Phát triển chương trình đào tạo môn tính toán di động và internet (mobile computing and internet) theo CDIO ngành công nghệ thông tin tại trường đh thủ dầu một, tỉnh bình dương Phát triển chương trình đào tạo môn tính toán di động và internet (mobile computing and internet) theo CDIO ngành công nghệ thông tin tại trường đh thủ dầu một, tỉnh bình dương Phát triển chương trình đào tạo môn tính toán di động và internet (mobile computing and internet) theo CDIO ngành công nghệ thông tin tại trường đh thủ dầu một, tỉnh bình dương
Mục tiêu nghiên cứu
Phát triển chương trình đào tạo môn học thông qua việc xây dựng đề cương môn học môn TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ INTERNET theo CDIO, thuộc nhóm ngành Công nghệ thông tin bậc đại học; môn học này phù hợp với xu thế phát triển công nghệ, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao đông chuyên môn Tính toán di động và Internet khu vực Bình Dương và TP.HCM.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát và đánh giá thực trạng thị trường lao động lĩnh vực Công nghê thông tin chuyên môn TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ INTERNET, thực trạng môn học TÍNH
TOÁN DI ĐỘNG VÀ INTERNET ngành CNTT bậc đại học tại trường Đại học Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương
Nghiên cứu cơ sở lý luận và phát triển chương trình đào tạo, xây dựng đề cương môn học TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ MẠNG INTERNET trình độ đào tạo đại học
Nghiên cứu tính khả thi và khả năng đáp ứng đề cương môn học này đối với nhu cầu thị trường lao động về công nghệ thông tin di động và mạng internet
Thực hiện đánh giá đề cương môn học thông qua ý kiến chuyên gia.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đố i t ượ ng nghiên c ứ u: Chương trình đào tạo môn TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ
MẠNG INTERNET ngành Công nghệ thông tin bậc đại học, cụ thể là đề cương chi tiết môn học
Khách th ể nghiên c ứ u: Chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin; chương trình đào tạo môn học TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ MẠNG INTERNET ngành Công nghệ thông tin bậc đại học; nhu cầu học tập của xã hội; nhu cầu thị trường lao động ngành công nghệ thông tin Đố i t ượ ng kh ả o sát: Trường đại học Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, Các doanh nghiệp công nghệ thông tin ở tỉnh Bình Dương và TP.HCM.
Giả thuyết nghiên cứu
Nếu phát triển chương trình đào tạo thông qua xây dựng đề cương môn học TÍNH TOÁN DI ĐỘNG VÀ MẠNG INTERNET ngành CNTT bậc đại học tại trường Đại học Thủ Dầu Một thì đáp ứng được quá trình dạy học chuyên sâu về Tính toán di động và
Internet của tỉnh Bình Dương và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
Đây là dạng đề tài nghiên cứu ứng dụng, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u – phân tích tài li ệ u: sưu tầm các tài liệu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến đề tài: phát triển chương trình đào tạo các môn học ngành CNTT, chương trình đào tạo các môn học liên quan hiện có; Luật giáo dục, viễn thông; Các chương trình đào tạo ngành công nghệ thông tin tiên tiến trên thế giới; Các hội thảo về thông tin di động và internet, IoT
- Ph ươ ng pháp th ố ng kê x ử lý s ố li ệ u: dùng thống kê toán học xử lý các số liệu thứ cấp về nhu cầu xã hội và tính cấp thiết của đề tài
- Ph ươ ng pháp đ i ề u tra b ả ng h ỏ i: sử dụng bảng hỏi điều tra thực trạng đào tạo chuyên môn Tính toán di động và internet tại ĐH Thủ Dầu Một
- Ph ươ ng pháp chuyên gia: lấy ý kiến chuyên gia đánh giá và tổng hợp vấn đề gồm tính khả thi, tính mới, tính khoa học và tính cấp thiết của đề tài.
