Cho đến nay, các nhà nghiên cứu cho biết, lạm phát ở Việt Nam hầu hết bắt nguồn từ CSTT. Sự gia tăng cung tiền liên tục từ những CSTT mở rộng là một trong nguyên nhân chủ yếu gây lên hiện tượng lạm phát. Tuy nhiên CSTT cũng là một công cụ hiệu quả trong tay chính phủ nhằm kiểm soát ổn định lạm phát. Chính từ những lý do trên, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:” Tác động kiềm chế lạm phát của CSTT (giai đoạn 2008-2018)” để lạm rõ NHNN đã sử dụng CSTT đưa lạm phát ở mức 2 con số những năm 2007-2008 về mức một con số và ổn định trong giai đoạn hiện nay. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài được tiến hành nghiên cứu bằng cách đưa ra các lý lẽ và phân tích các dẫn chứng cụ thể nhằm hướng đến mục tiêu thể hiện rõ sự tác động của CSTT quốc gia (Việt Nam) với những công cụ của mình tới một trong những hiện tượng kinh tế phổ biến nhất cũng như gây ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế là Lạm phát. Cụ thể hơn là tác động kiềm chế lạm phát của CSTT. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu - Lạm phát ở Việt Nam từ năm 2008-2018 - Các CSTT của Chính phủ và tác động của nó tới lạm phát. Phạm vi nghiên cứu - CSTT và lạm phát tại Việt Nam. - Số liệu được thu thập, nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2018.do Tổng cục thống kê, Ngân hàng nhà nước và Bộ tài chính chính thức ban hành. 4. PHƯƠNG THỨC NGHIÊN CỨU Trong quá trình nghiên cứu, các phương thức nghiên cứu được sử dụng: - Nghiên cứu định tính: thu thập và xử lý dữ liệu - Nghiên cứu định lượng: thống kê, mô tả và so sánh số liệu 5. KẾT CÂU ĐỀ TÀI Nội dung của đề tài nghiên cứu được chia làm 2 chương chính: Chương 1: Khái quát các vấn đề lý thuyết về CSTT và lạm phát. Chương 2: Thực trạng CSTT trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam (2008-2018)
Trang 1VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU:
TÁC ĐỘNG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở
VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2008-2018)
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN MINH THÔNG LỚP ĐỀ ÁN: ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ (119)_2 LỚP CHUYÊN NGÀNH: NGÂN HÀNG 59C
MÃ SINH VIÊN: 11174480 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
HÀ NỘI -2019
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT……… … 4 DANH SÁCH BẢNG BIỂU……….… 4
3 Đối tượng nghiện cứu và phạm vi nghiên cứu……….… 6
4 Phương thức nghiên cứu ……… ………
…… 8 1.1.4 Phân loại CSTT……….
