm dạy học được đổi mới theo hướng dạy học tích cực và tiếp cận dựa trên năng lực của người học thì kiểm tra, đánh giá cũng cần phải thay đổi để phù hợp hơn với mô hình giáo dục hiện đại Nói vậy, không có nghĩa là hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống không còn được sử dụng Theo quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thì kiểm tra, đánh giá có sự kết hợp giữa truyền trống và hiện đại, giữa tự đánh giá của người học và đánh giá của giảng viên Đồng thời, sự kiểm tra, đánh giá này cần được diễn ra liên tục trong suốt quá trình học của học sinh, sinh viên nhằm thu thập và phân tích những thông tin để có thể đánh giá được năng lực học tập của người học so với chuẩn đầu ra

Hiện nay có hai cách hiểu về đánh giá năng lực Thứ nhất, quan điểm cho rằng đánh giá năng lực là đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ vào việc

Trang 40

giải quyết vấn đề của cuộc sống Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong nghiên cứu của Khối Thịnh Vượng Anh, theo đó đánh giá năng lực là đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập, nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó Tức là đánh giá năng lực là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể

áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhua trong thực tế cuộc sống.Thứ hai, các quan điểm cho rằng đánh giá năng lực phải dựa vào chuẩn đầu ra nhất định để có thể phân hóa được năng lực các nhân của tất cả người học Theo đó đánh giá năng lực dựa trên việc miêu tả các sản phẩm đầu ra cụ thể, rõ ràng tới mức giảng viên, người học và các bên liên quan đều có thể hình dungtương đối khách quan và chính xác về thành quả của học sinh sau quá trình học tập Đánh giá năng lực cũng cho phép nhìn ra tiến bộ của học sinh, sinh viên dựa trên mức độ thực hiện các sản phẩm Đánh giá người học theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra Tuy nhiên, sản phẩm đó phải bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt đến một chuẩn đầu ra quy định Như vậy tuy có hai quan điểm nhưng các nhà nghiên cứu đều

có những cách hiểu tương đồng về đánh giá năng lực Tựu chung lại, đánh giá năng lực là:

- Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học dựa trên một chuẩn nhất định

- Đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ tức là chú trọng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ thực tế hơn là kiến thức, kỹ năng mang tính lý thuyết

Nói cách khác, trong đánh giá năng lực, sự quan tâm được hướng vào nhận thức

và kỹ năng bậc cao, trong đó chú trọng vào tư duy sáng tạo và năng lực làm việc nhóm

Hiện nay, có hai phương pháp chính để đánh giá năng lực: định tính và định lượng với những phướng cách (kỹ thuật) sau: khảo sát, đánh giá hồ sơ học tập, sản

Ngày đăng: 04/12/2021, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w