Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép tuấn tú tỉnh bình dương Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép tuấn tú tỉnh bình dương Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép tuấn tú tỉnh bình dương Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép tuấn tú tỉnh bình dương Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép tuấn tú tỉnh bình dương
Trang 1TÓM TẮT
Ngày nay năng lượng là một phần nhu cầu không thể đối với các ngành Công nghiệp nói chung và ngành sản xuất thép nói riêng Năng lượng chính trong sản xuất thép là điện và than Việc sử dụng điện hợp lý và tiết kiệm là việc làm thường xuyên và càng trở nên cấp thiết khi nguồn năng lượng quan trọng này có biểu hiện mất cân đối, thiếu hụt Trong quá trình sản xuất một lượng khí thải lớn được thải vào bầu không khí gây ảnh hưởng đến môi trường
Việc tìm ra những giải pháp tiết kiệm năng lượng là điều quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất nhằm giảm chi phí, giảm giá thành và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đồng thời điều này cũng giúp giảm được sự tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Đề tài này được thực hiện trên nhà máy thép vừa và nhỏ, qua đó tiến hành đề xuất kế hoạch tiết kiệm năng lượng cho nhà máy nâng cao tính cạnh tranh sản phẩm và góp phần bảo vệ môi trường
Trang 2Today energy is an impossible part of the industry in general and the steel industry in particular The main energy in steel production is electricity and coal The rational and economical use of electricity is a regular and urgent task when this important energy source shows imbalance and shortage During production a large amount of emissions is released into the atmosphere, affecting the environment
Finding solutions to save energy is the top concern of manufacturers in order to reduce costs, reduce costs and improve the competitiveness of products in the market
At the same time, this also helps reduce the consumption of natural resources and protect the environment
This project is implemented on small and medium steel plants, thereby conducting proposals of energy saving plans for factories to improve product competitiveness and contribute to environmental protection
Trang 3MỤC LỤC
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
CẢM TẠ iii
TÓM TẮT iv
ABTRACT v
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BẢNG xii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chon đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tính thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 3
TỔNG QUAN VỀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG 3
1.1 Thực trạng tiêu thụ năng lượng trên thế giới và Việt Nam 3
1.2 Những vấn đề năng lượng: 5
1.3 Giải pháp 6
1.3.1 Reduce: Làm giảm 6
1.3.2 Reuse: Tái sử dụng 7
1.3.3 Recycle: Tái chế 7
1.3.4 Renewable: Năng lượng tái tạo 8
1.3.5 Policy: Chính sách 8
Trang 41.4.1 Tình hình tiết kiệm điện trên thế giới 9
1.4.2 Tình hình tiết kiệm điện của Việt Nam 12
1.5 Số liệu thống kê về tiết kiệm điện 13
Chương 2: 16
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THÉP 16
2.1 Tình hình khai thác và sử dụng năng lượng ngành thép trên thế giới 16
2.1.1 Các khu vực sản xuất và tiêu thụ thép của các nước trên thế giới 16
2.1.2 Mức điện năng tiêu thụ trung bình để sản xuất sản phẩm thép trên thế giới 19
2.1.3 Hiện trạng phát thải khí thải của Ngành Thép trên thế giới 20
2.2 Tình hình khai thác và sử dụng năng lượng tại ngành thép Việt Nam 21
2.2.1 Tổng quan về tình hình tiêu thụ thép tại Việt Nam 21
2.2.2 Mức tiêu tụ điện năng trung bình khi sản xuất sản phẩm thép 24
2.2.3 Hiện trạng phát thải khí thải của Ngành Thép tại Việt Nam 25
2.3 Nhược điểm trong quá trình sản xuất thép tại Việt Nam 26
Chương 3: 29
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM ĐIỆN 29
3.1 Lưu đồ phương pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép 29
3.2 Đề xuất nhóm giải pháp tiết kiệm điện 29
3.2.1 Nhóm giải pháp tiết kiệm điện chi phí thấp 30
3.2.2 Nhóm giải pháp tiết kiệm điện chi phí vừa 31
3.2.3 Nhóm giải pháp tiết kiệm điện chi phí cao 31
3.2.3.1 Giải pháp 1: Lắp biến tần cho các quạt hút 32
3.2.3.2 Giải pháp 2: Lắp biến tần cho hệ thống cẩu trục 33
3.2.3.3 Giải pháp 3: Lắp biến tần cho bơm nước cấp 36
Trang 53.2.3.6 Giải pháp 6: Lắp biến tần hoặc Thay thế bơm cũ bằng bơm có lưu
lượng thay đổi được điều khiển bằng servo motor cho máy ép thủy lực 40
3.3 Nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa nước- điện- cacbon trong ngành sản xuất thép vào công nghệ EST để tiết kiệm điện và giảm thiểu phát thải CO2 40
3.3.1 Phân tích 40
3.3.2 Phương pháp 41
3.3.2.1 Mô hình dòng năng lượng- vật liệu tích hợp 41
3.3.2.2 Mối quan hệ cây trồng-năng lượng nước-carbon theo quá trình 46
3.3.2.3 Mô hình ECSC CO2 -nước 47
3.3.3 Kết quả 48
3.3.3.1 Tiêu thụ năng lượng cho xử lý nước 48
3.3.3.2 Tiêu thụ năng lượng và nước cũng như phát thải khí CO2 49
3.3.3.3 Đánh giá hiệu quả của mô hình ESTs 50
3.3.4 Giá cả 54
3.3.4.1 Phân tích độ nhạy 54
3.3.4.2 Phân tích nhân tố cấu trúc tiêu thụ điện 57
3.3.5 Kiến nghị 58
3.4 Chi phí thực hiện và tính toán tiết kiệm điện 59
3.5 Tính toán hiệu quả kinh tế 62
3.5.1 Thời gian hoàn vốn T 62
3.5.2 Hiện giá thu hồi thuần NPV và Suất thu hồi nội bộ IRR 65
Chương 4: 69
ÁP DỤNG NHÓM GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM ĐIỆN CHO NHÀ MÁY THÉP TUẤN TÚ – TỈNH BÌNH DƯƠNG 69
4.1 Khái quát về công nghệ sản xuất và tình hình tiêu thụ năng lượng điện của nhà máy thép Tuân Tú tỉnh Bình Dương 69
4.1.1 Giới thiệu khái quát về nhà máy thép Tuấn Tú 69
4.1.2 Quy trình sản xuất 69
Trang 64.1.4 Tình hình tiêu thụ năng lượng điện 71
4.2 Đề xuất kế hoạch cho nhà máy 72
4.2.1 Kế hoạch thực hiện trong thời gian 06 tháng 72
4.2.2 Kế hoạch thực hiện trong thời gian 06 tháng đến 1 năm 73
4.2.3 Kế hoạch thực hiện trong thời gian 1 năm đến 2 năm 73
4.2.4 Kế hoạch thực hiện trong thời gian 2 năm đến 3 năm 73
Chương 5: 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 75
5.2.1 Về giải pháp cho công ty 75
5.2.2 Về giải pháp cơ chế chính sách: 76
5.2.3 Về giải pháp đầu tư và công nghệ mới 76
5.2.4 Hướng phát triển của đề tài 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Phụ lục 1: Bảng tính toán thay thế đèn T8 balast sắt từ bằng đèn Led 18W 79
Phụ lục 2: Bảng tính toán thay thế đèn sodium bằng đèn Led 120W 81
Phụ lục 3: Lắp biến tần cho bơm nước cấp 83
Phụ lục 4: Lắp biến tần cho quạt 85
Phụ lục 5: Lắp biến tần băng tải 86
Phụ lục 6: Lắp biến tần cho cẩu trục 87
Phụ lục 7: Lắp biến tần máy ép thủy lực 88
Phụ lục 8: Lắp biến tần cho hệ thống cán thép 89
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Lượng điện năng trên thế giới được phát từ các nguồn 4
Hình 2.1: Biểu đồ các nước đứng đầu về sản xuất thép 16
Hình 2.2: Biểu đồ các quốc gia khai thác quặng săt lớn và sản lượng 17
Hình 2.3: Biểu đồ các khu vực sản xuất và nhập khẩu thép phế 17
Hình 2.4: Biểu đồ giá tiền điện trên mỗi kWh của các nước 18
Hình 2.5: Biểu đồ giá thép tương ứng trên mỗi tấn sản phẩm 19
Hình 2.6: Biểu đồ sản lượng thép theo khu vực và cơ cấu cung cầu thép theo khu vực 19
Hình 3.1: Lưu đồ tiết kiệm điện trong nhà máy sản xuất thép 29