……… 10
CSTT……… 10 1.2 Lạm phát ……….…
14
1.2.1 Khái niệm của lạm phát……… ………14
phát……….14 1.2.3 Phân loại lạm phát……….………… 15
1.2.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát ………
17
Trang 31.3 Tác động của CSTT tới lạm phát………
……….19
1.3.1 Mục tiêu chính của CSTT là kiểm soát lạm phát……….
….19 1.3.2 Cách các công cụ của CSTT tác động đến lạm
phát……….20Chương 2: Thực trạng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
(2008-2018)2.1 Thức trạng lạm phát Việt Nam………22 2.2 CSTT của Việt Nam……….….25 2.3 Tác động kiểm soát lạm phát của CSTT ở Việt Nam (2008-2018)…
26 2.3.1 Cách thức CSTT tác động đến lạm phát………… …… 26 2.3.2 Hiệu quả kiểm soát lạm phát của
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM: Ngân hàng thương mại
- Biểu đồ 1: Đồ thị lạm phát Việt Nam (theo năm) từ 2008-2018 (Trang 22)
- Biểu đồ 2: Diễn biến lãi suất 6 tháng đầu năm 2008 (Trang 28)
- Biểu đồ 3: Lãi suất điều hành trong năm 2012 (Trang 30)
- Biểu đồ 4: Sự tương quan giữ lạm phát mục tiêu và lạm phát thực tế (theo năm) từ 2007-2018 (Trang 33)
- Biểu đồ 5: Sự tương quan giữa tốc độ tăng cung tiền M2 và lạm phát thực tế theo năm từ 2007-2018 (Trang 35)
Trang 5A LỜI NÓI ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, nền kinh tế của một quốc gia vận hành đã tạo ra cũngnhư chịu ảnh hưởng bởi nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội khác nhau Các hiệntượng kinh tế - xã hội đó đều có những tác động riêng biệt và đa chiều bao gồm cả
các tác động tiêu cực lẫn tích cực Một trong số đó là Lạm phát.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế quan trọng và tác động mạnh mẽ đến
nền kinh tế Không một quốc gia nào là ngoại lệ với lạm phát trong quá trình xâydựng và phát triển Lạm phát được coi như động lực phát triển của một nền kinh tế.Nếu lạm phát chỉ dừng lại ở mức độ thấp và kiểm soát được sẽ thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, nhưng nếu tỉ lệ lạm phát tăng cao và liên tục vượt ngoài tầm kiểmsoát sẽ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng: suy thoái kinh tế, sức muađồng tiền giảm, nền kinh tế bị đình trệ,….Để kiểm soát được lạm phát thì mỗi quốcgia phải có những chính sách hợp lý, kịp thời và khôn ngoan mới có thể ngăn chặncác tình huống xấu mà lạm phát có thể gây ra
Trong suốt quá trình hơn 30 năm đổi mới xây dựng nền kinh tế xã hội chủnghĩa, Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến cố kinh tế, những giai đoạn khủng hoảng
và lạm phát tăng cao ngoài tầm kiểm soát Năm 1985, lạm phát Việt Nam ởngưỡng 3 con số (hơn 700%) Bắt đầu từ năm 1986 nước ta tiến hành cải cách nềnkinh tế, tỷ lệ lạm phát được cải thiện về mức 2 con số và duy trì đến đầu nhữngnăm 90 Bước sang thế kỉ XXI, những năm 2004-2005 đã nhen nhóm báo hiệu lạmphát có nguy cơ bùng nổ khi lạm phát năm 2004 lên tới 9,5% gần chạm ngưỡng 2
Trang 6con số Đến nhưng năm 2007-2008, ảnh hưởng của “bong bóng” bất động sản của
Mỹ đã châm ngòi cho khủng hoảng kinh tế toàn cầu Lạm phát Việt Nam năm 2007
là 12,5% và cao nhất là năm 2008 lên tới 23,12% Thời kì hậu khủng hoảng, lạmphát ở Việt Nam đã được kiềm chế và đã có xu hướng giảm mạnh Tuy nhiên ởnăm 2011, lạm phát Việt Nam vẫn ở mức (18,68%) do ảnh hưởng của sự gia tăngCPI ở mức cao Tuy nhiên ở những năm 2012 đến nay, chỉ số lạm phát ở Việt Nam
xu hướng giảm dần và ổn định hơn Có thể thấy nhờ những kinh nghiệm và bài họcrút ra từ các sự kiện kinh tế trong nước và trên thế giới, chính phủ đã đưa ra nhữnggiải pháp cụ thể, cấp thiết và hiệu quả nhằm kiểm soát lạm phát
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu cho biết, lạm phát ở Việt Nam hầu hết bắtnguồn từ CSTT Sự gia tăng cung tiền liên tục từ những CSTT mở rộng là mộttrong nguyên nhân chủ yếu gây lên hiện tượng lạm phát Tuy nhiên CSTT cũng làmột công cụ hiệu quả trong tay chính phủ nhằm kiểm soát ổn định lạm phát
Chính từ những lý do trên, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:” Tácđộng kiềm chế lạm phát của CSTT (giai đoạn 2008-2018)” để lạm rõ NHNN đã sửdụng CSTT đưa lạm phát ở mức 2 con số những năm 2007-2008 về mức một con
số và ổn định trong giai đoạn hiện nay
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành nghiên cứu bằng cách đưa ra các lý lẽ và phân tích
các dẫn chứng cụ thể nhằm hướng đến mục tiêu thể hiện rõ sự tác động của CSTT
quốc gia (Việt Nam) với những công cụ của mình tới một trong những hiện tượng
kinh tế phổ biến nhất cũng như gây ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế là Lạm phát.