Đóng góp của luận văn
Luận văn này theo hướng nghiên cứu ứng dụng, những điểm nổi bật mà luận văn mang lại:
- Giúp cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ mật thiết của CDIO và ngành Công nghệ thông tin, xây dựng và phát triển chương trình đào tạo môn học thuộc nhóm ngành CNTT theo CDIO là hoàn toàn phù hợp và hợp lý
- Giúp cho chương trình ngành Công nghệ thông tin phát triển phù hợp với trình độ công nghệ kỹ thuật, bắt kịp xu thế công nghệ, xu hướng phát triển của ngành công nghệ thông tin là di động và mạng internet
- Thể hiện được sự cập nhật, phát triển của thời đại công nghệ thông tin trong chương trình đào tạo ngành công nghệ thông tin
- Giúp cho giảng viên, sinh viên có tài liệu tham khảo, tạo tiền đề nghiên cứu sâu về chuyên môn tính toán di động và Internet
Cấu trúc của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị
Phần mở đầu giới thiệu tổng quan về đề tài: mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và các vấn đề liên quan
Phần nội dung xin trình bày về các nội dung nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu để phát triển chương trình đào tạo môn Tính Toán Di Động và Internet theo CDIO ngành Công nghệ thông tin Trong phần nội dung, bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo môn học Tính Toán
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển chương trình đào tạo môn học Tính
Toán Di Động và Internet ngành Công nghệ thông tin tại trường Đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Xây dựng đề cương môn học Tính Toán Di Động và Internet theo
CDIO ngành Công nghệ thông tin tại trường Đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Phần kết luận và kiến nghị xin trình bày ngắn gọn về kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra hướng phát triển và đề xuất hướng phát triển nghiên cứu của môn học Tính Toán
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm đầu thế kỷ 21 này, từ ngày có sự xuất hiện của những thiết bị thông minh như iPhone và iPad, những thiết bị này đã đặt nền móng cho sự thay đổi đáng kể về cuộc sống con người chúng ta hiện nay Với các thiết bị nhỏ gọn này, chúng ta có thể soạn thảo và gửi thư điện tử (Email), nghe nhạc, đọc sách, tham gia vào các cuộc họp video, xem phim, hay giải trí bằng cách chơi game, hoặc tìm đường đi khi chạy xe hoặc thậm chí là lướt web đọc tin tức Chính vì sự tiện ích và giá trị gia tăng của các thiết bị di động này, lượng người dùng mỗi lúc một tăng, các nhà sản xuất các thiết bị này cũng tăng với tốc độ chóng mặt Với sự thúc đẩy và nền tảng của công nghệ thông tin hiện đại, các thiết bị di động này gần như chiếm lĩnh cuộc sống xã hội loài người chúng ta hiện nay Để đáp ứng xu thế phát triển của công nghệ di động, ngành Tính toán di động đã ra đời, nó gắn liền với truyền thông, đặc biệt là mạng internet Chính vì vậy, từ những năm 2010, trên thế giới đã có nhiều trường đại học triển khai nghiên cứu và xây dựng chương trình đào tạo nhóm môn Tính Toán Di Động và Internet trong ngành CNTT để đáp ứng được nhu cầu học và làm việc trong ngành này hiện nay Một trong số đó, trường đại học HOF (HOF University) của Đức [35], đã triển khai chương trình đào tạo đại học ngành CNTT trong đó có chuyên ngành và nhóm môn Tính Toán Di Động từ năm 2013, chuyên ngành này với mục tiêu đào tạo các cử nhân
8 có khả năng phát triển các ứng dụng và game trên thiết bị di động thông minh như điện thoại thông minh (smartphone) và máy tính bảng (tablet); có khả năng tham gia vào việc phát triển các mạng xã hội trực tuyến Đón đầu công nghệ và sự phát triển của công nghệ thông tin, tại trường Đại học
Limerick (Ireland) [36], cũng đã triển khai chương trình đào tạo cử nhân khoa học ngành
Thông tin liên lạc và bảo mật Chương trình đào tạo này cũng nhấn mạnh mục tiêu đào tạo các cử nhân có khả năng phát triển và xử lý các ứng dụng trên các thiết bị di động, đặc biệt là xây dựng tính bảo mật và an toàn cho các thiết bị di động, các hệ thống liên quan đến di động, nhằm bảo đảm tính an toàn thông tin và thông tin liên tục không bị gián đoạn Chương trình này cũng dựa trên nền tảng tính toán di động, nhưng bao gồm các vấn đề về an toàn thông tin
Một trong những đại học nổi tiếng của Vương Quốc Anh, là đại học Northampton
[37], cũng đã xây dựng chương trình cử nhân khoa học ngành tính toán di động Với chương trình này, mục tiêu đào tạo là giúp cho người học có khả năng hiểu sâu về hệ thống thiết bị di động, máy tính di động, hệ thống mạng không dây, phát triển và lập kế hoạch cho mạng di động, internet và an toàn máy tính, công nghệ đa phương tiện và truyền thông Chương trình này trên cơ sở tính toán di động nhưng tập trung vào khả năng xây dựng và phát triển mạng dành cho các thiết bị di động Ở khu vực Đông Nam Á, một đại học hàng đầu của Malaysia là trường APU (Asia Pacific University of Technology & innovation) [38], đã có một chuyên ngành đào tạo trong nhóm ngành Công nghệ thông tin, đó là công nghệ di động Với mục tiêu trên nền tảng ngành công nghệ thông tin, chương trình này giúp người học đạt được mục tiêu có khả năng làm việc và xử lý các thiết bị di động trong hệ thống thông tin liên lạc hiện nay; có thể thiết kế, phát triển và triển khái các giải pháp công nghệ về di động sử dụng các nền tảng khác nhau, công cụ khác nhau cũng như công nghệ khác nhau Đây là một trong những chương trình đào tạo đáp ứng khá đầy đủ và nhu cầu phát triển của di động hiện nay
Tại hội nghị eLmL năm 2015 [31], tác giả bài báo Chương trình đào tạo ngành tính toán di động – Thiết kế và ứng dụng (Mobile Computing Program Curriculum –
Design and Implementation), đã nghiên cứu tính cấp thiết và nhu cầu của ngành này đối với đất nước Libya Bài báo chỉ ra rằng, bằng cách tiếp cận các vấn đề và thực thể các đối tượng của công nghê di động (người dùng di động, nội dung di động, và các thiết bị
9 di động) đã bắt buộc chúng ta xem xét lại, và thiết kế lại chương trình đào tạo và chiến lược đào tạo các sinh viên ngành điện toán Chương trình đào tạo tính toán di động duy nhất mà tác giả đề cập tới được thiết kế nhằm mục tiêu đào tạo kiến thức sâu về tính toán di động và kỹ thuật phát triển nó Chương trình này không đơn thuần là tích hợp các khái niệm của di động vào các môn học của ngành điện toán mà là tạo ra một chương trình có yếu tố di động chủ yếu và xuyên suốt chương trình Chính vì vậy, bài báo đã đề xuất ra một chương trình đào tạo ngành tính toán di động, được thiết kế phù hợp với công nghệ di động hiện nay Chương trình sẽ giúp cho sinh viên tiếp cận với các loại thiết bị di động khác nhau, cài đặt và phát triển các ứng dụng trên các thiết bị khác nhau đó Bài báo cũng chia sẻ khá rõ nét các chiến lược dạy học, phản ứng từ các phía và các thách thức khi triển khai chương trình này
Ngoài ra, trên thế giới có hẳn một chuyên ngành chuyên môn nghiên cứu sâu về tính toán di động và internet, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của IoTs, công nghệ tính toán đám mây, thì tính toán di động và internet là một trong những chuyên môn sâu có nhu cầu đào tạo và phát triển nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn
Hiện nay, ở Việt Nam, hai trường đại học lớn của cả nước, là Đại học Quốc gia
Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM đã có những tiếp cận rất mới trong ngành Công Nghệ Thông Tin, chương trình đào tạo luôn được tiếp cận và đổi mới Ngành mới, chuyên ngành mới, môn mới trong Công nghệ thông tin luôn luôn được chào đón cùng với sự phát triển của công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường Điển hình như từ những năm 2014, đã xuất hiện ngành mới là ngành An Toàn Thông Tin, là một ngành mới của công nghệ thông tin mà hai trường đại học hàng đầu Việt Nam đã đưa ra và đào tạo cho thị trường Không chỉ thế, Học Viện Bưu Chính Viễn Thông cũng bắt kịp tình hình phát triển của công nghệ, và cũng đáp ứng phần nào trong việc đào tạo ngành mới Tuy nhiên, chuyên môn về tính toán di động và mạng internet trong các chương trình đào tạo CNTT ở Việt Nam vẫn đang còn khá mới mẻ vì tính chất của công nghệ di động khá mới Các nội dung của môn học này được thiết kế rải rác hoặc lồng ghép trong các môn hoặc chuyên đề, nhưng chưa được cụ thể hóa và làm rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của nó Việc nghiên cứu và triển khai đưa môn học tính toán di động và mạng internet vào chương trình đào tạo ngành CNTT là một điều tất yếu và sẽ được áp dụng vào các trường hàng đầu Việt Nam về Công Nghệ Thông Tin
Khái quát chung về Tính toán di động và Internet
1.2.1 Khái quát về công nghệ thông tin
Theo ngân hàng thế giới World Bank [1], thì Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)."