Hình 3.2: So sánh công suất tiêu thụ giữa các phương pháp điều khiển lưu lượng 32
Hình 3.3: Đặc tuyến quá tải của biến tần 35
Hình 3.4: Nguyên lý điều khiển phanh của biến tần 35
Hình 3.5: Sơ đồ cung cấp nước khi lắp biến tần 36
Hình 3.6: Nguyên lý hoạt động hệ thống cán 39
Hình 3.7: Sơ đồ hệ thống sử dụng nước của công ty 44
Hình 3.8: Giới hạn hệ thống trong nghiên cứu này 48
Hình 3.9: Kết quả của mô hình dòng năng lượng vật liệu tích hợp 50
Hình 3.10: Tiềm năng tiết kiệm nước trực tiếp của ESTs 51
Hình 3.11: ECSC với tiềm năng tiết kiệm nước trực tiếp 52
Hình 3.12: Khả năng giảm phát thải CO2 của ESTs 53
Hình 3.12: ECSC với tiềm năng tiết kiệm năng lượng và nước và khả năng giảm phát thải CO2 54
Hình 3.13: Phân tích độ nhạy trên ECSC với các mức chiết khấu khác nhau 56
Hình 3.14: Phân tích độ nhạy trên ECSC với thuế carbon khác nhau 57
Hình 3.15: Tác động của những thay đổi trong cơ cấu tiêu thụ điện năng đối với dấu chân nước và lượng khí thải CO2 58
Trang 8Hình 4.1: Sơ đồ quy trình sản xuất thép 70 Hình 4.2: Ảnh chụp hệ thống tụ bù trạm biến áp (22/0,4) kV 71 Hình 4.3: Biểu đồ tiêu tiền điện công ty 71
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tiêu thụ năng lượng, phát thải CO2 và dấu chân nước của ba loại nước 49
Bảng 3.2: Chỉ tiêu khi thay thế đèn huỳnh quang T8-balast sắt từ bằng đèn Led 18W (Phụ lục ) 60
Bảng 3.3: Chỉ tiêu khi thay thế đèn cao áp sodium 1000W bằng đèn Led pha 250W 60
Bảng 3.4: Lắp biến tần cho hệ thống cán 60
Bảng 3.5: Lắp biến tần cho quạt hút 61
Bảng 3.6: Lắp biến tần cho máy bơm 61
Bảng 3.7: Lắp biến tần cho cẩu trục lớn 61
Bảng 3.8: Lắp biến tần cho băng tải 62
Bảng 3.9: Lắp biến tần cho máy ép thủy lực 62
Bảng 5.3: Ví dụ 2 Đơn vị tính: Triệu USD 66
Bảng 5.5: Ví dụ 3 Đơn vị tính: Nghìn USD 66
Bảng 5.6: Giải ví dụ 2 Đơn vị tính: Triệu USD 67
Bảng 4.14: Giá tiền điện tính theo khung 72
Bảng 4.2: Thực hiện nhóm giải pháp trong thời gian 6 tháng 72
Bảng 4.3: Thực hiện nhóm giải pháp trong thời gian 6 tháng đến 1 năm 73
Trang 10ACEEE: Action on energy efficicency
BTN&MT: Bộ tài nguyên và Môi trường
CDM: Dự án phát triển sạch
CNY: Đồng nhân dân tệ
CO: Khí Cacbon oxit
CO 2 : Khí cacbon dioxit
ECSC: Bộ điều khiển hệ thống kiểm soát môi trường
EPA: Environmental Protection Agency
EVN: Tập đoàn điện lực Việtnam
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
KCN: Khu công nghiệp
NLM&TT: Nông lâm nghiệp và Trồng trọt
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
USD: Đô la Mỹ
UBND: Ủy Ban nhân dân
SO 2 : Khí Sunfurer
Trang 11Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
MỞ ĐẦU
1 Lý do chon đề tài
Xã hội phát triển, những loại máy móc và thiết bị điện ra đời đã đang có những đóng góp vô cùng lớn, tiết kiệm sức lao động của con người , Thế nhưng để những thiết bị điện tử này hoạt động thì điện năng là yếu tố quan trọng thiết yếu nhất Điện năng đã và đang có những vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt, sản xuất Tất cả các ngành nghề hiện nay từ thủ công đến chuyên nghiệp đều cần có sự tham gia của điện năng Điện năng hiện nay như một thành phần tham gia vào sản xuất không thể thiếu, Hiện đại đi kèm với hại điện là điều từ rất lâu chúng ta đã biết Vậy điện năng thực sự có vai trò như thế nào trong cuộc sống và sản xuất
Ngành thép là một trong những ngành công nghiệp sử dụng năng lượng, nhiên liệu ở quy mô lớn Công nghệ luyện phôi thép hiện nay chủ yếu là lò điện, công suất thấp, lạc hậu nên hiệu suất tiêu hao năng lượng rất cao
Bên cạnh đó, các nhà máy cán thép có công suất thấp và sử dụng thiết bị lạc hậu đã khiến chênh lệch mức tiêu hao đối với cán thép của các nhà máy này so với những nhà máy hiện đại ở mức 30% Năng lượng chính trong sản xuất thép là điện và than Trong quá trình sản xuất, một lượng khí thải và bụi khá lớn với nhiệt độ rất cao bao gồm khí thải trực tiếp từ
lò điện hồ quang và lò thùng tinh luyện, khí thải do vận chuyển và nạp liệu, rót thép, đúc thép, khói do chế biến xỉ làm ô nhiễm môi trường, lãng phí năng lượng, lãng phí nguồn tài nguyên và giảm hiệu quả sản xuất
Từ những lý do nêu trên “Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép Tuấn Tú, tỉnh Bình Dương” là vấn đề được quan tâm hàng đầu, nhằm giảm thiểu chi phí,
nâng cao sức cạnh tranh đồng thời làm giảm thiểu tác động đến môi trường
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng và xây dựng chiến lược tiết kiệm cho ngành sản xuất thép vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu
Đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng mang lại hiệu quả cao cho nhà máy
Trang 123 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về lĩnh vực sử dụng năng lượng của ngành sản xuất thép tại tỉnh Bình Dương
4 Phương pháp nghiên cứu
Xác định chính xác đối tượng cần nghiên cứu và tìm hiểu các giải pháp đã thực hiện
Từ đó phát triển và đề xuất các giải pháp khác mang tính chất đổi mới và khả thi hơn Đây được xem là yếu tố quan trọng trong việc triển khai thực hiện luận văn
Tìm hiểu các công trình nghiên cứu sẵn có liên quan đến đề tài Phân tích ưu nhược điểm để tận dụng được ưu điểm và khắc phục những nhược điểm Khắc phục được những nhược điểm chính là hướng đi mới của luận án
Thu thập thông tin từ sách báo, tài liệu, các văn bản khoa học, tạp chí khoa học trong
và ngoài nước có liên quan đến đề tài
Thu thập các số liệu thực tế, thống kê của nhà máy
Kiểm tra, đánh giá, so sánh kết quả thực hiện và xây dựng chiến lƣợc triển khai thực hiện cho các năm tiếp theo
5 Tính thực tiễn của đề tài
Đề xuất một số giải pháp để sử dụng tiết kiệm năng lượng
Với các giải pháp tiết kiệm sẽ giảm chi phí tiền điện thực tế cho Công ty sản xuất thép Tuấn Tú tỉnh Bình Dương
Trang 13Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG
1.1 Thực trạng tiêu thụ năng lượng trên thế giới và Việt Nam
Thế giới đang đối mặt với những thách thức như gia tăng dân số, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng cao,… trong khi các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt dần Theo báo cáo của Tập đoàn dầu khí Anh BP đã công bố báo cáo về triển vọng năng lượng trên toàn cầu "World Energy Outlook." Dự báo, đến năm 2035 nhu cầu toàn thế giới về năng lượng sẽ tăng chậm lại, từ mức 55% năm 2012 xuống còn 41% Khu vực tăng nhu cầu tiêu thụ là các nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh, như Trung Quốc và Ấn Độ Cũng theo báo cáo này trong hai thập kỷ tới, nhu cầu dầu mỏ sẽ tăng trung bình hàng năm 1,5%, trong đó tăng cao hơn vào đầu kỳ và giảm còn 1,2% trong giai đoạn 2020-2035 Gần như toàn bộ nhu cầu bổ sung về dầu mỏ (khoảng 19 triệu thùng/ngày
so với năm 2012) là phục vụ thị trường Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Trung Đông Trong các nguồn năng lượng, khí đốt sẽ củng cố vị trí của mình, than và dầu mỏ sẽ giảm dần vai trò, và đến 2035, thị phần của ba nguồn năng lượng này sẽ gần bằng nhau, chiếm khoảng 26-27% mỗi loại trong thị trường tiêu thụ năng lượng thế giới Thủy điện và năng lượng tái tạo
sẽ giành 5-7% mỗi loại trên thị trường này [4]