Cụ thể hơn là tác động kiềm chế lạm phát của CSTT.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Lạm phát ở Việt Nam từ năm 2008-2018
- Các CSTT của Chính phủ và tác động của nó tới lạm phát.
Phạm vi nghiên cứu
- CSTT và lạm phát tại Việt Nam.
- Số liệu được thu thập, nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2018.do Tổng cục
thống kê, Ngân hàng nhà nước và Bộ tài chính chính thức ban hành
4 PHƯƠNG THỨC NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, các phương thức nghiên cứu được sử dụng:
- Nghiên cứu định tính: thu thập và xử lý dữ liệu
Trang 7- Nghiên cứu định lượng: thống kê, mô tả và so sánh số liệu
5 KẾT CÂU ĐỀ TÀI
Nội dung của đề tài nghiên cứu được chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Khái quát các vấn đề lý thuyết về CSTT và lạm phát.
Chương 2: Thực trạng CSTT trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam (2008-2018)
Trang 8B.NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát các vấn đề lý thuyết về CSTT và lạm phát
1.1 Tổng quan về CSTT
1.1.1 Khái niệm về CSTT
CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụ của mình, NHNN
chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất (lãi suất liên ngân hàng mục tiêu) nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội đề ra.
1.1.2 Vai trò của CSTT
CSTT có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết khối lượng tiền lưuthông trong toàn bộ nền kinh tế Thông qua CSTT của NHNN có thể kiểm soátđược hệ thống tiền tệ, để từ đó kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua củađồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặt khác CSTT còn là công cụ để kiểmsoát toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
1.1.3 Mục tiêu của CSTT hướng đến
Tạo ra công ăn việc làm
CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hiệuquả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệthất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải chấp nhậnmột tỷ lệ lạm phát tăng một cách tương đối Tình hình đó đặt ra cho NHNN tráchnhiệm là phải vận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường mở rộng đầu tưsản xuất kinh doanh đồng thời phải tham gia tích cực vào sự tăng trưởng liên tục
và ổn định khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá mức tăng thất nghiệp tựnhiên
Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của CSTT Sựtăng trưởng kinh tế thông qua hai yếu tố: Lãi suất và tổng cầu Khối tiền tệ tănghay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và tổng cầu, từ đó tác động đến sự giatăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức là
Trang 9tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế Bởi vậy CSTT phải nhằm vào mụctiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp.
Ổn định giá cả
Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
Ổn định giá cả giúp cho Nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển kinh
tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động của giá cả Ổn định giá
cả giúp cho môi trường đầu tư ổn định góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thác mọinguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp cũng như các cá nhân sản xuất đemlại nguồn lợi cho mình cũng như xã hội
Ổn định lãi suất
Mong muốn có một sự ổn định lãi suất vì những biến động của lãi suất làmcho nền kinh tế biến động và khó lập kế hoạch cho tương lai Vì vậy, ổn định lãisuất chính là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh toán, cho nềnkinh tế quốc dân thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ chovay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềmdẻo phải linh hoạt, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường
Ổn định thị trường tài chính
Việc ổn định thị trường tài chính là mục tiêu rất quan trọng trong công tácđiều hành nền kinh tế của mỗi chính phủ, ổn định thị trường tài chính cũng đượcthúc đẩy bởi sự ổn định lãi suất bởi vì biến động trong lãi suất có thể gây nên sựmất ổn định cho các tổ chức tài chính Trong những năm gần đây những biến độngmạnh của lãi suất là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với các hiệp hội tiếtkiệm và cho vay đã gặp khó khăn về tài chính như chúng ta đã biết
Ổn định thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối là thị trường mà ở đó tiền tệ của các nước khác nhauđược đem ra trao đổi với nhau, chính tại thị trường này tỷ giá hối đoái được xácđịnh Việc tỷ giá ổn định không chỉ có tác động tích cực do một phần vốn đầu tư
Trang 10USD trước đây có thể chuyển vào thị trường chứng khoán để “đánh sóng” mà nócòn có ý nghĩa rất lớn đối với việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài.Chính sách tỷ giá luôn là một yếu tố vĩ mô quan trọng để nhà đầu tư nước ngoàixem xét khi họ có ý định đầu tư vào Việt Nam Sự biến động của tỷ giá sẽ ảnhhưởng đến sức mua của đồng tiền, từ đó tác động ít hay nhiều đến hoạt động củanền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế đó.
1.1.4 Phân loại CSTT
CSTT có hai loại: CSTT mở rộng và CSTT thắt chặt Tùy theo tình hình
hoạt động của nền kinh tế và các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã được đặt ra trong mỗithời kỳ phát triển của nền kinh tế xã hội mà NHNN có thể thực hiện một trong haichính sách đó
CSTT mở rộng: thực chất là NHNN ở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế,
làm cho lãi suất giảm xuống qua đó làm tăng tổng cầu, nhờ vậy mà quy mô củanền kinh tế được mở rộng, thu nhập tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm Để mở rộngđược mức cung tiền, thực hiện CSTT mở rộng, NHNN có thể thực hiện một trong
ba cách sau: mua vào trên thị trường chứng khoán, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạthấp mức lãi suất chiết khấu, hay thực hiện đồng thời cả hai hoặc ba cách cùng lúc
Khi thực hiện CSTT thắt chặt, NHNN tác động nhằm giảm bớt mức cung
tiền trong nền kinh tế, làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên Thông qua đó, nóthu hẹp được tổng cầu, làm mức giá chung giảm xuống Thực thi chính sách này,NHNN sử dụng các biện pháp làm giảm mức cung tiền bằng cách: bán ra trên thịtrường chứng khoán, tăng mức dự trữ bắt buộc, hoặc tăng lãi suất chiết khấu, kiểmsoát khắt khe đối với các hoạt động tín dụng…
Thông thường CSTT thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có mức tăngtrưởng quá cao, nền kinh tế đó đang ở tình trạng “quá nóng”, lạm phát có nguy cơbùng nổ Trái lại CSTT mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế suy thoái hoặc cómức tăng trưởng quá thấp
1.1.5 Các công cụ của CSTT
1.1.5.1 Nhóm công cụ gián tiếp
Đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào các mục tiêu hoạt động củaCSTT, ví dụ tổng dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị
Trang 11trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bac, thông qua cơ chế thị trường
mà tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cungứng và lãu suất thị trường Các NHNN thường có sẵn trong tay 3 công cụ để điềutiết cung ứng tiền và lãi suất đó là:
Nghiệp vụ thị trường mở
Các nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT quan trọng nhất, bởi vì chúng
là những nhân tố chủ yếu làm thay đổi lãi suất và tiền cơ sở, là nguồn chủ yếulàm thay đổi cung tiền Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở không tác động trựctiếp mà tác động gián tiếp thông qua lãi suất liên ngân hàng và tiền cơ sở đếncung tiền và lãi suất thị trường
*Cơ chế tác động
- Khi NHNN mua chứng khoán tạo ra các hiệu ứng:
Lãi suất liên ngân hàng giảm ngay lập tức, qua đó tác động làm cho lãisuất thị trường ngắn hạn giảm theo
Dự trữ của hệ thống ngân hàng tăng ngay lập tức, qua đó làm tăng tiền
cở sở Tiền cơ sở tăng, thông qua cơ chế tạo tiền gửi, làm cung tiền tăng
- Khi NHNN bán chứng khoán tạo ra các hiệu ứng:
Lãi suất liên ngân hàng tăng ngay lập tức, qua đó tác động làm lãi suấtngắn hạn thị trường tăng theo
Dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm ngay lập tức, qua đó làm giảm trên
cơ sở Tiền cơ sở giảm, thông qua cơ chế tạo tiền gửi, làm cho cung tiềngiảm xuống
Như vậy, thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, NHNN có khả năng kiểmsoát được lãi suất thị trường ngắn hạn và cung tiền trong nền kinh tế
Tín dụng chiết khấu
Chính sách chiết khấu thể hiện bằng quy chế cho vay của NHNN đối với cácNHTM Quy chế bao gồm những nội dung và điều kiện cho vay ngắn hạn dướihình thức chiết khấu các giấy tờ có giá do các NHTM đưa đén Mục đích vaychiết khấu của NHTM chủ yếu là để bù đắp thiếu hụt tạm thời nhu cầu thanh
Trang 12toán hoặc thiếu hụt dự trữ bắt buộc Những thay đổi trong chính sách chiết khấucủa NHNN sẽ tác động đến khối lượng vay chiết khấu của các NHTM, từ đóảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường.
*Cơ chế tác động:
NHNN thay đổi lãi suất chiết khấu và hạn mức chiết khấu, qua đó ảnhhưởng đến các hoạt động đi vay của các NHTM như sau:
- Hạn mức chiết khấu: Dự trữ bổ sung của các NHTM có thể bị thu hẹp hoặc
nới rộng phụ thuộc vào hạn mức chiết khấu của NHNN, từ đó ảnh hưởngđến khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM, làm thay đổi lượng tiền cungứng Mặt khác, khi cung tiền thay đổi sẽ tác động làm cho lãi suất thị trườngthay đổi
- Lãi suất chiết khấu: Khi NHNN tăng lãi suất chiết khấu, làm tăng chi phí
đay cay của NHTM, để kinh doanh có lãi, NHTM phải tăng lãi suất cho vaynền kinh tế, từ đó làm giảm nhu cầu tín dụng Ngoài ra, khi lãi suất chiếtkhấu tăng, chi phí đi vay tăng buộc các NHTM hạn chế vay NHNN Để hồiphục dự trữ, các NHTM phải giảm cung ứng tín dụng, khiến lãi suất thịtrường tăng
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM phỉa duy trì trên tài khoản tiền gửitại NHNN, được xác định bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc trên tổng số dư tiền gửitrong một khoảng thời gian nhất định Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy địnhkhác nhau cho các thời hạn tiền gửi, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM
Do đó, cách quản lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của công cụ dự trữ bắtbuộc
*Cơ chế tác động:
Khi NHNN thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tác động làm thay đổi lượng dựtrữ bắt buộc, qua dó tác động đến cung tiền và lãi suất
Trang 13- Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, ngay lập tức dự trữ vượt mức của hệ thốngngân hàng giảm, làm quy mô cho vay của hệ thống ngân hàng, làm giảmquy mô tiền gửi, và cuối cùng là cung tiền giảm.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là bộ phận cấu thành maaix số của hệ số nhân tiền Vìthế khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, là giảm hệ số nhân tiền, làm giảm khảnăng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm tăng cầu dự trữ của các NHTM Trong điều kiệncung dự trữ không đổi, sự tăng cầu dự trữ làm tăng lãi suất liên ngân hàng,
từ đó dẫn đến tăng các mức lãi suất trên thị trường, giảm khối lượng cungtiền
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, làm tăng chi phí đầu vào cho NHTM, để cho vay
có lãi, buộc NHTM phải tăng lãi suất cho vay
1.1.5.2 Nhóm công cụ trực tiếp
Công cụ trực tiếp là các mệnh lệnh tác động trực tiếp vào cung tiền tệ và lãisuất Với các cơ chế thị trường ngày càng phát triển và hoàn thiện thì các công cụnày hầu như không còn vai trò là công cụ của CSTT nữa
Do là mệnh lệnh hành chính nên công cụ này tỏ ra không hiệu quả, thiếulinh hoạt, giảm tính ưu việt của thị trường, đặc biệt là khi các hạn mức được ấnđịnh không phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thì công cụ hạn mức không
Trang 14những không phát huy tác dụng mà còn là nhân tố cản trở việc NHNN đạtđược các mục tiêu của CSTT.
Khung lãi suất
Với nhũng nước mà tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu, việc quyđịnh giới hạn dao động các mức lãi suất của ngân hàng bằng cách định ra mộtkhung lãi suất sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới mức lãi suất thị trường Khung lãisuất bao gồm mức lãi suất trần (là mức lãi suất tối đa mà các ngân hàng đượcphép ấn định khi đi vay hoặc cho vay) và lãi suất sàn (là mức lãi suất tối thiểu
mà các ngân hàng được phép ấn định khi đi vay) Thông thường NHNN sẽ quyđịnh mức lãi suất trần đối với lãi suất cho vay và mức lãi suất sàn với lãi suấthuy động của các ngân hàng
1.2 Lạm phát
1.2.1 Định nghĩa lạm phát
Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài.
1.2.2 Phương pháp đo lường lạm phát
1.2.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI phản ánh mức giá bình quân của nhóm hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầutiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình Đề xác định chỉ số giá tiêu dùng, người tachọn ra một giỏ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng trong một giaiđoạn nhất định, đồng thời xác định mức độ tiêu dùng đối với từng hàng hóa vàdịch vụ trong giỏ
Trong thực tiễn, CPI được tính theo công thức như sau:
CPI =
Trong đó:
CPI = chỉ số giá tiêu dùng kỳ hiện tại so kỳ gốc
: Chỉ số giá của hàng hóa hay dịch vụ thứ j ()
: tỷ trọng tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ thứ j ( = 1)
Hầu hết các nước đều sử dụng chỉ số CPI để tính tỷ lệ lạm phát như sau:
Trang 15Chỉ số giá bán buôn được xác định theo phương pháp tương tự chỉ số CPInhưng do việc thu thập số liệu và xác định tỷ trọng phức tạp nên không phải quốcgiá nào cũng tính và công bố chỉ số này.
1.2.2.3 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội
Đây là chỉ số đo mức giá bình quân của tất cả hàng hóa và dịch vụ tạo nêntổng sản phẩm quốc nội, được xác định theo công thức:
Chỉ số giảm phát GDP = x 100%
1.2.3 Phân loại lạm phát
Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau Có nhiều cáchphân loại lạm phát căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau: Căn cứ vào mức độ, căn cứvào tính chất, căn cứ vào nguyên nhân, căn cứ sự biến động
1.2.3.1 Căn cứ vào mức độ
Tùy vào mức độ mà lạm phát được phân thành ba cấp: Lạm phát vừa phải,lạm phát phi mã và siêu lạm phát
- Lạm phát vừa phải: Lạm phát vừa phải xảy ra khi tốc độ tăng giá ở mức
một con số (dưới 10%/năm) Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cảtăng chậm, thường xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương Do vậy, giá trị tiền
tệ tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho môi trường kinh tế xã hội Tác hạicủa lạm phát vừa phải là không đáng kể
Trang 16- Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm
phát 2 hoặc 3 con số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm,không ai muốn giữ tiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủcần thiết cho việc thanh toán hằng ngày Mọi người thích giữ hàng hóa,vàng hay ngoại tệ Thị trường tài chính không ổn định (do vốn chạy ranước ngoài)
- Siêu lạm phát: tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần
như mất giá hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàngtiền không còn làm được chức năng trao đổi Nền tài chính khủng hoảng(siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức 1923 với tỷ lệ 10.000.000.000%
và xảy ra ở Bolivia 1985 với 50.000%/năm)
1.2.3.2 Căn cứ vào tính chất
Lạm phát thuần túy: Là lạm phát mà giá tất cả các hàng hóa và dịch vụ
tăng cùng một tỷ lệ, nên giá cả tương đối giữa các mặt hàng là không thayđổi Do đó, lạm phát thuần túy không làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và dịch
vụ trong tiêu dùng
Làm phát dự kiến: Hiện nay, lạm phát có thể được các cơ quan chức năng
và các doanh nghiệp dự báo trước Ví dụ, quốc hội ra nghị quyết cho chínhphủ phải kiềm chế lạm phát ở mức 1 con số …thì đây cũng là một loại lạmphát dự báo Lạm phát dự báo thường được sử dụng làm thông số để chi Sốhóa lạm phát trong các hợp đồng kinh doanh, đặc biệt là các hợp đồng tàichính
Lạm phát không dự kiến hay lạm phát bất ngờ: là loại lạm phát xảy ra
không dự kiến từ trước Đây là loại lạm phát nguy hiểm, bởi vì nó là nhângây xáo trộn trật tự kinh tế xã hội, làm phát sinh yếu tố tâm lý lo lắng vàhoài nghi về năng lực điều hành của chính phủ
1.2.3.3 Căn cứ vào nguyên nhân
Lạm phát tiền tệ, lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy, lạm pát cơ cấu,lạm phát ngân sách
1.2.3.4 Căn cứ sự biến động
Trang 17 Lạm phát ngắn hạn: Biểu hiện mức giá cả biến động trong ngắn hạn, có
tính chất thời vụ, như lạm phát tháng, quý, năm Lạm phát ngắn hạn thườngđược đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Lạm phát dài hạn: Thể hiện xu hướng của lạm phát trong dài hạn, được loại
trừ sự biến động tạm thời có tính thời vụ của giá cả Trong lạm phát dài hạnthường được đo bằng chỉ số lạm phát cơ bản
1.2.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.4.1 Cung tiền tăng nhanh và liên tục
Theo các nhà kinh tế học, khi NHNN bơm tiền vào nền kinh tế một cáchnhanh và liên tục sẽ làm cho giá hàng hóa trong lưu thông tăng lên một cáchtương đối và liên tục, dẫn đến tình trạng lạm phát tăng cao trong nền kinh tế.Khi cung tiền tăng quá lớn, người dân có nhiều tiền hơn và cầu về hàng hóatăng lên liên tục làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải Trong ngắnhạn, sản lượng hàng hóa trong nền kinh tế tăng so vứi mức tự nhiên
Trong dài hạn, khi cầu sản lượng vượt qua mức tự nhiên sẽ khiến cho nguồnlực trở nên khan hiếm đẩy mức lương lên cao, làm cho đường tổng cung nhanhchóng dịch chuyển sang trái và hình thành lên cân bằng mới tại mức giá caohơn
Kết quả cuối cùng là, tổng sản lượng chỉ có thể tăng tạm thời trong thời gianngắn, còn mức giá lại liên tục tăng sau mỗi đợt tăng cung tiền, và tổng sảnlượng hầu như không thay đổi trong dài hạn và duy trì ở mức tự nhiên
1.2.4.2 Ngân sách nhà nước thâm hụt
Chính phủ là một chủ thể trong nền kinh tế, có nguồn thu và các khoản chi,khi chi không đủ chi, ngân sách bị thâm hụt Khi ngân sách bị thâm hụt, chínhphủ có thể tăng nguồn thu bằng cách tăng thuế hoặc đi vay bằng cách pháthành trái phiếu Ngoài ra, chính phủ có một giải pháp nữa đó là in tiền
Nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp hoàn toàn bằng việc dân chúng tăngnắm giữ trái phiếu chính phủ thì tiền cơ sở không thay đổi, tức cung tiền cũng
Trang 18không thay đổi, tức cung tiền cũng không thay đổi; còn nếu trái phiếu chínhphủ trong dân chúng không tăng thì tiền cơ sở phải tăng, làm cho cung tiềncũng tăng theo.
Ngân sách thâm hụt, trái phiếu chính phủ không tăng trong dân chúng, làmcho tiền cơ sở tăng là vì:
Khả năng thứ nhất, chính phủ được phép in tiền và chính phủ đã sử
dụng quyền này để bù đắp thâm hụt ngân sách Việc chính phủ in tiền để chitêu trực tiếp làm lượng tiền cơ sở tăng, tiền cơ sở tăng làm cung tiền tăng theo
cơ chế tạo tiền
Khả năng thứ hai, chính phủ phát hành trái phiếu, làm cho trái phiếu
chính phủ trong dân chúng tăng Nếu dân chúng không nắm giữ trái phiếuchính phủ cho đến khi đến hạn, mà đem chiết khấu trên thị trường mở, tứcNHNN là người mua trái phiếu chính phủ Kết quả là, trái phiếu chính phủtrong dân chúng giảm xuống, còn tiền cơ sở và cung tiền tăng lên
Như vậy, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng việc tạo tiền cơ sở vàcung tiền làm cho giá tăng, Tuy nhiên, nếu ngân sách chỉ thâm hụt tạm thời thìthâm hụt ngân sách không thể là nguồn gây ra lạm phát; nhưng nếu ngân sáchthâm hụt từ năm này qua năm khác, và cơ chế bù đắp bằng việc tạo tiền cơ sởthì lúc này thâm hụt ngân sách trở thành nguồn địch thực gây ra lạm phát
1.2.4.3 Lạm phát do cầu kéo
Mục tiêu giảm thất nghiệp quá mức buộc chính phủ dịch chuyển đường tổngcầu sang phải, trong khi đường cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái Hậu quả làgiá tăng liên tục, và gọi là lạm phát cầu kéo
Ngay cả khi nền kinh tế đạt được trạng thái tại đó việc làm và snar lượng ởmức tự nhiên thì trong nền kinh tế vẫn còn một tỷ lệ thất nghiệp nhất định, gọi là tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên Nếu nhà hoạch định chính sách nỗ lực giảm mức tỷ lệ thấtnghiệp xuống dưới mức tự nhiên thì một CSTT mở rộng được áp dùng, và kết quả
là lạm phát phát sinh
Trang 191.2.4.4 Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát phát sinh do các cú sốc cung hoặc tiền lương tăng Trong lạm phátchi phí đẩy, đương cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái với chính sách việc làmcao, buộc chính phủ phải tăng cầu, làm dịch chuyển liên tục đường cầu sang phải
để duy trì việc làm và sản lượng tại mức tự nhiên Kết quả, giá tăng liên tục gây ralạm phát
1.2.5 Tác động của CSTT tới lạm phát
1.2.5.1 Mục tiêu chính của CSTT là kiểm soát lạm phát
Trước đây thường có 2 xu hướng chính cho CSTT: tập trung vào mục tiêutăng trưởng kinh tế hoắc cùng một lúc theo đuổi nhiều mục tiêu khác nhau Nhưngsau một thời gian kiểm nghiệm cả lý thuyết lẫn thực tế, các nhà hoạch định chínhsách đều nhận ra rằng nếu tiếp tục tập trung vào mục tiêu tăng trưởng thì quốc gia
đó sẽ phải hứng chịu những cơn sốc lạm phát trong khi những biến số thực kháccủa nền kinh tế không tiếp tục tăng lên như mong muốn Điều này là vì:
Thứ nhất, CSTT ảnh hưởng lên nền kinh tế mang tính dài hạn nghĩa là ảnh
hưởng không chính xác về mặt thời gian và đôi khi đẩy nền kinh tế vàotrạng thái tiêu cực đặc biệt là khi ảnh hưởng không rõ ràng và nhất quán
Thứ hai, đường cong Phililips trong dài hạn là một đường thẳng nghĩa là
sự đánh đổi tỷ lệ lạm phát cao lấy tỷ lệ tăng trưởng cao trong dài hạn làkhông có Trong ngắn hạn chúng ta thấy, đường cong Phillips đã chỉ ra mộtmối quan hệ giữa tỷ lệ phát cao để đổi lấy tỷ lệ thật nghiệp thấp và tỷ lệtăng trưởng cao Đó là khi giá cả tăng lên, các công ty và hộ gia đình tinrằng họ sẽ giàu lên trong tương lai nhờ lợi nhuận và tiền lương danh nghĩatăng lên, do vậy họ sẽ tăng đầu tư cũng như tiêu dùng của mình Nhưngtrong dài hạn tăng trường kinh tế bị giới hạn (khi đạt được sản lượng tiềmnăng) trong khi lạm phát vẫn cứ tiếp tục tăng lên do những dự tính củangười dân
Thứ ba, độ lệch thời gian, điều này nghĩa là các nhà hoạch định chính sách
thì thường cho rằng các cá nhân và công ty đưa các quyết định tiêu dùnghay đầu tư trùng với thời điểm mà ho công bố CSTT, và vì vậy với nhữngnhân tố đã được xác định từ trước chỉ cần họ thực hiện một CSTT mở rộnghơn so với dự tính của khu vực tư nhân sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh