Ở giai đoạn này, trên cơ sở tố giác , tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có trách nhi
Trang 1A MỞ ĐẦU:
Tố tụng hình sự là một quá trình xem xét, giải quyết nguồn tin về tội phạm và giải quyết vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều chủ thể, được thực hiện qua nhiều giai đoạn tố tụng Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình
sự Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng rất quan trọng, đóng vai trò tiền đề cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Nếu việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện một cách kịp thời, có căn
cứ và đúng pháp luật sẽ góp phần đảm bảo cho phát hiện và xử lý tội phạm được được nhanh chóng, tránh tình trạng truy cứu trách nhiệm hình sự oan sai đối với người vô tội Ngược lại, nếu việc khởi tố vụ án hình sự không kịp thời sẽ có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, còn việc khởi tố vụ án không chính xác thì sẽ dẫn đến oan sai cho người vô tội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như trật tự xã hội Vì vậy, việc khởi tố vụ án hình sự cần phải đáp ứng được những yêu cầu chung về bảo vệ an toàn các hoạt động trong trật tự quản lý nhà nước và quản lý xã hội, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, điều tra, xử lý kịp thời, bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động này Khi nghiên cứu về giai đoạn này chúng ta không chỉ nghiên cứu về mặt nhiệm vụ, căn cứ để khởi tố, thủ tục khởi tố như thế nào mà chúng ta cần phải nghiên cứu sâu đến thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự mà đáng lưu ý là thẩm quyền khởi tố của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử Chính vì vậy, em đã chọn đề
tài tiểu luận là “ Phân tích quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử theo BLTTHS năm 2015” để phân tích và làm
sáng rõ một số vấn đề về thẩm quyền khởi tố của hai chủ thể này
Trang 2B NỘI DUNG
I Quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự:
1 Khái quát chung về khởi tố vụ án hình sự và quy định chung về thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự
a Khái niệm khởi tố vụ án hình sự:
Khởi tố vụ án là giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định không khởi tố vụ án hình sự hay khởi tố vụ án hình sự, là cơ sở để chấm dứt hoạt động tố tụng hình sự hay thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự
Ở giai đoạn này, trên cơ sở tố giác , tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc vào thời điểm người phạm tội tự thú hoặc khi tự mình trực tiếp phát hiện có dấu hiệu của tội phạm
b Quy định chung về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự:
Việc khởi tố vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự, bao gồm: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Điều 153 BLTTHS năm 2015 quy định: “1 Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với
tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạ t n n ụ iệ ơ quan đ ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độn điều t a iện i t ội đ n t đan t ụ iải qu ết qu địn tại ản iều n
Trang 3Cơ quan đ ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độn điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự t n t ờng hợp qu định tại iều 164 của Bộ luật này
3 Viện ki m sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự t n t ờng hợp:
a) Viện ki m sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều t a ơ quan đ ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độn điều tra;
b) Viện ki m sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
c) Viện ki m sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi
tố của Hội đ ng xét x
4 Hội đ ng xét x ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện ki m sát khởi tố vụ
án hình sự nếu qua việc xét x tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.”
2 Thẩm quyền khởi tố của Viện kiểm sát theo quy định của BLTTHS năm 2015
Theo Khoản 3 Điều 153 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự trong các trương hợp sau đây:
Một là, Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát
hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thấy có dấu hiệu của tội phạm mà không được khởi tố Đây là trường hợp quyết định không khởi tố vụ
án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, cần phải được khởi tố để điều tra Quyết định khởi tố vụ án được gửi cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra
Theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch Số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự có nêu “c) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự k ôn ó ăn
Trang 4cứ t ì ó ăn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết địn đó
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện ki m sát ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự t e qu định tại đi m a khoản iều 153, khoản 6 iều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự và g i Cơ quan điều t a đ tiến
n điều t a.”
Hai là, trong trường hợp trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, phát hiện thấy có dấu hiệu của tội phạm, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, gửi cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trực tiếp điều tra
Các trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định: “ iện ki m sát giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố t n t ờng hợp phát
hiện Cơ quan điều t a ơ quan đ ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động ki m tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà
KS đã êu ầu bằn ăn bản n n ôn đ ợc khắc phụ ”
Với quy định này, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện và xử
lý, không bỏ lọt tội phạm, VKS có quyền trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố Tuy nhiên không phải mọi trường hợp VKS đều trực tiếp giải quyết mà chỉ trong hai trường hợp
Trường hợp thứ nhất khi VKS phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng của cơ quan có thẩm quyền điều tra trong hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được hiểu là “việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm
Trang 5tra, xác minh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình
tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định
sự thật khách quan, toàn diện của nguồn tin về tội phạm”1
Trường hợp thứ hai khi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh có dấu hiệu
để lọt tội phạm và VKS đã có yêu cầu bằng văn bản nhưng cơ quan có thẩm
quyền điều tra không thực hiện
“Dấu hiệu bỏ lọt tội phạm trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ khởi tố vụ
án hình sự nhưng không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”2 mặc dù Viện kiểm sát đã nhiều lần có yêu cầu bằng văn bản
Khi VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKS có đầy đủ các quyền như cơ quan có thẩm quyền điều tra điều tra được quy
định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 Đó là Viện kiểm sát cũng có
quyền thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
để kiểm tra, xác minh nguồn tin; tổ chức khám nghiệm hiện trường; khám
nghiệm tử thi; quyền trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản
Kết thúc việc kiểm tra, xác minh các căn cứ giải quyết, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố (Khoản 1 Điều 147 BLTTHS năm 2015)
1 Điểm 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017
2 Điểm 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017
Trang 6Ba là, trong trường hợp qua các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm, thì Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, gửi cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án
Bốn là, trong trường hợp qua việc xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử yêu
cầu khởi tố mà Viện kiểm sát thấy yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử là có căn
cứ thì Viện kiểm sát quyết định khởi tố vụ án Quyết định khởi tố vụ án được chuyển cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra
Ngoài ra còn có quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch Số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa cơ quan
điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của bộ luật tố tụng
hình sự có nêu “T ờng hợp Viện ki m sát yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì chậm nhất 03 ngày, k t ngày nhận đ ợc yêu cầu Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện ki m sát quyết định việc khởi tố t e qu định tại khoản iều 15 đi m d khoản 1 iều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự và g i Cơ quan điều t a đ tiến n điều
t a.”
Sau khi khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của Hội đ ng xét x hoặc nhận đ ợc quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đ ng xét x và các tài liệu có liên quan thì Viện ki m sát chuy n ngay quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có iên quan Cơ quan điều tra có thẩm quyền đ tiến n điều t a.”
Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử không có căn cứ, thì Viện kiểm sát không ra quyết định khởi tố vụ án và có văn bản trả lời về yêu cầu của Hội đồng xét xử
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra Quy đinh tại Khoản 2 Điều 154 BLTTHS năm 2015
Trang 7Thấm quyền quyết định khởi tố vụ án thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp cũng có quyền này khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự.Cụ thể, tại quy định Điểm a Khoản 2 Điều 41 BLTTHS năm 2015 quy
định về Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát có nêu “Khi thực hành quyền công tố và ki m sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện t ởng Viện ki m sát có nh ng nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều t a ơ quan đ ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độn điều tra tiếp nhận, giải quyết ngu n tin về tội phạm, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quyết định khởi tố, không khởi tố t a đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này;”
Như vậy, so với quy định tại BLTTHS 2003, nếu như trong BLTTHS năm
2003, khi trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì Viện kiểm sát không có thẩm quyền khởi tố mà phải kiến nghị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án Tuy nhiên, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát được quyền khởi tố vụ án khi trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm Đây là một quy định nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của Viện kiểm sát trong việc phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời mọi loại tội phạm Bên cạnh đó, ở BLTTHS năm 2015 đã có thêm 2 trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án đó là khi Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và khi Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm Đối với trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì đương nhiên Viện kiểm sát cần phải có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự cũng như có thẩm quyền trực tiếp tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ theo luật định Đối với trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì cần lưu ý 2 vấn đề sau:
Trang 8Thứ nhất, ở giai đoạn tố tụng nào được xác định là trường hợp Viện kiểm sát
trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và khởi tố vụ án là trách nhiệm của Viện kiểm sát
Thứ hai, Trong giai chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà phát hiện
dấu hiệu tội phạm và căn cứ điểm b hoặc điểm c khoản 1 điều 280 BLTTHS 2015
để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung thì trong trường hợp này luật quy định Viện kiểm sát không có thẩm quyền khởi tố vụ án mà phải trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án
3 Thẩm quyền khởi tố của Hội đồng xét xử theo quy định của BLTTHS năm 2015
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 153 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không khởi tố ( có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm) Đây là trường hợp ngoài hành vi phạm tội đã bị khởi tố, điều tra, truy
tố và quyết định đưa ra xét xử, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm hoặc ngoài bị cáo còn có đồng phạm khác hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án chưa bị khởi tố, điều tra, truy tố Hội đồng xét xử không khởi tố vụ án hình sự nếu đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án của cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhưng không có căn cứ để tách vụ
án theo quy định tại khoản 2 Điều 170, khoản 2 Điều 242 của Bộ luật tố tụng hình
sự Vì nếu chưa có quyết định tách vụ án và không thể tách được thành các vụ án riêng biệt thì hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung (xem Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung).Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Toà án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp
Trang 9Trong trường hợp Tòa án phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới trước khi vụ án được đưa ra xét xử thì Tòa án không khởi tố vụ án mà sẽ ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung
Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử không có căn cứ, thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án cấp trên một cấp Thủ tục xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định khởi tố vụ án của Tòa án được thực hiện theo quy định tại Điều 361 BLTTHS năm 2015
II Những bất cập và hướng giải quyết về thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử
1 Những bất cập trong thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử:
a Những bất cập trong thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát
Trong giai đoạn khởi tố vụ án, hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là hoạt động chính trong việc phát hiện, xử lý tội phạm Quyết định khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án đòi hỏi tính có căn cứ, chính xác cao Để chứng minh các căn cứ này thì không cách nào khác là phải tiến hành kiểm tra, xác minh đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Hoạt động kiểm tra, xác minh mà thực chất là hoạt động điều tra tiền khởi tố, đòi hỏi người thực hiện phải được đào tạo chuyên sâu về điều tra, có kinh nghiệm, có đủ các cơ sở vật chất cho việc kiểm tra, xác minh Tuy nhiên cán bộ, kiểm sát viên thuộc các Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện, nơi trực tiếp giải quyết lại không được đào tạo về kỹ năng này, cơ sở vật chất chưa đầy đủ
Mặt khác, nhìn vào quy định của BLTTHS năm 2015 về các trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ta
thấy các trường hợp này đều thuộc trường hợp mang ý nghĩa tiêu cực - “phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng của cơ quan có thẩm quyền điều tra
Trang 10trong hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố” hay “cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh có dấu hiệu để lọt tội phạm và VKS đã có yêu cầu nhưng cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện”, có sự phản ứng trái chiều từ phía cơ quan có thẩm quyền
điều tra Trường hợp VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố bằng quyết định khởi tố vụ án hình sự mà theo quy định tại Điều 154 BLTTHS thì Viện kiểm sát phải chuyển vụ án đã được khởi tố cho cơ quan đã để xảy ra vi phạm điều tra như vậy sẽ không đảm bảo tính khách quan, rất dễ dẫn đến việc điều tra sơ sài hay thậm chí có thể kết quả điều tra theo hướng gỡ tội
b Những bất cập trong thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử:
Thứ nhất, hạn chế trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự của Tòa án các cấp (Hội đồng xét xử) Tuy BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 quy định Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm nhưng thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử hầu như khó có thể thực hiện trong thực tế
Thứ hai, quy định này của pháp luật còn mang tính quá mập mờ về thẩm quyền và nội dung Đầu tiên, Điều 153 chỉ quy định Hội đồng xét xử có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sư, nhưng không quy định cụ thể là Hội đồng xét xử cấp nào Thứ hai, không quy định cụ thể trong trường hợp nào Hội đồng xét xử sẽ tự mình ra quyết định khởi tố vụ án và trường hợp nào sẽ yêu cầu Viện kiểm sát khởi
tố Do vậy, Tòa án thường sẽ có xu hướng đẩy việc khởi tố về cho phía VKS, bởi
lẽ việc khởi tố sai một vụ án hình sự sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng
làm việc của cơ quan đó
Thứ ba, việc duy trì chức năng này không phải là không hợp lý nó sẽ giúp cho việc không để lọt tội phạm, ngăn chặn sự nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của công dân, bởi lẽ có thể trong quá trình điều tra, truy tố cơ