Theo dự báo, đến năm 2030 nhu cầu năng lượng sẽ tăng lên 60% so với năm 2005, với tốc độ phát triển kinh tế trung bình 3,5-4% trên toàn cầu và dân số thế giới tăng lên 8,3 tỉ người Trong các nước phát triển, nhu cầu về năng lượng sẽ tăng từ 3 đến 3,5 lần so với OEDC Trong đó, Trung Quốc, Ấn Độ chiếm hơn 50%, theo ước tính tới 2020 Mỹ cần thêm 50% khí và 1/3 lượng dầu hiện nay Hiện nước Mỹ, dầu mỏ chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng trong nước Các dự báo đều cho rằng, nguồn cung dầu mỏ của thế giới chỉ gia tăng thêm trong khoảng nửa thập kỷ nữa trước khi đạt đỉnh điểm rồi bắt đầu giảm, còn nguồn cung khí đốt sẽ tiếp tục tăng thêm 1-2 thập kỷ rồi cũng giảm Điều này làm cho cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên như: dầu mỏ, khí đốt, than và uranium ngày càng quyết liệt trên toàn cầu, quyền lực của cải đang chuyển dần từ những nước thiếu năng lượng (Trung Quốc, Mỹ, Nhật, EU) sang các nước dư thừa năng lượng (Nga, Saudi Arabia,
Trang 14Venezuela) và tiêu thụ năng lượng của các quốc gia đang phát triển trong tổng lượng tiêu thụ năng lượng sẽ tăng lên và các quốc gia phát triển sẽ giảm đi
Hình 1.1: Lượng điện năng trên thế giới được phát từ các nguồn
Cũng như xu thế chung của thế giới, nhu cầu tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam cũng gia tăng theo thời gian tuy nhiên thời gian gần đây lại có sự chững lại
Những năm gần đây, tăng trưởng tiêu dùng điện rơi vào khoảng 13,4%/năm cho giai đoạn 2006-2010 và 10%/năm trong giai đoạn 2010 -2015 Theo dữ liệu của Quy hoạch điện VII điều chỉnh, để đáp ứng đủ lượng cầu về điện trong nước, đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2016- 2030 thì sản lượng điện thương phẩm năm 2020 phải đạt khoảng 235 - 245 tỷ kWh; năm 2025 khoảng 352 - 379 tỷ kWh; năm 2030 khoảng 506 - 559 tỷ kWh Tương ứng với đó
là điện sản xuất và nhập khẩu năm 2020 khoảng 265 - 278 tỷ kWh; năm 2030 khoảng 572 -
630 tỷ kWh Từ những dữ liệu đó Bộ Công thương đã đưa ra dự báo trong kịch bản tăng trưởng chậm với mức tăng 10% tiêu dùng điện năng cho tới năm 2020, 8% giai đoạn 2020-
Trang 15Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG Nam là rất lớn do sự gia tăng lượng cầu quá nhanh, đặc biệt là khi sản phẩm điện năng cung-cầu phải cân bằng ở mọi thời điểm.[1]
Trong giai đoạn từ thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, nguồn năng lượng từ thủy điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng và sản xuất nhưng đến năm 2030, Việt Nam sẽ không còn tiềm năng thủy điện lớn vì đã khai thác hết Trữ lượng than đá cũng đang cạn dần Năm 2015, khả năng khai thác than đá đáp ứng từ 96%-100% nhu cầu sử dụng Năm 2020, khả năng khai thác chỉ đáp ứng được 60% và đến năm 2035, tỉ lệ này chỉ còn 34% Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến 2030 thì vào năm 2020, Việt Nam sẽ nhập khẩu hơn 2.300 MW điện (chiếm 3,1% tổng cơ cấu năng lượng điện), năm 2030 sẽ nhập 7.100 MW (chiếm 4,9% tổng cơ cấu năng lượng điện) Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng khiến nguồn cung năng lượng đã không bắt kịp cầu Dự báo, nhu cầu năng lượng của Việt Nam các năm 2015-2020-2030 tăng từ 89.000 MTOE lên 150.000 MTOE và 256.000 MTOE, trong khi khả năng cung ứng chỉ nhích từng chút một: 91.000-96.000 -113.000 MTOE
1.2 Những vấn đề năng lượng:
Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng là nhân tố vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ số phát triển điện năng thường được coi như biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Người ta đánh giá nền công nghiệp của một nước qua năng lượng điện và độ tăng trưởng kinh tế của một nước qua mức tăng trưởng năng lượng điện của nước đó
Hiện nay, sự phát triển của ngành điện trên thế giới đang ngày càng lớn mạnh Tuy nhiên nhiều nước trên thế giới vẫn phải đang đối mặt với vấn đề thiếu hụt năng lượng Việt Nam tuy mới là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và mới đạt được mức độ thu nhập trung bình, nhưng sắp tới đất nước ta sẽ tiếp tục phát triển nhanh trong thời gian tới Do đó nhu cầu sử dụng năng lượng sắp tới sẽ tăng nhanh, kéo theo đó là các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt, chi phí nhập khẩu nhiên liệu tăng cao, nguồn cung không ổn định, thiếu hụt nguồn cung cấp điện Từ đó sẽ làm rào cản rất lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Trang 16Ngoài vấn đề về thiếu hụt năng lượng, ngành điện Việt Nam còn đối mặt với vấn đề độc quyền Cụ thể là:
+ Độc quyền trong sản xuất;
+ Độc quyền trong truyền tải và phân phối
+ Độc quyền trong định giá
Do đó có rất nhiều những bất cập trong việc phát triển nguồn cung cấp điện như:+ Đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán điện từ các nguồn điện mới ngoài EVN khó khắn, thiếu minh bạch và thường kéo dài
+ Giá bán điện chịu phụ thuộc vào quyết định của EVN, do đó xuất hiện nguy cơ giá EVN đề xuất thấp hơn mức mong đợi hoặc không bù đắp được chi phí đầu tư và lãi vay
+ Việc độc quyền của EVN gây cản trở đáng kể cho việc thu hút nguồn đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, do đó gây cản trở rất lớn cho việc phát triển
ngành điện, vốn là ngành có chi phí đầu tư lớn.[2]
1.3 Giải pháp
Với những tình trạng và nguy cơ kể trên về năng lượng ở Việt Nam, phần này sẽ đề cập đến những giải pháp để phần nào giải quyết tình trạng năng lượng ở Việt Nam Các giải pháp sẽ bao gồm 4R + P (Reduce: làm giảm, Reuse: tái sử dụng, Recycle: tái chế, Renewable: năng lượng tái tạo và Policy: chính sách)
Có rất nhiều cách để giảm lượng năng lượng tiêu thụ:
+ Ít sử dụng các sản phẩm dùng một lần nếu có thể và thay thế bằng các sản phẩm
Trang 17Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
+ Tắt các thiết bị điện mỗi khi không sử dụng, chẳng hạn như tắt đèn hoặc quạt mỗi khi bạn ra khỏi phòng
+ Lựa chọn các thiết bị tiêu thụ ít điện năng nhưng hiệu quả tương tự Chẳng hạn chọn đèn tuýp hoặc compact thay cho bóng đèn tròn vì đèn tròn tiêu thụ điện gấp 3,4 lần
+ Điều chỉnh thói quen sử dụng điện, chẳng hạn cho quạt chạy ở tốc độ thích hợp, không mở tủ lạnh quá thường xuyên,…
1.3.2 Reuse: Tái sử dụng
Thật ngạc nhiên là nhiều thứ có thể tái sử dụng đến lần thứ hai, thứ ba Nếu bạn không thể tái sử dụng một cái gì đó, có thể có một người khác có thể Tái sử dụng cũng sẽ gián tiếp giúp bạn tiết kiệm năng lượng
Sửa chữa đồ gia dụng thay vì thay thế chúng có thể là một cách tuyệt vời để giảm chất thải, gián tiếp tiết kiệm năng lượng để làm ra món đồ mới và tiết kiệm tiền
Chọn sản phẩm tốt và bền Những sản phẩm này có thể chi phí nhiều hơn một chút nhưng tuổi thọ của họ sẽ lâu hơn Khi bạn sử dụng lại các sản phẩm này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế Không chỉ tiết kiệm tiền, bạn cũng sẽ ngăn chặn những vật liệu bị loại bỏ như chất thải Bạn cũng sẽ giúp làm giảm lượng năng lượng sử dụng để sản xuất sản phẩm mới
Luyện kim là một quá trình lâu dài và tốn kém với việc sử dụng một lượng nước lớn
và nguồn năng lượng quy đổi ra dầu khổng lồ Theo Hiệp hội bảo vệ môi trường Mỹ (EPA)
sử dụng nhôm tái chế để sản xuất chỉ tiêu tốn năng lượng và xả lượng chất thải chỉ bằng 5%
so với việc dùng kim loại nhôm
Trang 18Tái chế giấy giúp giảm một nửa số năng lượng sử dụng Tái chế 1 tấn kính giúp tiết kiệm được tới 9 gallon dầu Và nếu tái chế 1 triệu máy tính xách tay sẽ giúp tiết kiệm lượng điện cho 3.500 hộ gia đình ở Mỹ sử dụng trong vòng 1 năm.
Vì vậy, nếu muốn tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, hãy bắt đầu bằng những hành động nhỏ nhất như suy nghĩ về cách giảm nhu cầu mua sản phẩm mới Giảm chất thải thực phẩm bằng cách ăn hết những thực phẩm đã có Tái sử dụng các loại lọ và hộp nhựa, thay vì mua mới
1.3.4 Renewable: Năng lượng tái tạo
NLM&TT là năng lượng sạch, quý giá cần được khai thác, sử dụng hiệu quả, góp phần thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch, giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với xu thế thời đại hiện nay Trong thời gian tới, NLM&TT cần được khai thác, sử dụng góp phần đáng kể trong cân bằng năng lượng quốc gia, đặc biệt vùng nông thôn và miền núi
Phát triển NLM&TT, cần ứng dụng loại thiết bị, công nghệ thích hợp với điều kiện Việt Nam, ưu tiên loại có giá thành thấp, dễ sử dụng và sửa chữa Theo dự kiến của Việt Nam, tỷ lệ NLM&TT chiến 2% tổng năng lượng sơ cấp, tương đương 1 triệu TOE năm
2010, và 3% tổng năng lượng sơ cấp tương đương 3 triệu TOE năm 2020
Tổ chức điều tra đánh giá tiềm năng NLM&TT và xây dựng quy hoạch phát triển các nguồn NLM&TT trong các vùng lãnh thổ
Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các chương trình điều tra, nghiên cứu chế tạo thử, xây dựng các điểm điển hình về NLM&TT Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các
Trang 19Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
Phát triển nguồn, lưới điện, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế -
xã hội, đến năm 2010 độ tin cậy cung cấp của nguồn điện là 99,7 %
Bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu quốc gia đạt 45 ngày tiêu thụ bình quân vào năm 2010, đạt 60 ngày vào năm 2020 và đạt 90 ngày vào năm 2025
Luật điện, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2005, có quy định về các biện pháp tiết kiệm năng lượng trong quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện
Quy định về các công trình xây dựng ít tiêu hao năng lượng, do Bộ xây dựng ban hành tháng 11/2005, đề ra các quy chuẩn về sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong các tòa nhà thương mại.[4]
Một văn bản khác cũng quan trọng, đó là chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng do Thủ tướng chính phủ phê duyệt vào tháng 4/2006
Đa số những chính sách kể trên đều có những ưu nhược điểm nhất định chưa thể được phân tích rõ ở đây, tuy nhiên chúng góp phần không nhỏ vào mục đích tiết kiệm năng lượng
và khắc phục những khó khăn về năng lượng ở Việt Nam.[5]
1.4 Tình hình tiết kiệm điện trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình tiết kiệm điện trên thế giới
Trên thế giới, đã nhiều năm nay các chương trình tiết kiệm điện đã được các Chính phủ rất quan tâm và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn Nhất là khi giá dầu, than tăng không ngừng thì việc cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết Nguồn năng lượng trên thế giới đang ngày càng cạn kiệt nên xu hướng của toàn cầu là tìm kiếm các công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng Điều này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ các nước châu Âu vốn lo ngại về sự sụt giảm của các nguồn cung cấp năng lượng hiện nay Vì thế, bên cạnh những quy định khắt khe hơn về việc sử dụng năng lượng, chính phủ các nước này cũng bắt đầu tài trợ tiền và giảm thuế cho những hãng xây dựng loại nhà tiết kiệm năng lượng Nước Mỹ cũng không đứng ngoài xu hướng này Thông qua chương trình Energy Star của mình, Washington đã ban hành những quy định nghiêm ngặt
về năng lượng trên mọi lĩnh vực, từ xây dựng nhà đến thiết bị điện hay gia dụng Đồng thời ngày càng có nhiều công nghệ mới giúp tiết kiệm năng lượng được phát minh và sử dụng trên thế giới
Trang 20Cũng như nhiều nước châu Âu khác, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới Chính phủ Đức đã bỏ rất nhiều công sức vào việc thúc đẩy phát triển kỹ thuật năng lượng có khả năng tái sinh Đến nay, Đức đầu tư khoảng 1,74 tỷ Euro vào lĩnh vực này Chính phủ Đức còn đưa ra những biện pháp sử dụng tiết kiệm năng lượng như trợ cấp kinh phí, tuyên truyền và tư vấn kỹ thuật thúc đẩy nâng cao hiệu suất sử dụng đồng thời đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng trên mọi lĩnh vực, phân cấp các loại đồ điện gia dụng và dán nhãn phẩm cấp chất lượng tiết kiệm điện năng để thúc đẩy các nhà sản xuất nâng cao kỹ thuật tiết kiệm năng lượng Ở các nước phát triển, kinh tế tăng trưởng gắn liền với hiệu quả năng lượng: cứ tăng GDP thêm 1% thì chỉ phải tăng tiêu thụ năng lượng 0,4% Do đó, cường
độ sử dụng năng lượng bình quân thế giới theo GDP đã giảm 19%, riêng các nước phát triển giảm 21-27% Ở Nga ngược lại, cường độ sử dụng năng lượng theo GDP lại tăng nên tiềm năng hiện nay về tiết kiệm năng lượng là rất lớn đạt khoảng 39-47% Khoảng 30% tiềm năng
đó tập trung trong ngành nhiên liệu-năng lượng, 35-37% trong công nghiệp và 25-27% trong khu vực dịch vụ công cộng Vì vậy mục tiêu của chính sách nhà nước trong việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng là yếu tố tiên quyết đối với triển vọng phát triển lâu dài của cả toàn
bộ nền kinh tế nước Nga với việc áp dụng các biện pháp rộng rãi kích thích người tiêu thụ, đảm bảo cơ cấu lại nền kinh tế có lợi cho các ngành chế biến tiêu hao ít năng lượng và các lĩnh vực dịch vụ và tận dụng tiềm lực tiết kiệm năng lượng trong công nghệ Đồng thời thực hiện hệ thống những biện pháp về pháp lý, hành chính và kinh tế kích thích việc sử dụng năng lượng hiệu quả [2]
Công ty TNHH Minimise của Anh tính toán đến năm 2020, giá năng lượng của nước Anh có thể tăng tới 25% và có thể tăng đột biến, thậm chí cao hơn nhiều so với thời điểm hiện tại Để giảm thiểu tổn hao quá nhiều năng lượng trong việc tiêu thụ điện trong sản xuất, cần phải khuyến khích các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất tiếp cận các công nghệ mới, tiết kiệm năng lượng hiệu quả hơn; kiểm soát chặt chẽ các trang thiết bị hoạt động kém hiệu quả; đánh thuế nghiêm ngặt lượng khí carbon thải ra nhằm nâng cao ý thức “môi trường xanh” và
Trang 21Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu Đồng thời có thể thu về 17 tỷ USD chỉ bằng cách thực hiện một điều đơn giản: Tăng cường tiết kiệm năng lượng Với nghiên cứu nêu trên, dự kiến ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng hiện nay có thể giảm bớt 25% nhu cầu điện của Mỹ và lượng khí thải CO2 cũng giảm mạnh với ước tính lên tới 600 triệu tấn/năm vào năm 2030.
Tại đất nước phát triển nhất châu Á, Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong tiết kiệm năng lượng Ngay sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới lần thứ II, Chính phủ Nhật Bản
đã nhanh chóng thông qua Luật sử dụng năng lượng hợp lý Các giải pháp được đưa ra thực hiện rất linh hoạt, toàn diện và mang tính thực tiễn cao Hiệu quả nhất là giải pháp khuyến khích về tài chính với chương trình cho vay có lãi suất đặc biệt áp dụng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ; chương trình ưu đãi thuế bao gồm miễn thuế tương đương 7% chi phí mua máy móc thiết bị, áp dụng chế độ khấu hao đặc biệt 30% giá mua máy móc thiết bị… Công tác quảng bá, tôn vinh công nghệ và thiết bị tiết kiệm năng lượng tốt nhất hiện có được thực hiện thông qua Hội chợ triển lãm Môi trường và Năng lượng (ENEX) Hội nghị năng lượng quốc gia được tổ chức hàng năm
Đối với một đất nước có nền công nghiệp phát triển mạnh như Trung Quốc, điện năng tiêu thụ trong năm rất lớn, hầu hết các tỉnh, thành phố lớn ở Trung Quốc đều phải tiết giảm điện, như: TP Bắc kinh có 5.000 xí nghiệp đã phải nghỉ luân phiên do cắt điện Các giải pháp
để hạn chế tình hình thiếu điện của Trung Quốc là phấn đấu đạt tỷ lệ tiết kiệm điện ít nhất là 8% trong toàn xã hội, đối với các công trình xây dựng thì tỷ lệ này là 10% Tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, tuy có tỉ lệ điện ánh sáng sinh hoạt 12% nhưng vẫn quy định hạn chế sử dụng máy điều hoà nhiệt độ.[3]
Tại Thái Lan, Thủ tướng kêu gọi sự hợp tác của người dân trong chiến dịch tắt bớt đèn không cần thiết trong vòng 5 phút từ 20h45’ mỗi ngày, ngoài ra người dân nên tắt máy điều hòa nhiệt độ 1 giờ/ngày trong giờ ăn trưa và các hộ dân tắt một bóng đèn trong 1giờ/ngày, Thái Lan sẽ tiết kiệm được 620 triệu bath/năm (tương đương 246 tỷ đồng Việt Nam) và tại thủ đô Jakarta (Indonesia), Công ty Điện lực quốc gia cũng đang kêu gọi người dân tắt bớt ít nhất 2 bóng đèn trong giờ cao điểm từ 17giờ - 22giờ
Trang 221.4.2 Tình hình tiết kiệm điện của Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, thông qua Chương trình mục tiêu Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã thực hiện kiểm toán năng lượng và khảo sát một số doanh nghiệp tiêu biểu, cho thấy tiềm năng tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp như: xây xát, xi măng, thép, thủy sản,… là rất lớn Cụ thể, qua kiểm toán năng lượng tại 5 nhà máy xi măng cho thấy mức tiết kiệm điện trung bình đạt khoảng 50,8 kWh/tấn xi măng hay 30,7% và mức tiết kiệm nhiệt trung bình đạt khoảng 1,5 GJ/tấn clinke hay 6,2% Đối với các nhà máy nhựa, mức tiêu thụ điện trung bình là 1,85 kWh/kg hay 6,7 GJ/tấn Theo ước tính, với mức giảm tiêu thụ năng lượng tiềm năng 10%, mức tiết kiệm năng lượng sẽ là 7,7 tỉ kWh và mức đầu tư khoảng 1 triệu USD
Năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 19/2005/CT-TTg về việc thực hiện tiết kiệm trong sử dụng điện với các yêu cầu cụ thể như: các cơ quan, công sở tắt các thiết bị dùng điện không cần thiết khi ra khỏi phòng và hết giờ làm việc Cắt hẳn nguồn điện khi không sử dụng các thiết bị Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt bớt đèn chiếu sáng khi số người làm việc trong phòng giảm Giảm ít nhất 50% số lượng đèn chiếu sáng chung ở hành lang , Giảm 50% số lượng đèn chiếu sáng tại các tuyến phố, quảng trường, công viên, vườn hoa công cộng, trừ biển báo, đèn hiệu chỉ dẫn an toàn giao thông Các nhà hàng, cơ sở dịch vụ thương mại cắt giảm ít nhất 50% số lượng đèn quảng cáo, trang trí, chỉ dùng 01 bóng đèn chiếu sáng biển hiệu
Ngoài ra, trong năm 2016 Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 563/QĐ-TTg, ngày 05/04/2016, phê duyệt danh mục Dự án “Tiết kiệm năng lượng cho ngành Công nghiệp Việt Nam” vay vốn Ngân hàng Quốc gia thế giới tại Việt Nam Dự án được triển khai sẽ tiết kiệm khoảng 1,86 triệu tấn dầu quy đổi (TOE) hàng năm và lượng giảm phát thải
nhà kính (CO2) hàng năm dự kiến đạt được là 9,67 triệu tấn, sẽ có khoảng 50 doanh nghiệp công nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ Dự án; 60 dự án tiết kiệm năng lượng và năng lượng hiệu quả được phát triển; xây dựng cơ sở dữ liệu về tiết kiệm năng lượng quốc gia cho
Trang 23Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG truyền phổ biến thông tin, vận động cộng đồng, nâng cao nhận thức sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả thông qua nhiều hình thức như: Cuộc thi viết về tiết kiệm điện, hỗ trợ mua máy nước nóng năng lượng mặt trời, trao thưởng cho các khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, các cuộc thi về “sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả” trong học đường, bước đầu đã đạt được một số kết quả rất khả quan
1.5 Số liệu thống kê về tiết kiệm điện
Ở Việt Nam, để sản xuất ra 1 kWh điện sẽ phát thải vào môi trường 0,43 kg CO2 - Chi phí đầu tư sản xuất 1 MW điện từ nhà máy thuỷ điện lớn (trên 50 MW) là 1 triệu USD Theo điều tra năm 2008, tại TP Hồ Chí Minh, 65% những người được phỏng vấn cho rằng, hầu hết hàng xóm của mình đều không thực hiện hành vi tiết kiệm năng lượng
Giai đoạn 2010 – 2011, EVN đầu tư khoảng 34 tỷ đồng cho các chương trình tiết kiệm điện Theo Tổng Công ty Điện lực TP.HCM, hiện sản lượng điện tiết kiệm trong 1,7 triệu khách hàng sinh hoạt, thắp sáng đạt khoảng 40 triệu kWh/năm Sản lượng tiết kiệm điện tại các cơ quan hành chính sự nghiệp là 34 triệu kWh, giảm 14,4% so với trước khi có chủ trương tiết kiệm điện
Nên sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời, giúp cắt giảm phụ tải đỉnh Theo tính toán, trong 2 năm 2010 – 2011, nếu đưa 20.000 bình nước nóng năng lượng mặt trời vào
sử dụng sẽ cắt giảm được 30 MW công suất đỉnh, tiết kiệm 18,75 triệu kWh/năm, giảm phát thải 85.312 tấn CO2 và giảm được chi phí phát điện trong vòng 7 năm là hơn 100 tỷ đồng
Theo Chương trình quảng bá, thúc đẩy sử dụng bình đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời do EVN triển khai thực hiện trong 2 năm 2010 – 2011, số lượng thiết bị lắp đặt trực tiếp từ dự án là 20.000 bình Khách hàng tham gia được hỗ trợ 1 triệu đồng/bình tiền mua thiết bị và được hỗ trợ một phần lắp đặt thiết bị Trong năm 2008 – 2009, các chương trình tiết kiệm điện của EVN đã giúp tiết kiệm 1.945 triệu kWh - Năm 2010, có 100 ngàn hộ gia đình tại 10 quận nội thành Hà Nội đã tham gia phong trào “Sử dụng năng lượng hiệu quả trong mỗi hộ gia đình là tiết kiệm cho thế hệ tương lai” do UBND TP Hà Nội tổ chức.[8]
Năm 2010, tại TP Hồ Chí Minh, 87,6 ngàn hộ gia đình trên địa bàn đã đăng ký tiết kiệm điện năng với Trung tâm Tiết kiện năng lượng TP Hồ Chí Minh
Trang 24Giai đoạn 2005 – 2007, EVN đã bán 1 triệu đèn compact với giá bằng 50 % so với giá thị trường, mỗi gia đình được mua 2 đèn; các cơ quan thuộc UBND thị trấn, UBND xã, phường, trường học đóng tại địa phương; các tổ dân phố, thôn xóm được mua đèn cho nhu cầu chiếu sáng đường xá trong thôn, ngõ xóm,… - Giai đoạn 2008 – 2010, EVN tiếp tục triển khai chương trình 5 triệu đèn compact để cùng các nhà cung cấp phát triển thị trường, thúc đẩy sử dụng đèn compact trong cộng đồng
Mỗi gia đình Việt Nam chỉ cần tắt bớt một bóng đèn vào thời gian từ 8h – 22h, sẽ tiết kiệm được hàng ngàn tỷ đồng chi phí ngân sách đầu tư cho việc bổ sung nguồn điện, lưới điện
Từ tháng 7 đến tháng 12/2010, EVN triển khai chương trình đổi 1 triệu đèn sợi đốt bằng đèn compact (loại 18 W) cho 800 ngàn hộ nghèo tại các tỉnh Tây Nam bộ và một số tỉnh Đông Nam bộ Chương trình sẽ tiết kiệm khoảng 38,4 triệu kWh/năm Trong 5 năm sẽ tiết kiệm 192 triệu kWh, tương đương 168,5 tỷ đồng tiền điện Thị trường đèn compact đã có
sự phát triển rất nhanh chóng, từ mức tiêu thụ 500.000 cái năm 2003, đến năm 2009 tiêu thụ
31 triệu cái
Năm 2010, cả nước còn khoảng 20 triệu bóng đèn sợi đốt đang được sử dụng trong hộ gia đình, chủ yếu là các hộ nghèo với mức sử dụng bình quân 1,14 đèn/hộ Đèn Led là công nghệ mới có nhiều ưu điểm, có thể tiết kiệm tới 60% điện năng so với đèn thông thường, rất thân thiện với môi trường Các đơn vị điện lực không tính lợi nhuận trong việc bán đèn compact, nên giá bán đèn thấp hơn giá thị trường từ 5 – 10% Các chương trình truyền thông quảng bá được thực hiện đồng thời với việc phân phối đèn Theo thống kê của Hội chiếu sáng Việt Nam, năm 2009, cả nước có khoảng 800 nghìn bóng đèn chiếu sáng công cộng với các loại công suất khác nhau, mỗi năm tiêu thụ hết 584 triệu kWh
Theo đánh giá hiện nay, nếu thực hiện quản lý năng lượng: Trong lĩnh vực công nghiệp có thể tiết kiệm được 20% - 25% Khu vực cơ quan hành chính sự nghiệp còn có thể tiết kiệm được 10% hoặc hơn nữa Tổng điện năng tiêu thụ cho tất cả các lĩnh vực chiếu sáng chiếm khoảng 25% tổng điện năng thương phẩm, tương đương trên 21 tỷ kWh/năm
Trang 25Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG học được thực hiện trong hai năm 2006 – 2007 Đến nay, có khoảng 15.000 phòng học đã được lắp đặt hệ thống chiếu sáng tương tự với nguồn kinh phí từ quỹ hội cha mẹ học sinh, từ vốn ngân sách của địa phương và ngành giáo dục… - 6 tỷ đồng/năm là số tiền đã tiết kiệm được nhờ sự vận hành hiệu quả trong chiếu sáng công cộng ở TPHCM của Trung tâm điều khiển hệ thống chiếu sáng công cộng (thuộc Công ty Chiếu sáng công cộng TP Hồ Chí Minh) Đây là trung tâm điều khiển, quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng quy mô lớn nhất nước ta
Nếu thực hiện tốt việc tiết kiệm năng lượng, trên 1.000 nhà máy đang hoạt động trong các KCN tại TP Hồ Chí Minh sẽ tiết kiệm điện năng khoảng 3%/năm, tương đương khoảng
90 triệu kWh Trong năm 2009, khu vực này đã tiết kiệm 50 triệu kWh (chiếm 27% sản lượng điện toàn TP) [6]
Trang 26Chương 2:
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THÉP 2.1 Tình hình khai thác và sử dụng năng lượng ngành thép trên thế giới
2.1.1 Các khu vực sản xuất và tiêu thụ thép của các nước trên thế giới
Từng là các nước đi đầu về sản xuất thép, tuy nhiên Mỹ, Đức và Nga lại tụt lùi lại so với các nước đang phát triển do sự già hóa của ngành công nghiệp và tổn thương sau những khủng hoảng của nền công nghiệp – tài chính: Như cuộc đại khủng hoảng 1929 hay cuộc suy thoái tài chính năm 2008 Chính những vấn đề này đã làm giảm đi đáng kể tốc độ phát triển của ngành thép của các cường quốc này và tạo cơ hội cho châu Á nổi lên như mội ông lớn mới trong ngành sản xuất thép
Trung Quốc, là ví dụ điển hình, đã định hình lại ngành thép thế giới và đứng lên dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh phân phối thép
Hình 2.1: Biểu đồ các nước đứng đầu về sản xuất thép
Nguồn sản xuất quặng sắt:
Trang 27Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
Hình 2.2: Biểu đồ các quốc gia khai thác quặng săt lớn và sản lượng
Thép phế
Hình 2.3: Biểu đồ các khu vực sản xuất và nhập khẩu thép phế
Điện
Trang 28Hình 2.4: Biểu đồ giá tiền điện trên mỗi kWh của các nước
Do công đoạn ché biến quặng sắt chỉ đem lại giá trị rất thấp, nên hầu như các nước đều cố gắng đảm nhiệm công việc chế tạo ra thép thành phẩm Giai đoạn luyện gang tạo ra nhiều giá trị nhất trong chuỗi, nên là được coi là một công đoạn thiết yếu đối với những nước tiếp cận và sản xuất thép
Các nước từng chỉ thực hiện việc cung cấp tài nguyên làm sắt như Trung Quốc, Ấn
Độ hay Đông Nam từ những năm 2000 trở đi do chuyển dịch từ khai thác và chế biến quặng sang chế tạo thép thành phẩm mà đã trở nên lớn mạnh vằ bắt kịp vào chuỗi giá trị của thế giới
Trang 29Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
Hình 2.5: Biểu đồ giá thép tương ứng trên mỗi tấn sản phẩm
Hình 2.6: Biểu đồ sản lượng thép theo khu vực và cơ cấu cung cầu thép theo khu vực
2.1.2 Mức điện năng tiêu thụ trung bình để sản xuất sản phẩm thép trên thế giới
Ở các nước tiên tiến như Nhật Bản, điện năng tiêu thụ cho 1 tấn thép thành phẩm chỉ khoảng 350 – 400 kWh.[7]
Trang 302.1.3 Hiện trạng phát thải khí thải của Ngành Thép trên thế giới
Sản xuất thép thuộc ngành công nghiệp nặng quan trọng, phục vụ cho xây dựng cơ bản nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường khí, đất và nước.Sản xuất 1 tấn thép sẽ thải ra từ 0,5đến 1 tấn xỉ, 10.000m3 khí thải, 100kg bụi, 80m3 nước thải(1), trong đó, nhiều chất gây ô nhiễm,như: axit, kiềm, các nguyên tố hợp kim Trong các vùng luyện kim, khí quyển bị nhiễm bẩn chiếm tỷ lệ gần 60% Ngoài nguyên liệu chính là thép phế, sắt xốp, gang thỏi hoặc gang lỏng, vôi, việc sản xuất thép còn sử dụng năng lượng như than, gas, điện, dầu, oxy, nước và các chất phụ trợ,như:hợp kim, điện cực, khí trơ, vật liệu đầm lò Đặc biệt, quá trình sản xuất gang thép gây ô nhiễm môi trường khí với lượng bụi lên tới hàng nghìn tấn/năm, thành phần chủ yếu là các oxit kim loại, cácloại oxit khác (FeO, MnO, Al2O3, SiO2, CaO, MgO) và các loại khí thải chứa CO, CO2, SO2, NO2,gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà trực tiếp là công nhân làm việc trong nhà máy Trong các nhà máy luyện thép bằng phương pháp truyền thống, nước làm mát thường bị nhiễm kim loại nặng và các chất phụ gia nên không được tái sử dụng mà xả ra môi trườngcùng nguồn nước thải khác Thành phần của nước thải này rất khó xử lý vàchứa nhiều hóa chất độc hại,như:phenol, xyanua, ammonia, kim loại nặng và một số chất hữu cơ khác.Ngoài ra, ô nhiễm nhiệt, rung động, tiếng ồn cũng là những vấn đề ngành thép phải quan tâm.[12]
Hiện nay, các tỉnh, thành trong cả nước đềucó nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bảnnên ngành sản xuất thép có vai trò quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước, bình ổn thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho xã hội, Trong những năm qua, ngành thép Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng: năng lực sản xuất ngày càng tăng, sử dụng công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu về môi trường; tốc độ tăng trưởng sản lượng thép của các năm 2014-2015 đạt 19,8%-21,8%.Năm 2015,Việt Nam đã trở thành nước tiêu thụ nhiều thép nhất trong các nước Đông Nam Á Hệ thống sản xuất và phân phối đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu thép xây dựng cả nước (khoảng 6 triệu tấn thép xây dựng trong tổng cầu khoảng 20 triệu tấn thép) Một số doanh
Trang 31Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
2.2 Tình hình khai thác và sử dụng năng lượng tại ngành thép Việt Nam
2.2.1 Tổng quan về tình hình tiêu thụ thép tại Việt Nam
Trước năm 2000, ngành công nghiệp Thép Việt Nam chỉ bao gồm 2 công ty sản xuất Thép chính của nhà nước là: Công ty Gang Thép Thái Nguyên và công ty Gang Thép miền Nam Ngoài ra còn có 5 công ty liên doanh giữa Tổng công ty Thép Việt Nam với các công
ty nước ngoài là Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Singapo và Đài Loan
Từ sau năm 2000, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp và chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư trong nước, các thành phần kinh tế đã tham gia đầu tư vào công nghiệp Thép Cho tới nay, đã có trên 20 công ty của 5 thành phần kinh tế tham gia sản xuất Thép với tổng công suất cán Thép đạt 6 triệu tấn/ năm, trong đó có
3 công ty nhà nước, 5 công ty liên doanh, 3 công ty 100% vốn nước ngoài, còn lại là công ty
tư nhân, công ty cổ phần Việc tham gia của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào ngành Thép, không chỉ có tác dụng tăng nguồn vốn đầu tư mà còn giúp cho việc phân bổ nguồn vốn đầu tư trong xã hội một cách hiệu quả hơn Doanh nghiệp tư nhân do vốn đầu tư còn hạn chế, nên chủ yếu tập trung đầu tư các công trình quy mô vừa và nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh.[11]
Nguồn vốn nhà nước có điều kiện tập trung vào đầu tư mang tính chất chiến lược và định hướng cho sự phát triển ngành Chính vì vậy, ngành đã đáp ứng được nhu cầu Thép cho nền kinh tế, liên tục tăng từ 30% năm 1991 lên gần 40% năm 1995 và đạt 53% vào năm
2005
Năm 2005 nhu cầu Thép xây dựng cho thị trường trong nước khoảng từ 3,15 đến 3,3 triệu tấn, tăng 15% so với năm 2004 Điều này là thách thức rất lớn đối với ngành Thép Trong khi đó, theo dự báo, nhiều mặt hàng đầu vào như than, điện sẽ tăng và giá phôi Thép trên thế giới sẽ còn tăng do nhu cầu tái thiết của các nước Nam Á sau thảm họa động đất và sóng thần
Năm 2005, với mức tăng trưởng của nền kinh tế là 8,5% như kế hoạch đã đề ra, cùng với nhiều công trình đang xây dựng, sẽ có một số công trình xây dựng trọng điểm lớn được triển khai
Trang 32Để có thể bình ổn thị trường, trong năm 2005, ngành Thép đã đầu tư vào sản xuất phôi từ Thép phế và quặng sắt, giảm đến mức tối đa ảnh hưởng từ yếu tố bên ngoài, không phát triển các nhà máy cán Thép từ phôi nhập khẩu
Có 5 dự án với tổng công suất 1,6 triệu tấn phôi/ năm đã hoàn thành vào cuối 2005 là
dự án Nhà máy Thép Phú Mỹ, dự án Nhà máy Thép Cửu Long, dự án Thép Nam Lộc, dự án Thép Hưng Yên và dự án Thép Đình Vũ Sau khi 5 dự án này đi vào hoạt động sẽ nâng sản lượng phôi sản xuất trong nước lên 2,5 triệu tấn/ năm, đáp ứng khoảng 60% nhu cầu phôi trong nước.[2]
Năm 2005 là năm đầy sóng gió của ngành Thép Vẫn là khó khăn không thể cưỡng lại trước biến động của giá đầu vào trên thị trường thế giới, khi sự phụ thuộc vẫn quá lớn Khoảng 50% nguồn phôi cho sản xuất vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường thế giới
Cụ thể, đầu năm 2005, giá phôi chuyển biến mức tăng của năm 2004, vọt trên 410 USD/ tấn Giá Thép thành phẩm cũng tăng cao, có thời điểm lên đến 8,5 triệu đồng/tấn Nhưng rủi ro xảy ra khi chỉ sau đó vài tháng giá phôi Thép thế giới đột ngột giảm mạnh, xuống còn khoảng 350 USD/ tấn Những Doanh nghiệp “lỡ” nhập phôi giá cao trước đó đành chấp nhận lỗ nặng
Đến thời điểm tháng 8/2005, ngành Thép đón nhận một sự kiện “ngoại nhập” khá ngạc nhiên Đó là thông tin về một dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất trong lịch sử vào ngành Thép với tổng trị giá 1,2 USD Lập tức một “diễn đàn” được mở rộng trên báo chí về dự án này, và sâu hơn là “cái nhìn” về khả năng đầu tư vào ngành Thép
Đáng chú ý là một số dự án khác cũng có quy mô lớn lại ít được chú ý, dự án mỏ sắt Thạch Khê vẫn đứng yên Giữa tháng 11, thông qua Hiệp hội Thép, các Doanh nghiệp cam kết nâng giá thêm 100.000 - 200.000 đồng/ tấn Nhưng trên thực tế các Doanh nghiệp phía Bắc không thực hiện cam kết này và bán ra với giá thấp hơn
Doanh nghiệp Thép phía Nam phản ứng vì thiệt thòi do… thực hiện nghiêm túc cam kết Trong năm 2006, ngành Thép sẽ sản xuất gần 2 triệu tấn (tăng 122% so với năm 2005),
Trang 33Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG khỏi trên thị trường Đó là chưa tính đến những biến động đầu vào khác như giá than, điện, xăng dầu, cước vận tải…
Sáu tháng đầu năm, cả nước đã nhập khẩu khoảng 916.000 tấn phôi và 180.000 tấn Thép phế Từ tháng 3/2006, giá phôi Thép thế giới tăng khiến các Doanh nghiệp Việt Nam phải mua với giá cao, song đến nay cũng chưa vượt qua mức 425 USD/ tấn Giá phôi Thép nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2006 đạt 359,17 USD/ tấn thấp hơn so với cùng kỳ năm 2005 (396,26 USD/ tấn) Sản lượng phôi Thép 6 tháng toàn ngành đạt 415.000 tấn (trong đó của VSC khoảng 385.000 tấn), lượng phôi tồn kho khoảng 350.000 tấn
Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2006 giá Thép thành phẩm trong nước tăng và diễn biến phức tạp do phụ thuộc nhiều vào tình trạng giá phôi nhập khẩu lên xuống thất thường Vấn đề này đang được khắc phục dần vì theo Hiệp hội Thép Việt Nam, lượng phôi phụ thuộc nhập khẩu trước đây là 80% đã giảm xuống còn 70% và sẽ tiếp tục giảm khi Nhà máy Thép Phú Mỹ đi vào hoạt động với công suất 500.000 tấn phôi/ năm Ngoài ra, Thép Thái Nguyên cũng sản xuất được 240.000 tấn phôi/ năm, Thép Hoà Phát có công suất 200.000 tấn phôi/ năm Cuối năm 2006, sẽ có thêm Nhà máy Cửu Long (500.000 tấn/ năm), Nhà máy Vạn Lợi (200.000 tấn/ năm) đi vào hoạt động.[9]
Năm 2006, bên cạnh những cơ hội do khách quan đem lại như sau giai đoạn trì trệ rất dài, sản xuất - tiêu dùng Thép trên thế giới đã chuyển sang chu kỳ tăng trưởng cao, mặt bằng giá mới cho các sản phẩm Thép được xác lập, là cơ hội thuận lợi để nước ta đẩy mạnh sản xuất Thép trong nước, thay thế nhập khẩu, nhu cầu về Thép của Việt Nam tiếp tục tăng cao Đây là cơ hội thuận lợi để chuẩn bị và triển khai các bước xây dựng nhà máy liên hợp luyện kim khép kín với quy mô lớn, khả năng thu hút vốn đầu tư vào ngành Thép có dấu hiệu khả quan khi đã có nhiều tập đoàn sản xuất Thép lớn trên thế giới đến tìm cơ hội đầu tư vào Việt Nam Bên cạnh đó, ngành Thép Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức do tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ AFTA vào năm 2006 sẽ đưa thuế suất đối với các sản phẩm Thép từ các nước ASEAN xuống chỉ còn 0-5% Bên cạnh đó là việc triển khai thực hiện các cam kết song phương và đa phương (Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ), các Hiệp định thương mại giữa ASEAN và các nước, các tổ
Trang 34Việt Nam gia nhập WTO Tất cả những điều này sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp Thép nói riêng, trong đó rõ nhất là việc các rào cản nhằm bảo hộ ngành công nghiệp trong nước sẽ dần được dỡ bỏ Điều này sẽ tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với ngành công nghiệp Thép của nước ta.[10]
2.2.2 Mức tiêu tụ điện năng trung bình khi sản xuất sản phẩm thép
Theo số liệu thống kê năm 2010 của EVN thì Tập đoàn phải dành tới 4,67 tỷ kWh (chiếm 5,52%) điện phục vụ sản xuất cho ngành thép trong tổng số 85,7 tỷ KWh sản xuất được[38]
, và trong năm phải đầu tư khoảng 35.500 tỷ đồng cho hệ thống dây dẫn, máy biến
áp, nguồn điện… Trong khi đó, các dự án thép chỉ mới vận hành được khoảng 50% công suất[17] Với khả năng cung ứng của hệ thống điện hiện nay, EVN cho rằng việc cung cấp điện cho ngành Thép gây mất cân đối trong việc cấp điện cho các ngành khác và sinh hoạt của nhân dân
Hiện nay, Ngành Thép ở nước ta đang được mua điện năm 2009 với giá khoảng 909,28 đồng/kWh (tương đương 4,78 cent US/kWh), trong khi đó giá bán tương ứng ở Thái Lan là 8,12 cent US/kWh, ở Singapore là 14,1 cent US/kWh, ở Indonesia là 6,7 cent US/kWh [39]… Do sự chênh lệch lớn này nên hầu hết các nhà đầu tư và doanh nghiệp sản xuất thép không quan tâm đến vấn đề tiết kiệm điện năng trong sản xuất
Về mặt công nghệ, ở các nước tiên tiến như Nhật Bản, điện năng tiêu thụ cho 1 tấn thép thành phẩm chỉ khoảng 350 – 400 kWh trong khi Việt Nam phải cần đến 700 kWh [17] Như vậy, dự kiến những năm tới của Hiệp hội Thép Việt Nam thì ngành thép sẽ tăng sản lượng lên 10-12%/năm thì nguồn điện tiêu thụ cũng tăng thêm tương ứng Để giải thích cho
vấn đề này, trong Hội thảo Đánh giá tác động 2 năm gia nhập WTO với ngành Cơ khí, luyện kim, đóng tàu, TS.Nguyễn Văn Sưa – Viện trưởng Viện Luyện kim đen đã nêu lên
các lý do chính như sau:
Công nghệ kỹ thuật lạc hậu không cho năng suất cao trong quá trình sản xuất
Không có phương án vận hành hợp lý, gây lãng phí điện năng trong quá trình khởi
Trang 35Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG cao khả năng cạnh tranh, ngăn ngừa được nguy cơ phá vỡ cấu trúc quy hoạch giữa hai Ngành Điện – Thép mà còn có thể thu được lợi nhuận kinh tế từ các chứng nhận CDM.[6]
2.2.3 Hiện trạng phát thải khí thải của Ngành Thép tại Việt Nam
Hiện nay, hầu hết các nhà máy sản xuất Thép tại Việt Nam đang sử dụng công nghệ luyện thép bằng lò hồ quang điện Do đó, nguồn khí thải chủ yếu là khói thải từ lò hồ quang, lượng khí này có lưu lượng ước tính vào khoảng 50.000 m3/h, khí thải này chứa chủ yếu là bụi với hệ số ô nhiễm là 20 – 30kg/tấn sản phẩm, CO với hệ số ô nhiễm là 7 – 10kg/tấn sản phẩm Đối với một số ít các lò đúc nấu thép dạng thủ công thì khói thải từ nguồn này có chứa thêm các khí thải gây ô nhiễm như SO2, CO, NOx, bụi, CxHy Theo các số liệu đã được chứng minh và quy đổi từ BTN&MT và VSA thì hiện nay, để sản xuất ra 1 tấn Thép thành phẩm, các nhà máy sản xuất tại Việt Nam phải thải ra môi trường 2,9 tấn CO2, đây là một con số rất lớn so với thế giới (Nhật Bản: 1,3 tCO2/tsp, Hà Lan: 1,16 tCO2/tsp) Về vấn đề này, cũng như đã được nêu ở mục trên, sự chênh lệch này phụ thuộc vào các nguyên nhân chủ yếu là do công nghệ sản xuất lạc hậu, hao tổn nguyên – nhiên liệu nhiều, các nhà máy chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường… Báo cáo khảo sát và đo đạc thực trạng ô nhiễm không khí năm 2009 của Bộ Y tế phối hợp với BTN&MT trên phạm vi toàn quốc cho thấy:
Tại Tp.HCM, với toàn bộ các nhà máy thép của Công ty Thép Miền Nam, mỗi năm
sẽ thải ra môi trường một lượng chất ô nhiễm là
Bụi: 2.840 – 4.260 tấn/năm
CO: 994 – 1.420 tấn/năm
Tại Nhà máy sản xuất Sắt – Thép tại KCN Hòa Khánh – Đà Nẵng: kết quả đo đạc của
Sở TN – MT Đà Nẵng tại 9 lò nấu luyện phôi thép trong KCN Hòa Khánh cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm vượt tiêu chuẩn rất nhiều lần so với quy định của Bộ Y tế Trong đó, khí
CO vượt 67 – 100 lần, NOx vượt 2 – 6 lần, hơi Chì vượt đến 65.500 lần, bụi Kẽm 7,91mg/m3, bụi Đồng 0,03 mg/m3, bụi sắt 0,05 mg/m3… Các khí thải này đều không được
xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường Các giải pháp để thực hiện xử lý ô nhiễm tại các cơ
sở này là rất tốn kém nhưng không có hiệu quả Thêm vào đó, các lò này đều có công suất
Trang 36Các số liệu trên cho thấy, các nhà máy sản xuất Thép hiện nay chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề khí thải của nhà máy, lượng khí thải này không chỉ độc hại, đe dọa đến khí hậu, môi trường mà còn đe dọa trực tiếp đến các tài nguyên khác như: đất, nước, sinh thải…
và đe dọa nghiêm trọng đến sự sống của con người Do đó, việc ứng dụng CDM trong Ngành Công nghiệp Sản xuất Thép không chỉ là giảm điện năng tiêu thụ, năng lượng tiêu
hao mà mục đích chính đó là Làm sao giảm được lượng khí thải CO 2 khổng lồ của Ngành
Thép hiện nay
Như đã trình bày ở trên, lượng phát thải CO2 quá cao của nước ta xuất phát từ 2 nguyên nhân chủ yếu:
Công nghệ sản xuất cũ kỹ, lạc hậu, cho hiệu suất không cao so với thế giới
Các công nghệ xử lý khí thải không hiệu quả
Trong đó, nguyên nhân về công nghệ sản xuất là nguyên nhân chính yếu sản sinh ra lượng CO2 cao như vậy Do đó, giải quyết được vấn đề công nghệ sản xuất này, ta sẽ giảm được một lượng khí thải CO2 đáng kể.[12]
2.3 Nhược điểm trong quá trình sản xuất thép tại Việt Nam
Chi phí sản xuất một tấn thép cán ở Việt Nam rất cao so với thế giới Nếu loại trừ chi phí vận chuyển thì sản phẩm thép Việt Nam đang ở vị trí bất lợi về mặt chi phí Các chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất thép ở Việt Nam đều cao hơn so với mức bình quân của thế giới Chẳng hạn, mức tiêu hao phôi thép bình quân để sản xuất một tấn thép cán của Tổng công ty thép Việt Nam là 1.091 – 1.101 kg, trong khi của các công ty liên doanh VSC là 1.035 – 1.060 kg, và của công ty trung bình trên thế giới là 1.030 kg Đối với mức tiêu hao dầu FO bình quân: Của các nhà máy thuộc Tổng công ty thép Việt Nam là 50 – 60 lít, của các công ty liên doanh VSC là 27 – 45 lít, của công ty trung bình trên thế giới là 20 – 27 lít Đối với mức tiêu hao trục cán bình quân: của các nhà máy thuộc Tổng công ty thép Việt Nam là 2.0 – 3.0 kg, trong khi của các công ty liên doanh VSC là 0.26 – 0.5 kg, và của công
ty trung bình trên thế giới là 0.2 kg… Và mức tiêu hao vật chất quy ra tiền ( theo giá hiện
Trang 37Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG bình thé giới khoảng 14.3 USD/tấn thép cán Qua đó chúng ta thấy mức chênh lệch chi phí sản xuất là rất cao giữa các chủ thể này
Bên cạnh đó, theo đánh giá của các nhà quản lý thì lực lượng lao động trong ngành thép có kiến thức chuyên môn còn thấp, trong khi nguồn nhân lực được đánh giá là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cạnh tranh Đây là một trong những cản trở lớn đối với quá trình đổi mới công nghệ và nâng cao khả năng cạnh tranh
Một điểm yếu nữa là các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp liên quan đến ngành thép chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành thép Các ngành sản xuất nguyên liệu cho ngành thép chưa phát triển Ngành thép chủ yếu vẫn là gia công cán thép, nguyên liệu chủ yếu là nhập ngoại, do đó chất lượng và giá phụ thuộc vào thị trường thế giới, không chủ động được (đặc biệt là phôi thép ) Một số ngành khác có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất và khả năng phát triển của ngành thép như ngành năng lượng lại gây ra những ảnh hưởng tiêu cực Giá điện ở Việt Nam đang rất cao so với các nước trong khu vực ( cao gấp hai lần so với giá điện ở Inonêxia, 1.5 lần so với Thái Lan ) Ngành công nghiệp khí trong khai thác dầu mỏ chưa phát triển, khó có thể có được giá khí rẻ cho san xuất thép Ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam cũng đang ở tình trạng công nghệ lạc hậu, hiệu suất thấp
Hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển Hệ thống giao thông vận tải ở nước ta bắt đầu được chú ý xây dựng, nhưng nhìn chung còn chậm phát triển Nhiều khu mỏ quặng sắt nằm trong những khu vực đường giao thông khó khăn, xa khu công nghiệp chế biến, hệ thống cảng biển nước sâu còn thiếu…
Vấn đề này làm tăng chi phí vận chuyển, chậm khả năng phát triển và giảm khả năng cạnh tranh của ngành thép
Các ngành sử dụng thép làm nguyên liệu đầu vào như công nghiệp ô tô, xe máy, cơ khí chế tạo, đóng tàu… chưa phát triển ở Việt Nam và cũng đang trong thời kỳ khó khăn Do
đó, thị trường chưa hấp dẫn các nhà đầu tư sản xuất thép cao cấp
Cơ cấu sản xuát thép ở nước ta hiện nay đơn điệu và bất hợp lý Các nhà máy luyện thép thì ít ỏi trong khi các nhà máy cán thép đang mọc lên rầm rộ Ở nước ta chủ yếu luyện
Trang 38cacbon thép này có thể tới 4 triệu tấn/năm, trong khi lượng sử dụng chỉ bằng 1/2 số đó Các loại thép hình, thép tấm, thép ống… đều phải nhập khẩu khoảng vài triệu tấn/năm Vấn đề là
ở chỗ nước ta đang nhập siêu các loại sản phảm này
Trước tình hình nguồn năng lượng truyền thống ngày càng cạn kiệt, nhu cầu sử dụng ngày càng tăng và các vấn đề về môi trường đang là vấn đề thách thức đối với toàn cầu Điều đó
đã dẫn dến tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế Một số nước tìm nguồn năng lượng nguyên
tử, một số nước tìm đến nguồn năng lượng có nguồn gốc từ mặt trời, gió, nước, thủy triều, năng lượng địa nhiệt, sinh khối vv… Những nguồn năng lượng này có khả năng vô tận và khai thác sử dụng không gây ô nhiễm môi trường
Trang 39Luận văn GVHD: PGS.TS VÕ VIẾT CƯỜNG
Chương 3:
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM ĐIỆN
3.1 Lưu đồ phương pháp tiết kiệm điện cho nhà máy thép
Hình 3.1: Lưu đồ tiết kiệm điện trong nhà máy sản xuất thép
3.2 Đề xuất nhóm giải pháp tiết kiệm điện
KẾT TH C
[3] TIẾT KIỆM ĐIỆN CHO NHÓM
GIẢI PHÁP
i= 1÷3
Trang 403.2.1 Nhóm giải pháp tiết kiệm điện chi phí thấp
Bao gồm các giải pháp không cần chi phí đầu tư hay chi phí đầu tư một phần rất ít trong thực tế, không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị/ dây chuyền công nghệ Thời gian hoàn vốn dưới 3 tháng
Giải pháp: Quản lý năng lượng điện hiệu quả
Giải pháp này đòi hỏi Công ty phải dành nhiều thời gian trong việc giám sát, quản lý, đánh giá năng lượng điện Từ đó, kiểm soát được tình hình sử dụng năng lượng điện, tránh tình trạng suất tiêu hao năng lượng điện tăng bất thường nhưng không được phát hiện kịp thời, dẫn đến lãng phí và thất thoát Thời gian hoàn vốn dưới 1 năm
- Quản lý phụ tải: Chuyển dịch phụ tải không quan trọng / phụ tải không liên tục sang thời gian thấp điểm; Tắt các phụ tải không cần thiết trong thời gian cao điểm; Hoạt động hệ thống điều hòa trong thời gian thấp điểm bằng hệ thống lưu trữ nhiệt để vận hành trong thời gian cao điểm; Lắp đặt tụ bù để tăng hệ số công suất
- Các thiết bị quản lý nhu cầu: Đồng hồ báo thức ở một số điểm để can thiệp để cắt bớt một số nhu cầu; Đồng hồ báo thức có bộ cắt tư động một số nhu cầu; Đào tạo người công nhân và người vận hành để can thiệp thủ công ; Duy trì các bộ phân cắt tự động
Đề xuất:
Thay đổi hợp lý thao tác trong vận hành, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, sắp xếp ngăn nắp nhà xưởng, áp dụng các biện pháp đơn giản như tắt điều hòa nhiệt độ, tắt đèn, cắt điện cho thiết bị khi không sử dụng, đặt nhiệt độ điều hòa không khí trong phòng thích hợp, lắp đặt timer hay khen thưởng người lao động sử dụng điện một cách tiết kiệm v.v…
Hiệu quả mang lại:
Giúp Công ty kiểm soát được tình hình sử dụng điện tốt hơn Qua đó, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng điện cho các thiết bị, giảm thất thoát lãng phí điện, Giúp nâng cao nhận thức cho công nhân trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tiềm năng tiết kiệm của giải pháp này ước tính 5%