BÀI TẬP 1: A phát hiện ra một cơ hội kinh doanh nhưng muốn một mình làm và hưởng, tuy nhiên muốn hạn chế rủi ro, A thỏa thuận với B cho mượn tên để thành lập 1 công ty TNHH, B lấy 10 triệu đồng rồi cho mượn tên và cam kết sẽ không lấy lãi và không tham dự vào bất kì công việc nào của công ty. Điều lệ của công ty ghi A góp 70% vốn, B góp 30%. Công ty hoạt động được 1 thời gian B đòi chia lãi theo đúng tỉ lệ ghi trong điều lệ. Hỏi: Việc gì sẽ xảy ra khi vụ việc này vỡ lở? TRẢ LỜI: Việc A mượn tên của B để thành lập một công ty TNHH là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 4 và khoản 5, điều 17, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014: “Điều 17. Các hành vi bị nghiêm cấm: 4. Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. 5. Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.” Tại khoản 7 điều 8, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng nêu rõ về các nghĩa vụ của doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp phải “chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó”.
Trang 1Lớp: K56D Khoá: K56 Nhóm: 4
Giảng viên: ThS Lưu Thị Bích Hạnh
BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN: PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
TẾ ĐỐI NGOẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
1 Nguyễn Thị Hồng Anh 1701015030
2 Phan Thị Kiều Duyên 1701015151
3 Võ Thị No En 1701015154
4 Lê Thị Linh Giang 1701015159
5 Hoàng Ngọc Khánh Hà (nhóm trưởng) 1701015174
6 Nguyễn Cửu Bảo Hân 1701015192
7 Nguyễn Văn Hiếu 1701015248
9 Trần Ngọc Lễ 1701015388
10 Nguyễn Mỹ Linh 1701015407
11 Đỗ Anh Phương 1701015667
12 Nguyễn Thị Thanh Thúy 1701015852
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2019
Trang 3BÀI TẬP 1:
A phát hiện ra một cơ hội kinh doanh nhưng muốn một mình làm và hưởng, tuy nhiên muốn hạn chế rủi ro, A thỏa thuận với B cho mượn tên để thành lập 1 công ty TNHH, B lấy 10 triệu đồng rồi cho mượn tên và cam kết sẽ không lấy lãi và không tham
dự vào bất kì công việc nào của công ty Điều lệ của công ty ghi A góp 70% vốn, B góp 30% Công ty hoạt động được 1 thời gian B đòi chia lãi theo đúng tỉ lệ ghi trong điều lệ Hỏi: Việc gì sẽ xảy ra khi vụ việc này vỡ lở?
TRẢ LỜI:
Việc A mượn tên của B để thành lập một công ty TNHH là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 4 và khoản 5, điều 17, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014:
“Điều 17 Các hành vi bị nghiêm cấm:
4 Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
5 Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.”
Tại khoản 7 điều 8, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng nêu rõ về các nghĩa vụ của
doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp phải “chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó”.
Như vậy, trường hợp vụ việc trên bị vỡ lở, công ty TNHH phải kịp thời sửa đổi các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hoặc các thành viên phải góp đủ và đúng như số vốn đã kê khai trong Điều lệ công ty
Về chế tài xử lí sai phạm trên, khoản 1 điều 24, Nghị định 50/2016/NĐ-CP do
Chính phủ ban hàng ngày 01/06/2016 có quy định rõ: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp.”
Như vậy mức phạt dành cho doanh nghiệp của A trong trường hợp này là từ 10 triệu đến 15 triệu đồng, đồng thời doanh nghiệp của A cũng phải chấp hành biện pháp
khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 2, điều 24 nghị định trên: “Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký thay đổi và thông báo lại các thông tin doanh nghiệp đã kê khai không trung thực, không chính xác.”
Mặt khác, giữa A và B cũng đã xác lập một giao định dân sự, theo đó, B nhận của
A mười triệu đồng và cam kết cho A mượn tên để thành lập công ty TNHH, đồng thời sẽ không lấy lãi và không tham dự vào bất kì công việc nào của công ty Tuy nhiên, B đã
Trang 4phá vỡ cam kết khi B đòi được chia lãi theo đúng tỉ lệ ghi trong điều lệ (30% vốn điều lệ) Như đã phân tích ở trên, hành vi của A mượn tên B để thành lập công ty là hành vi bị cấm theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, điều này cũng dẫn đến việc giao dịch dân sự giữa A và B sẽ bị vô hiệu như quy định ở Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015:
“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.”
Căn sứ quy định tại Điều 131, Bộ luật dân sự 2015 về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì A và B có nghĩa vụ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Theo đó có hai trường hợp có thể xảy ra:
Trường hợp thứ nhất, B có nghĩa vụ phải trả lại số tiền 10 triệu đồng cho A và có
tư cách buộc A phải xóa tên mình khỏi Điều lệ thành lập công ty, khi đó B không có quyền được chia lãi từ kết quả hoạt động của công ty, còn A phải tiến hành đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ (nếu có) và thay đổi loại hình doanh nghiệp, điều này cũng đồng nghĩa với việc A phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với các chế tài của pháp luật khi thực hiện sai phạm về kê khai hồ sơ thành lập doanh nghiệp
Trường hợp thứ hai, B hoàn trả lại số tiền 10 triệu đồng cho A và thực hiện góp
vốn như điều lệ công ty quy định
Khoản 2, điều 48, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định rõ như sau:
“Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của
đa số thành viên còn lại Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp.”
Như vậy:
- Nếu B đóng đủ số vốn cam kết góp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì B có quyền được chia lãi như quy định tại điều lệ công ty Điều này đồng nghĩa với việc B sẽ chịu trách nhiệm tương ứng với tỉ lệ vốn góp đối với các chế tài xử phạt của pháp luật cho các sai phạm trước đó
- Nếu trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu B không đóng đủ số vốn cam kết góp thì công ty thực hiện việc điều chỉnh vốn điều lệ; quyền lợi được hưởng và trách nhiệm phải chịu của B được tính dựa trên phần vốn góp thực tế
Trang 5- Nếu trong thời hạn 90 ngày kết từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà B không thực hiện việc góp vốn thì B bị tước tư cách thành viên công ty
và không được chia lãi suất
Trách nhiệm của doanh nghiệp trong các trường hợp trên là phải thực hiện đúng như quy định của pháp luật tại khoản 4 điều 48, Luật Doanh nghiệp 2014:
“Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo khoản 2 Điều này Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.”
(- hồ sơ chưa chính xác, trung thực ( mượn tư cách chủ thể của bên kia có cam kết
- hậu quả pháp lý -> rút giấy CNDKKD - điều 211 luật doanh nghiệp 2014
- có góp vốn không? Chứng từ chứng minh đ48- trong vòng 90 ngày không góp đủ vốn -> không còn là thành viên công ty -> do không góp đủ vốn)
BÀI TẬP 2:
Năm 2016, ông A, B, C, D cùng góp vốn thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn
E 10/2016, Công ty E tách ra thành Công ty E và Công ty F, ông A và ông B là thành viên Công ty E, ông C và ông D và ông G (thành viên góp vốn mới) là thành viên của Công ty F 11/2016, Công ty Y yêu cầu Công ty E phải thanh toán khoản nợ 2 tỉ VNĐ đã vay vào 01/2016, Công ty E thanh toán cho Công ty Y 1 tỉ vì tổng tài sản chỉ còn 1 tỉ và tuyên bố giải thể Công ty Y yêu cầu Công ty F phải liên đới trả nợ nhưng Công ty F từ chối vì cho rằng Công ty F là một pháp nhân độc lập với Công ty E nên hoàn toàn không
có trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty E
TRẢ LỜI:
Công ty F từ chối trách nhiệm của khoản nợ là sai Vì theo Khoản 5 điều 193 “
Tách doanh nghiệp” Luật Doanh nghiệp 2014 ghi rõ: “ Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hơp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách khỏi thỏa thuận khác”
Theo đó, khoản vay này tồn tại từ tháng 1/2016 mà đến tháng 10/ 2016 công ty E
và F mới tách ra, số nợ này chưa thanh toán trước khi tách nên cả E và F phải liên đới chịu trách nhiệm, trong trường hơp giữa E và F không có thỏa thuận khác
Trang 6(- hợp đồng tổ chức lại doanh nghiệp -> tách dn -> quyền … thông báo nợ đến các chủ nợ trong vòng 15 ngày -> liên đới chịu trách nhiệm giữa các công ty trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác (đ192-193)
BÀI TẬP 3:
Công ty trách nhiệm hữu hạn A có hai thành viên góp vốn là ông Vũ và ông Quang Theo điều lệ, ông Vũ là người đại diện theo pháp luật của Công ty Ngày 20/8/17
là ngày Công ty giao kết kí kết hợp đồng 02 với Công ty trách nhiệm hữu hạn B Ngày 19/8/17, ông Vũ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị tạm giam Do đó ông Quang thay ông Vũ đại diện kí kết hợp đồng kinh tế 02 Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do không thể giao hàng đúng hạn nên Công ty trách nhiệm hữu hạn A đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng Công ty B yêu cầu Công ty A bồi thường thiệt hại và phạt hợp đồng theo nội dung Hợp đồng nhưng Công ty A cho rằng Hợp đồng kinh tế số 02 vô hiệu do ông B không có thẩm quyền kí kết Hợp đồng kinh tế 02
Anh (chị) hãy giải quyết tình huống trên
TRẢ LỜI:
Theo Khoản 6 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 về Người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp: “Đối với công ty TNHH có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi
cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty”
Do đó, tình huống này đương nhiên ông Quang trở thành người đại diện mới khi người đại diện trước là ông Vũ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị tạm giam Ông Quang có đầy đủ quyền và trách nhiệm hành vi quyết định của mình theo Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2014, tức là hợp đồng 02 hoàn toàn có hiệu lực
Theo điều 310 của Luật Thương mại 2015 về đình chỉ thực hiện hợp đồng: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của luật này, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên thực hiện chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng, (2) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
Theo đó, nếu bên B chứng minh được việc chậm trễ giao hàng xuất phát từ các trường hợp miễn trách nhiệm thuộc Điều 294 luật này thì bên A không có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng, nếu đơn phương đình chỉ hợp đồng thì bên B có quyền đòi bồi thường thiệt hại và vi phạm theo nội dung hợp đồng Ngược lại, nếu bên B không chứng
Trang 7minh được và hợp đồng có ghi rõ giao hàng trễ là điều kiện để đình chỉ hợp đồng thì bên
A có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng Nếu hợp đồng không quy định thì bên A chứng minh được việc giao hàng trễ của bên B là vi phạm nghĩa vụ cơ bản cuả hợp đồng thì bên A mới có quyền đình chỉ hợp đồng
Giải quyết: Bên A lập luận ông Quang không có thẩm quyền ký kết hợp đồng là sai
vì hợp đồng hoàn toàn có hiệu lực Nếu bên A không chứng minh được việc giao hàng trễ của bên B là vi phạm nghĩa vụ cơ bản và hợp đồng cũng không quy định điều kiện đình chỉ bao gồm hàng giao không đúng hạn, thì bên B hoàn toàn có quyền đòi bồi thường thiệt hại và phạt hợp đồng theo nội dung đã quy định trong hợp đồng
(- là hợp đồng phải do ng đại diện theo pl kí kết, trc 1 ngày ng đại điện bị tạm giam,
ng còn lại đại diện ký mà k cần uý quyền (khoản 6 điều 13 Luật DN 2014) -> hợp đồng không bị vô hiệu
- không giao hàng -> vi phậm HĐ -> yêu cầu phạt nếu trong HĐ có thoả thuận, và bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra)
BÀI TẬP 4:
Hợp đồng số 10 giữa Doanh nghiệp tư nhân M và Công ty trách nhiệm hữu hạn A
do hai cá nhân góp vốn thành lập từ năm 2016 Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì xảy ra các trường hợp sau đây Anh (chị) hãy xử lý các tình huống đó theo pháp luật :
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn A liên doanh với Công ty cổ phần quốc tịch Trung Quốc để lắp ráp xe máy Trung Quốc tại Việt Nam
2 Công ty A giải thể
3 Giám đốc Công ty A bị tòa án có thẩm quyền kết án tù và tước quyền hành nghề kinh doanh
TRẢ LỜI:
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn A liên doanh với Công ty cổ phần quốc tịch Trung Quốc để lắp ráp xe máy Trung Quốc tại Việt Nam:
Liên doanh sẽ tạo ra một doanh nghiệp mới độc lập so với 2 doanh nghiệp ban đầu, đồng thời cũng không làm mất tư cách pháp nhân của 2 công ty liên doanh, nghĩa là công ty TNHH A vẫn đơn phương phải chịu những trách nhiệm đã có khi kí kết hợp đồng số 10
2 Công ty A giải thể:
Theo Khoản 2, Điều 201, Luật doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp.”
Trang 8Như vậy, Công ty A có nghĩa vụ phải thực hiện xong hợp đồng số 10 với doanh nghiệp M thì mời được phép giải thể Tuy nhiên, nếu hai bên có thoả thuận khác thì có thể tiến hành thanh lý hợp đồng trước thời hạn để chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau Sau
đó công ty A có thể tiến hành giải thể
Ngoài ra, trong Khoản 1, Điều 205, Luật doanh nghiệp 2014: “Kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây:
e) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;”
Như vậy, trường hợp đã có quyết định giải thể doanh nghiệp, công ty A vẫn không được quyền chấm dứt việc thực hiện hợp đồng số 10
3 Giám đốc công ty A bị toà án có thẩm quyền kết án tù và tước quyền hành nghề kinh doanh:
a Trong trường hợp Giám đốc là thành viên góp vốn kiêm vai trò là người đại diện
theo pháp luật của công ty, căn cứ theo khoản 6, điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014: “Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.” - thì người này sẽ bị tước quyền hành
nghề kinh doanh, thành viên còn lại sẽ là người đại diện cho đến khi Hội đồng thành viên
có quyết định mới về người đại diện tiếp theo, công ty A sẽ tiếp tục hoạt động và hợp đồng số 10 tiếp tục được thực hiện
b Nếu Giám đốc công ty A không phải là 1 thành viên góp vốn và được thuê về để điều hành công ty thì căn cứ theo Khoản 1, Điều 65 Luật doanh nghiệp 2014 về tiêu
chuẩn và điều kiện làm Giám đốc, Tổng giám đốc - “ Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều
18 của Luật này” - người này không có đủ tiêu chuẩn để đảm nhiệm chức vụ trên Cụ thể theo điểm e, khoản 2, Điều 18, Luật Doanh nghiệp 2014, cá nhân này là “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù”, và “đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án;”
Trường hợp này, chiếu theo điểm đ khoản 2 điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014, Hội đồng thành viên có quyền “bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt Hợp đồng với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc”, tức là HĐTV có quyền chọn hoặc thuê một Giám đốc mới, khi đó Hợp đồng số 10 ký với doanh nghiệp M vẫn có giá trị hiệu lực và công ty
A vẫn phải thực hiện những nghĩa vụ trong hợp đồng
Trang 9Căn cứ theo điều 142 Luật Dân sự khoản 1: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a Người được đại diện đã công nhận giao dịch;”
Vì trước đó giám đốc công ty A là người nhân danh công ty để ký hợp đồng và công ty A cũng đã công nhận giao dịch, cho nên việc giám đốc bị kết án tù và tước quyền hành nghề kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng
(- việc liên doanh k làm mất tư cách chủ thể của doanh nghiệp A, chỉ mở rộng phạm
vi kinh doanh –> vẫn thực hiện HĐ bình thường
- muốn giải thể, theo thủ tục dn phải thông báo đến các bên trong hợp đồng để thoả thuận cách giải quyết nếu giải thể thì HĐ chấm dứt, các nvu lquan đến HĐ phải đc thanh toán trc khi giải thể
- hai trg hợp: trg hợp là ng đại diện theo pl -> hđ vẫn k bị ảnh hưởng, tư cách chủ thể của cty không thay đổi, trg hợp còn lại …)
BÀI TẬP 5:
Giang, Hoa, Hà, Thảo cùng thỏa thuận thành lập công ty TNHH Phương Thảo để kinh doanh khách sạn, nhà hàng và dịch vụ vui chơi giải trí với vốn điều lệ là 5 tỷ đồng Công ty Phương Thảo được Phòng ĐKKD thành phố N cấp giấy CNĐKKD vào 10/01/2015
Theo điều lệ công ty được các thành viên thỏa thuận thông qua thì Giang góp 2 tỳ đồng (chiếm 40%) vốn điều lệ, Hoa, Hà, Thảo góp mỗi người 1 tỷ đồng (mỗi thành viên chiếm 20% vốn điều lệ) Cũng theo điều lệ thì Giang làm GĐ công ty kiêm CTHĐTV, Hoa làm PGĐ công ty, Hà làm Kế toán trưởng, nội dung khác của điều lệ tương tự quy định của LDN
Đầu 2016, Giang với tư cách là CTHĐTV đã quyết định triệu tập cuộc họp HĐTV công ty vào ngày 20/01/2016 để thông qua báo cáo tài chính năm, kế hoạch phân chia lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh năm 2016, giấy mời họp được gửi đến tất cả thành viên trong công ty
Do bất đồng trong điều hành công ty với Giang nên Hoa không tham dự cuộc họp HĐTV, Thảo bận công tác xa nên đã gọi điện thông báo vắng mặt và qua đó ủy quyền cho Giang bỏ phiếu cho mình Ngày 20/01/2016, Giang và Hà đã tiến hành cuộc họp HĐTV
và đã bỏ phiếu thông qua báo cáo tài chính năm của công ty kế hoạch phân chia lợi nhuận
và kế hoạch kinh doanh năm 2016
Sau cuộc họp HĐTV này, Hoa đã gửi văn bản tới các thành viên khác trong công
ty phản đối kế hoạch phân chia lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh năm 2016 vừa được thông qua Quan hệ giữa Hoa và các thành viên khác trong công ty trở nên rất căng thẳng
Trang 10Trước tình hình này, Giang gửi đơn triệu tập cuộc họp HĐTV vào ngày 10/03/2016 với mục đích “nhằm giải quyết một số vấn đề phát sinh” trong công ty, giấy triệu tập cuộc họp này Giang không gửi cho Hoa vì Giang cho rằng có gửi thì Hoa cũng không tham dự
Tại cuộc họp HĐTV này, Giang, Hà, Thảo đã biểu quyết thông qua việc khai trừ Hoa ra khỏi công ty và giảm vốn điều lệ tương ứng với phần vốn góp của Hoa Vốn điều
lệ này các bên nhất trí sẽ hoàn trả lại choc ho Hoa Quyết định này cùng với bIên bản cuộc họp HĐTV ngày 10/3/2016 đã được gửi cho Hoa và Phòng ĐKKD, phòng ĐKKD N căn cứ biên bản cuộc họp HĐTV này để cấp GCNĐKKD thay đổi với nội dung
là giảm số thành viên từ 4 còn 3 thành viên và giảm vốn điều lệ công ty còn 4 tỷ đồng
Nhận được quyết định này, Hoa làm đơn kiện lên TAND thành phố N yêu cầu bác
2 cuộc họp HĐTV vì không hợp pháp, kiện các thành viên công ty vì quyết định khai trừ Hoa ra khỏi công ty, kiện phòng ĐKKD thành phố N về việc cấp GCĐKKD thay đổi cho công ty Phương Thảo
Yêu cầu của Hoa có cơ sở chấp nhận không? Vì sao?
TRẢ LỜI:
1 Giang có quyền triệu tập cuộc họp Hội đồng thành viên theo Khoản 1 Điều 58 Luật Doanh nghiệp 2014 :
''Hội đồng thành viên được triệu tập họp theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hoặc nhóm thành viên quy định tại khoản 8 và khoản 9 Điều 50 của Luật này Cuộc họp của Hội đồng thành viên phải được tổ chức tại trụ sở chính của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác "
- Việc không tham gia cuộc họp của Hoa là không hợp pháp, theo khoản 3 Điều 59
Luật Doanh nghiệp 2014:
"Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên phải tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên Thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên, hình thức biểu quyết do Điều lệ công ty quy định."
- Thảo không thể ủy quyền cho Giang qua điện thoại được, việc ủy quyền phải
được tiến hành bằng văn bản theo Khoản 1 Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2014 :
"Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức phải
là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này."
- Ngày 20/01/2016, Giang và Hà đã tiến hành cuộc họp Hội đồng thành viên và đã
bỏ phiếu thông qua báo cáo tài chính hàng năm của công ty, kế hoạch phân chia lợi nhuận
và kế hoạch kinh doanh năm 2016 Cuộc họp trên là không hợp pháp vì :" Cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định." - Khoản 1 Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2014,