Từ ngày xưa sự xuất hiện và ra đời của thông tin học là cơ sở và nền tảng cho việc hình thành Công Nghệ Thông Tin [26] Thuật ngữ Thông tin học (Information Science) lần đầu tiên được đưa ra ở Mỹ vào đầu những năm 60 với ý nghĩa là: khoa học thông tin nghiên cứu tính chất và cơ cấu của thông tin, những phương tiện và lực lượng để thực hiện các quá trình thông tin cùng với những kỹ thuật xử lý thông tin với mục
11 đích sử dụng thông tin thích hợp và có hiệu quả nhất Năm 1963 lần đầu tiên Học viện công nghệ Georgia đưa môn Thông tin học vào chương trình giảng dạy của mình, và nhanh chóng phát triển sang một số các trường đại học khác như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập bên cạnh các ngành khác như thư viện học, tin học, v.v
Sự ra đời của kỹ thuật số vào giữa thế kỷ XX đã tạo ra một bước ngặt trong việc kiểm soát của con người đối với các thông tin đã được ghi lại Năm 1960, lần đầu tiên máy tính được dùng để số hoá tài liệu văn bản, đó là hai tạp chí tóm tắt của Mỹ Index Medicus của Thư viện Y học Quốc gia và Scientific and Technical Aerospace Reports của Cơ quan quản lý hàng không và vũ trụ Quốc gia (NASA), nhằm giảm giá thành và thời gian xuất bản hai tạp chí này Chúng được coi là những CSDL thư mục đầu tiên, và trở thành một nguồn thông tin mới bên cạnh các kho lưu trữ thông tin truyền thống của thư viện và các cơ quan lưu trữ Cuộc cách mạng vi xử lý vào giữa những năm 70, tạo cơ sở cho sự ra đời hàng triệu, rồi hàng chục, hàng trăm triệu máy vi tính với năng lực ngày càng cao, giá ngày càng rẻ, thâm nhập khắp mọi nơi trên thế giới, đã thực sự mở ra một chân trời mới cho mỗi cá nhân và xã hội trong việc nắm bắt được những thông tin về những sự kiện và ý tưởng mới, và mới tạo khả năng hiện thực cho việc ứng dụng máy tính trong công tác thông tin tư liệu
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" [1] xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)." Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/ TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Chỉ thị 58) Dưới sự chỉ đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ, trong 10 năm qua công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và đáp ứng được những mục tiêu đề ra
Công nghiệp CNTT ở Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển hàng năm cao so với các khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng Theo báo cáo thống kê của Bộ thông tin truyền thông, tăng trưởng doanh thu bình quân toàn ngành công nghiệp CNTT trong giai đoạn 2001-
2009 đạt 20-25%/năm Đến cuối năm 2010, doanh thu công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số đã đạt gần 2 tỷ USD, doanh thu công nghiệp phần cứng đạt trên 5,6 tỷ USD, doanh thu dịch vụ viễn thông đạt trên 9,4 tỷ USD, đưa tổng doanh thu toàn ngành viễn thông và công nghiệp CNTT đạt gần 17 tỷ USD, gấp 19 lần so với năm 2000
Hạ tầng viễn thông Việt Nam đã đạt chuẩn quốc tế Tổng số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 12/2010 ước đạt xấp xỉ 126 triệu thuê bao, trong đó có xấp xỉ 14,3 triệu thuê bao cố định, số thuê bao Internet băng rộng trên cả nước ước gần 3,7 triệu thuê bao Hiện trên cả nước, 100% các trường từ tiểu học đến đại học đã có kết nối Internet, 99,7% số xã đã có máy điện thoại cố định, nhiều nông dân có máy di động Mạng thông tin quốc gia đáp ứng các mục tiêu đề ra trong Chỉ thị 58 đó là phát triển nhanh, hiện đại với độ bao phủ rộng khắp cả nước, kết nối với thông lượng lớn tới các nước trong khu vực và thế giới
Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT phát triển nhanh cả về quy mô và hình thức đào tạo Trong giai đoạn 2000-2010, số lượng cơ sở đào tạo chính quy đại học và cao đẳng về CNTT tăng lên đáng kể, trong đó số cơ sở đào tạo đại học tăng gần 5 lần từ
42 lên 206, cao đẳng từ 36 lên 205, tăng gần 6 lần Đến năm 2010, cả nước có 277 trường đại học và cao đẳng đào tạo về nhóm ngành CNTT (chiếm 73% tổng số trường) với 70 nhóm ngành CNTT, tin học và 59 khoa thuộc nhóm ngành điện tử - viễn thông, có 220 cơ sở đào tạo kỹ thuật viên CNTT cấp trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, và 62 cơ sở đào tạo kỹ thuật viên điện tử - viễn thông 100% các trường từ tiểu học trở lên đã được kết nối Internet là điều kiện vô cùng thiết yếu cho phát triển nguồn nhân lực CNTT cả trước mắt và lâu dài Ứng dụng CNTT trong xã hội, người dân và doanh nghiệp đã có những chuyển biến tích cực Mọi tầng lớp xã hội ở mọi miền đất nước đều được tạo điều kiện để có thể khai thác, sử dụng thông tin điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của mình Việt Nam đã trở thành một trong những nước có số lượng người dùng Internet cao nhất Tháng 6/2010, tỷ lệ số hộ gia đình có máy tính đạt 14,76% tăng hơn 6 lần so với năm 2002 Tỷ lệ số hộ gia đình có kết nối Internet đạt 12,84% tính đến tháng
12/2010 Đa số các doanh nghiệp đã có kết nối Internet để phục vụ hoạt động (khoảng 90%), với 67,7% doanh nghiệp đã có mạng cục bộ LAN và việc ứng dụng phần mềm trong quản lý điều hành bắt đầu được chú trọng Các dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chẩn đoán bệnh từ xa, thư viện điện tử, ) đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Những ứng dụng mang tính kỹ thuật cao đã được áp dụng trong hoạt động của nhiều ngành như xây dựng, cơ khí, công nghiệp in ấn, dệt may, dầu khí, khí tượng thuỷ văn…
1.2.2 Khái quát về tính toán di động
Theo bài nghiên cứu của T.Bezhoruah [26], thì Tính toán di động là sự tương tác và giao tiếp giữa con người và máy tính trong đó máy tính đóng vai trò truyền dữ liệu, âm thanh và video Tính toán di động bao gồm thông tin liên lạc di động, phần cứng di động, và phần mềm di động Thông tin liên lạc bao gồm các mạng lưới kết nối, hạ tầng mạng với các thuộc tính riêng, giao thức, kiểu dữ liệu truyền và các công nghệ truyền dẫn Phần cứng bao gồm các thiết bị di động hay các thành phần di động Phần mềm di động sẽ giải quyết các vấn đề đặt ra, hay là các ứng dụng hữu ích trên thiết bị di động Một số nguyên tắc của tính toán di động: Tính cầm tay (Portability); Tính kết nối (Connectivity); Tính tương tác xã hội (Social Interactivity); Tính cá nhân (Individuality)
1.2.2.2 Lịch sử phát triển các thiết bị di động và công nghệ di động Đã 40 năm [27] kể từ khi chiếc điện thoại di động đầu tiên ra đời (1973 - 2013) Martin Cooper đã dùng chiếc Motorola DynaTAC để thực hiện cuộc điện thoại đầu tiên cho Joel Engel - đối thủ lớn nhất của ông, khi đó là trưởng phòng nghiên cứu của AT&T Chiếc điện thoại có cái tên đầy đủ là Dynamic Adaptive Total Area Coverage, có giá gần 4.000 USD, cao 10-inch và nặng 790 gram, cho thời gian thoại khoảng 30 phút Trong khi đó, theo nghiên cứu mới nhất của ITU, cả thế giới sẽ có khoảng 6,8 tỷ thuê bao điện thoại di động tính đến hết năm 2013 trên tổng số 7,1 tỷ người
Mạng di động ra đời (1979) Mạng di động đầu tiên - 1G dựa trên công nghệ analog Nhà mạng của nhật là NTT đã cho ra mắt mạng di động đầu tiên tại Tokyo năm
1979 và đến năm 1984, nó đã phủ sóng toàn bộ đất nước mặt trời mọc Cho đến tận năm
1992, mạng 2G mới bắt đầu xuất hiện tại Phần Lan 2G ra đời cũng tạo điều kiện cho
14 những dịch vụ như SMS phát triển 3G được giới thiệu vào năm 2001 và hiện tại, chúng ta đang đứng ở thời kỳ chuyển giao sang mạng 4G
Các vấn đề lý luận về phát triển chương trình đào tạo
1.3.1 Các khái niệm và thuật ngữ về xây dựng phát triển chương trình đào tạo
Là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt mục tiêu học tập đề ra
Thuật ngữ CTGD xuất hiện từ năm 1820; tuy nhiên phải đến giữa thế kỉ XX, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kì và một số nước có nền giáo dục phát triển CTGD (Curriculum) có gốc Latinh là Currere, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course” - điều hành một khoá học) Do vậy, định nghĩa truyền thống của CTGD là “một khoá học” (Course of Study)
Ngày nay, quan niệm về CTGD đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy Chương trình vừa cần cụ thể hơn, bao quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm các bộ phận cấu thành:
- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập
- Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập
- Đánh giá kết quả học tập
Như vậy, cấu trúc của CTGD bao gồm hai thành phần chính: (1) sự hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập, và (2) cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở thành hiện thực
Có thể xem định nghĩa sau đây đã bao hàm được những ý đó:
CTGD là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt động giáo dục tại nhà trường Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung giáo dục (với độ rộng và sâu tương ứng với chuẩn đầu ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình)
Chương trình khung [4] Là bảng thiết kế phản ánh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, nội dung đào tạo cơ bản của chương trình đào tạo, làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình đào tạo theo nhóm, ngành, nghề cụ thể ở từng cấp, bậc học hoặc loại hình đào tạo Có thể hiểu chương trình khung là khung chương trình và phần nội dung đào tạo cơ bản, lõi, tương ứng với những thời lượng nhất định để đảm bảo đạt được mục tiêu đào tạo với chuẩn trình độ đào tạo tương ứng
Chương trình đào tạo [3] là một văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỉ lệ giữa các học phần, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo
Trong thực tế, chương trình giáo dục có thể được chia thành nhiều cấp độ như chương trình quốc gia, chương trình nhà trường, chương trình cấp học như chương trình giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, chương trình giáo
19 dục đại học, hay chương trình môn học Căn cứ vào chương trình khung này, các trường phát triển chương trình nhà trường bằng việc thêm vào những môn học chuyên sâu, đặc trưng cho các địa phương, vùng miền, nhà trường và người học Ở bậc đại học, các trường tự quyết định các chương trình khung nhưng do mức độ chuyên môn hhóa sâu trong các lĩnh vực chuyên môn nên các môn học bắt buộc trong chương trình khung ở bậc đại học chiếm tỉ lệ nhỏ hơn so với chương trình khung được thiết kế cho bậc phổ thông
Như vậy, chương trình nhà trường là chương trình quốc gia được giữ nguyên hoặc điều chỉnh một phần, được lựa chọn và sắp xếp lại, hoặc (hiếm khi) thiết kế mới với sự tham gia của GV, các chuyên gia hoặc các bên liên quan (stakeholder), cho phù hợp với đối tượng HS trong một bối cảnh dạy học cụ thể
Chương trình giáo dục của một trường bao gồm những cách thức mà một trường đưa chương trình giáo dục quốc gia vào ứng dụng thực tế Chương trình giáo dục của một trường cần phải gắn liền với nhu cầu của địa phương cùng với những nguồn lực, ngành nghề ưu tiên do lợi thế so sánh vùng miền đặc thù Chương trình nhà trường cần được thiết kế theo sự tư vấn của hội đồng trường
Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện trao quyền tự chủ cho các nhà trường phổ thông trong phát triển chương trình Triết lý quản trị hiện nay ủng hộ cách tiếp cận “quản lý dựa vào nhà trường” theo kiểu phân quyền, trong đó hiệu trưởng được giao quyền lực đáng kể không những trong hoạch định chương trình mà còn về ngân sách,thuê và sa thải nhân viên, giám sát và đánh giá nhân viên Trong thực tế, quản lý dựa vào nhà trường là cách tiếp cận theo hướng cộng tác giữa các thành viên cả bên trong và bên ngoài nhà trường đã làm cho nhà trường hoạt động có năng suất và hiệu quả hơn
1.3.1.4 Học phần và tín chỉ
Học phần [9, 30] là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của học phần hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều học phần Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định
Có hai loại học phần: Học phần bắt buộc và học phần tự chọn
- Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy
- Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tùy ý để tích lũy đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình
Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận;
Các vấn đề lý luận về phát triển chương trình đào tạo theo CDIO
1.4.1 Các khái niệm về CDIO
CDIO [9] (Conceive – hình thành ý tưởng; Design – thiết kế ý tưởng; Implement – thực hiện; Operate – vận hành) là một giải pháp tổng thể cho toàn bộ quá trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, bao gồm việc xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đào tạo, triển khai chương trình đào tạo và đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo để cải tiến chúng
Chương trình đào tạo [9] là hệ thống các môn học thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức (thái độ), phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của bậc đào tạo Chương trình đào tạo được xây dựng và hoàn thiện theo phương pháp CDIO nhằm đào tạo sinh viên toàn diện cả về kiến thức chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, trong đó nhấn mạnh năng lực thực hành (năng lực CDIO) và ý thức trách nhiệm xã hội, đảm bảo cho sinh viên được học tập chủ động và trải nghiệm thực tiễn
Cũng theo tài liệu này [9], mục tiêu đào tạo theo phương pháp tiếp cận CDIO là trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm và rèn luyện phẩm chất đạo đức để đương đầu với những thách thức chuyên môn luôn phát triển, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, đáp ứng cao yêu cầu của thực tế và thích ứng tốt với môi trường làm việc luôn thay đổi Việc cải tiến, đổi mới các ngành đào tạo về phương pháp đào tạo, cách thức triển khai đào tạo và đánh giá cải tiến dựa trên cơ sở xác định nội dung và mức độ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức toàn diện của sinh viên khi tốt nghiệp
CDIO [30] là một giải pháp tổng thể nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trên cơ sở xác định chuẩn đầu ra để thiết kế chương trình và phương pháp đào tạo theo một quy trình khoa học CDIO là một sáng kiến mới cho giáo dục, là một hệ thống các phương pháp và hình thức tích lũy tri thức, kỹ năng trong việc đào tạo sinh viên để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội
CDIO có ba mục tiêu tổng quát nhằm đào tạo những sinh viên có khả năng: nắm vững kiến thức chuyên sâu hơn về quy tắc cơ bản của kỹ thuật; dẫn đầu trong kiến tạo và vận hành sản phẩm, quy trình và hệ thống mới; hiểu được tầm quan trọng và tác động chiến lược của nghiên cứu và phát triển kỹ thuật đối với xã hội (Hồ Tấn Nhựt, Đoàn Thị Minh Trinh, 2009)
Theo http://www.cdio.org, Vào tháng Giêng năm 2004, Đề xướng CDIO đã tiếp nhận 12 tiêu chuẩn mô tả về các chương trình CDIO Những nguyên tắc hướng dẫn này được phát triển để đáp ứng mong muốn của các nhà lãnh đạo chương trình, cựu sinh viên, và các đối tác doanh nghiệp, làm thế nào để nhận biết được các chương trình CDIO và sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình này Kết quả là, các Tiêu chuẩn CDIO này định nghĩa những đặc điểm riêng biệt của một chương trình CDIO, đóng vai trò như những hướng dẫn cho việc cải cách và kiểm định chương trình đào tạo, xác lập những đối sánh và mục tiêu mang lại sự ứng dụng trên toàn cầu, và cung cấp một khuôn khổ cho sự cải tiến liên tục
Mười hai Tiêu chuẩn CDIO nhắm vào triết lý của chương trình (Tiêu chuẩn 1), sự phát triển chương trình đào tạo (các Tiêu chuẩn 2, 3 và 4), các trải nghiệm thiết kế - triển khai và các không gian làm việc (các Tiêu chuẩn 5 và 6), các phương pháp giảng dạy và học tập mới (các Tiêu chuẩn 7 và 8), phát triển giảng viên (các Tiêu chuẩn 9 và
10), và đánh giá và kiểm định (các Tiêu chuẩn 11 và 12) Trong 12 tiêu chuẩn này, bảy tiêu chuẩn được xem là thiết yếu vì chúng phân biệt các chương trình CDIO với các đề xướng cải cách giáo dục khác Năm tiêu chuẩn phụ (supplementary) hỗ trợ (enrich) cho chương trình CDIO một cách đáng kể và phản ánh những thông lệ thực hành tốt nhất trong giáo dục kỹ thuật
32 Đối với mỗi tiêu chuẩn, phần mô tả giải thích ý nghĩa của tiêu chuẩn, phần cơ sở lý luận nhấn mạnh những lý do đặt ra tiêu chuẩn, và phần minh chứng cung cấp các ví dụ về tài liệu và các sự kiện thể hiện việc tuân thủ tiêu chuẩn Đối với CDIO, đòi hỏi phải xác định rõ các bên liên quan và góc nhìn của họ, từ đó xây dựng chương trình đào tạo một cách tích hợp và theo các tiêu chuẩn đặt ra
Hình 1.9: Các bên liên quan và góc nhìn của học trong CDIO – nguồn www.cdio.org
1.4.3 Các tiêu chuẩn của CDIO trong việc phát tiển CTĐT
Tiếp nhận nguyên lý rằng việc phát triển và triển khai chu trình của sản phẩm, quy trình và hệ thống – Hình thành ý tưởng, Thiết kế, Triển khai, và Vận hành - là bối cảnh của giáo dục kỹ thuật
Mô tả: Một chương trình CDIO được dựa trên nguyên lý rằng sự phát triển và triển khai chu trình vòng đời của sản phẩm, quy trình, và hệ thống là bối cảnh của giáo dục kỹ thuật Hình thành ý tưởng - Thiết kế - Triển khai - Vận hành là một mô hình của toàn bộ vòng đời của sản phẩm, quy trình, và hệ thống
TIÊU CHUẨN 2 – CHUẨN ĐẦU RA [23]
Những chuẩn đầu ra chi tiết, cụ thể đối với những kỹ năng cá nhân và giao tiếp, và những kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình, và hệ thống, cũng như các kiến thức
33 chuyên môn, phải nhất quán với các mục tiêu của chương trình, và được phê chuẩn bởi các bên liên quan của chương trình
Mô tả: Kiến thức, kỹ năng, và thái độ được dự định kết quả đạt được của giáo dục kỹ thuật, nghĩa là, các chuẩn đầu ra, được hệ thống hóa trong Đề cương CDIO Những chuẩn đầu ra này liệt kê đầy đủ những gì sinh viên nên biết và nên có khả năng làm khi kết thúc chương trình kỹ thuật của họ Bên cạnh các chuẩn đầu ra cho kiến thức chuyên ngành kỹ thuật, Đề cương CDIO chỉ rõ các chuẩn đầu ra là những kỹ năng cá nhân và giao tiếp, và kiến tạo sản phẩm, quy trình, và hệ thống Các chuẩn đầu ra Cá nhân tập trung vào việc phát triển nhận thức và cảm tính cho các sinh viên, ví dụ, lập luận kỹ thuật và giải quyết vấn đề, thí nghiệm và khám phá tri thức, suy nghĩ tầm hệ thống, tư duy sáng tạo, tư duy phán xét, và đạo đức nghề nghiệp Các chuẩn đầu ra Giao tiếp tập trung vào những tương tác cá nhân và nhóm, chẳng hạn như, làm việc theo nhóm, tài lãnh đạo, và giao tiếp Các kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình, và hệ thống tập trung vào hình thành ý tưởng, thiết kế, triển khai, và vận hành các hệ thống trong các bối cảnh doanh nghiệp, kinh doanh, và xã hội
Các chuẩn đầu ra được xem xét và phê chuẩn bởi các bên liên quan chính yếu, các nhóm có chung mối quan tâm đến các sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình kỹ thuật, nhằm đảm bảo tính thống nhất với các mục tiêu của chương trình và phù hợp với thực hành kỹ thuật Bên cạnh đó, các bên liên quan giúp xác định trình độ năng lực mong đợi, hay tiêu chuẩn của thành quả, cho từng chuẩn đầu ra
TIÊU CHUẨN 3 – CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍCH HỢP [23]
Một chương trình đào tạo được thiết kế có các khóa học kiến thức chuyên ngành hỗ trợ lẫn nhau, có một kế hoạch rõ ràng trong việc tích hợp các kỹ năng cá nhân và giao tiếp, và kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống