Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
LỚP TM45.1 BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ SÁU:
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (PHẦN CHUNG)
Giảng viên: Ngô Thị Anh Vân
Nhóm 6:
Trang 2Buổi thảo luận thứ sáu: BTTHNHĐ (phần chung) Vấn đề 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
*Tóm tắt Bản án số 20/2018/DS-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, TP Hồ Chí Minh
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bích Ngọc
Bị đơn: Ông Trần Quang Huy
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Kiều
Ông Nguyễn Hữu Nhưỡng
Bà Nguyễn Thị Lẽ
Ông Nguyễn Hoàng Phụng
Nội dung vụ án:
Cô Ngọc và thầy Huy cùng là giáo viên bộ môn Ngữ văn thuộc Trường Trung học phổ thông Thủ Thiêm Vào lúc 02 giờ 14 phút ngày 03/3/2017 ông Huy đã đăng một dòng trạng thái trên tài khoản facebook với nội dung nói cô Ngọc đã làm lộ đề thi, cho học sinh làm bài trước khi thi Dòng trạng thái gắn thẻ với facebook có tài khoản tên Tien Le và 7 người khác Dòng trạng thái này đã có 190 lượt thích (like), 23 lượt chia sẻ (share) và 67 bình luận (comment) với những nội dung rất phản cảm, thiếu căn cứ, cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm cô N
Theo cô Ngọc, sau khi đưa tin trên facebook, thầy Huy đã để một số bạn bè facebook của thầy là một số giáo viên và học sinh vào bình luận với những lời lẽ không có căn cứ, thiếu văn hóa, cố tình bịa đặt, vu khống, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của cô và người khác
Ngày 07/3/2017 ông Huy tiếp tục sử dụng tài khoản của mình kích động đám đông để đưa ra những lời bình luận mang tính nhục mạ để công kích cô Ngọc Sự việc đã được Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh lập vi bằng những nội dung này
Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Thủ Thiêm đã gửi báo cáo đến Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Thanh tra, Phòng Giáo dục trung học về quy trình làm đề các kỳ kiểm tra tập trung trong năm học 2016-2017 Báo cáo này kết luận không có chuyện lộ đề như thông tin của thầy H đăng tải trên tài khoản facebook cá nhân
Sau khi có kết luận của Ban Giám hiệu nhà trường, cô Ngọc đã nhờ luật sư hỗ trợ pháp lý, gửi văn bản yêu cầu thầy Huy phải gỡ bỏ các thông tin sai sự thật, đồng thời xin lỗi cô trên facebook Tuy nhiên, thầy Huy không thực hiện nên cô Ngọc quyết khởi kiện ra tòa để yêu cầu ông Huy bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền bồi thường là 30.160.000 đồng, xin lỗi công khai trên facebook và trước hội đồng sư phạm Trường Trung học phổ thông Thủ Thiêm
Nhận định của tòa:
Xét về mặt nội dung thì ông Huy không chỉ đăng tải thông tin về việc đề thi bị lộ mà còn khẳng định bà Lẽ và bà Ngọc cho học sinh của mình chép đề và lời giải phần Đọc- Hiểu trong đề thi trước hai ngày Qua đó có thể thấy việc ông Huy làm là hành vi trái pháp luật
Hướng xét xử của tòa: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Ngọc.
Câu 1: Cho biết các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại do người gây ra) trong BLDS 2015?
Trang 3Trong BLDS 2015 ở chưởng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại mục Quy định chung Điều 584 đã nêu rõ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
“1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”
Câu 2: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa BLDS
2005 và BLDS 2015 1
Căn cứ pháp lý:
BLDS 2005 Điều 604: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
BLDS 2015 Điều 584: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điểm mới của BLDS 2015:
- Thứ nhất: Loại bỏ yếu tố “Lỗi”:
Nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được sử dụng như là căn cứ đầu tiên để xác định TNBTTH ngoài hợp đồng thì trong BLDS 2015, căn cứ xác định TNBTTH đầu tiên lại là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại
Thay đổi này được hiểu là BLDS 2015 đã quy định theo hướng người bị thiệt hại không có nghĩa
vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác định được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường (Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ đây sẽ thuộc về người
https://danluat.thuvienphapluat.vn/so-sanh-trach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong-giua-blds-2005-va-blds-20-173008.aspx
2
Trang 4gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm BTTH (khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được giảm mức bồi thường (khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015)
- Thứ hai: Bổ sung căn cứ “tài sản gây thiệt hại”
BLDS 2015 đã bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại” Cụ thể, theo khoản 3 Điều 584 BLDS 2015: Chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra Đây là một sự bổ sung hoàn toàn hợp lý bởi trên thực
tế, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng có thể phát sinh khi có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại.
Ví dụ như: Điều 605 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác ”
- Thứ ba: Bao quát định nghĩa về chủ thể được bồi thường
Khi xác định chủ thể được BTTH, BLDS 2015 đã quy định theo hướng khái quát hơn, không còn chia ra trường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ thể khác như BLDS 2005 nữa Khoản 1 Điều 584
BLDS 2015 chỉ quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
“Người khác” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể
khác và như vậy đã bao hàm được tất cả các loại chủ thể được BTTH như quy định tại BLDS 2005 trước đây
- Thứ tư: Mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
BLDS 2005 quy định người nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, BLDS 2015 lại quy định thêm trường hợp ngoại lệ, đó là
“trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Đây là một quy định rất phù hợp,
bởi vì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng về nguyên tắc là được đặt ra cho chính chủ thể có hành vi gây thiệt hại, nhưng có khi lại là người khác
Ví dụ như: Điều 586 về Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân, trong trường hợp này, người gây ra thiệt hại là con nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường lại là cha mẹ hay người giám hộ; Điều 598 quy định về BTTH do người thi hành công vụ gây ra, trong trường hợp này, người gây thiệt hại là người thi hành công vụ nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường là cơ quan, tổ chức quản lý cán
bộ, công chức…
Câu 3: Trong bản án về bồi thường thiệt hại do dùng facebook nêu trên, theo Tòa án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã hội đủ chưa? Vì sao?
Theo Tòa án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã đủ rồi vì trong bài đăng facebook của ông Huy nói về việc đề bị lộ và khẳng định bà Lẽ và bà Ngọc cho học sinh của mình chép
đề và lời giải phần Đọc – Hiểu trong đề thi vào hai ngày trước khi tới ngày thi Từ cách dùng từ của ông Huy đã đủ để người đọc hiểu rằng chính bà Lẽ và bà Ngọc là những người làm lộ đề thi Và việc ông Huy đăng tải các thông tin chưa được kiểm chứng trên facebook đã làm ảnh hưởng đến danh dự của bà Ngọc Vấn đề này đã rơi vào trường hợp của khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định về căn cứ
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
Trang 5danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác liên quan có quy định khác”.
Câu 4: Theo anh/chị, trong vụ việc trên, đã hội đủ các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa? Vì sao? (anh/chị đánh giá từng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được đáp ứng chưa).
Theo quy định của pháp luật, căn cứ tại Điều 584 BLDS 2015 Căn cứ làm phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chúng ta có thể hiểu như sau:
Thứ nhất, đã có thiệt hại cụ thể xảy ra
Thứ hai, thiệt hại đó là do hành vi trái pháp luật gây nên
Thứ ba, thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật
Căn cứ vào các sự kiện pháp lý đã xảy ra trong bản án ta có thể thấy các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã hoàn toàn phù hợp và đầy đủ Cụ thể ở bản án này như sau:
Thứ nhất, việc làm của ông Huy đã gây ra thiệt hại cụ thể đối với bà Ngọc Bà Ngọc đã phải chịu các lời vu khống, bịa đặt, bị công kích cũng như xúc phạm về danh dự, nhân phẩm
Thứ hai, thiệt hại này là do hành vi trái pháp luật của ông Huy cụ thể là hành vi xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của bà Ngọc
Thứ ba, thiệt hại này chính là hậu quả của hành vi trái pháp luật của ông Huy
Vấn đề 2: Xác định tổn thất về tinh thần được bồi thường
*Tóm tắt bản án số 08/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện IA Grai tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Nhị.
Bị đơn: Anh Vũ Minh Hiếu.
Nội dung vụ án: Anh Hiếu đánh bà Nhị gây ra thương tích nên bà yêu cầu anh Hiếu bồi thường
thiệt hại cho bà Nhị số tiền là 80.440.000 đồng, trường hợp anh Hiếu không đủ tài sản để chi trả thì người đại diện hợp pháp sẽ thay phần anh Hiếu chi trả
Anh Hiếu, ông Dư và bà Huyền không đồng ý bồi thường vì cho rằng anh Hiếu không đánh bà Nhị
Quyết định của Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của bà Nhị bao gồm buộc anh Hiếu phải bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Vũ Thị Nhị về các khoản trong phần quyết định Với tổng số tiền bồi thường thiệt hại là 80.440.000 đồng Trong trường hợp anh Hiếu không đủ tiền để chi trả cho
bà Nhị thì người đại diện hợp pháp của anh Hiếu đó là bố mẹ của anh sẽ phải chịu trách nhiệm Bao gồm khoản tiền đền bù về sức khỏe và tinh thần
*Tóm tắt Bản án số 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc:
Bị cáo: Nguyễn Văn A
Người bị hại: Chu Văn D.
Nội dung vụ việc: Do bất mãn với việc D có lỗi mà không nhận ngay từ đầu nên A đã dùng chân
trái đá trúng vào vòng ngực của D làm D gục xuống bất tỉnh Sau đó D bị chấn thương dẫn đến tử vong
Do hành vi phạm tội là “Cố ý gây thương tích” nên A bị tuyên 17 năm tù đồng thời phải bồi thường chi phí mai táng cho D và bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm cho gia đình người bị hại là D
4
Trang 6*Tóm tắt bản án số 31/2019/HS-PT ngày 10/6/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên:
Bị cáo Ksor Y Ký có hành vi xâm phạm thân thể của bị hại Kpa Hờ Miên cụ thể là hành vi hiếp dâm Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HSST ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn
La đã tuyên Ksor Y Ký phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” Về trách nhiệm dân sự trong trường hợp này đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị hại Tòa đã áp dụng các quy định tại Điều 590 và Điều 592 BLDS 2015 để yêu cầu bị cáo phải bồi thường những khoản thiệt hại sau đây: chi phí điều trị, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, chi phí và phần thu nhập thực tế bị mất đi của người chăm sóc bị hại trong thời gian nghỉ để chăm sóc bị hại, một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bên cạnh đó là một khoản bồi thường cho danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Tại Tòa phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
Câu 5: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổn thất tinh thần được bồi thường?
So sánh Điều 611 BLDS 2015 và Điều 592 BLDS 2015, ta nhận thấy những điểm mới trong BLDS 2015:
• Thứ nhất, có sự thay đổi về chủ thể BLDS 2015 xác định người bồi thường là “người chịu trách nhiệm bồi thường” thay vì “người xâm phạm” như BLDS 2005 Điều này có nghĩa BLDS 2015
đã mở rộng phạm vi đối tượng phải bồi thường tổn thất Nếu như BLDS 2005 chỉ quy định người bồi thường là người xâm phạm, thì đối với BLDS 2015 người bồi thường còn bao gồm cả những đối tượng không phải người xâm phạm nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường trên thực tế Ví dụ như cha
mẹ (người giám hộ) chịu trách nhiệm bồi thường cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi theo khoản 2, 3 Điều 586 BLDS 2015; hoặc pháp nhân đối với người của pháp nhân Bên cạnh đó, nếu tổn thất tinh thần xảy ra do tài sản, vật nuôi, cây cối, công trình xây dựng,… thì chủ sở hữu là người có trách nhiệm chịu bồi thường
• Thứ hai, mở rộng phạm vi các trường hợp vi phạm do luật quy định tại điểm c Điều 592 BLDS
2015 Điều này nhằm đảm bảo vững chắc khung hành lang pháp lý, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của người bị xâm phạm
Câu 6: Theo pháp luật hiện hành, tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm có được bồi thường không? Vì sao?
BLDS 2015 thừa nhận cả việc bồi thường thiệt hại về vật chất lẫn tổn thất về tinh thần Thế nhưng quy định liên quan đến vấn đề bồi thường tổn thất về tinh thần lại không được nhắc đến ở phần nội dung tài sản bị xâm phạm Cụ thể tại Điều 589 BLDS 2015:
“Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1 Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
2 Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút;
3 Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại;
4 Thiệt hại khác do luật quy định.”
Như vậy theo góc độ văn bản, BLDS 2015 không quy định rõ khả năng bồi thường tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm Tuy nhiên tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã bước đầu ghi nhận khả năng bồi thường loại tổn thất này, cụ thể là vấn đề bồi thường tổn thất về tinh thần khi có việc xâm phạm tới quyền sở hữu trí tuệ (một loại tài sản) theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 204 Luật sở hữu
Trang 7trí tuệ 2005 về thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: “Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.” Với thực tiễn, từ một số vụ án xét xử, có thể thấy rằng vấn đề
bồi thường tổn thất tinh thần cũng được bên bị thiệt hại yêu cầu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Tuy nhiên pháp luật không có quy định nào thừa nhận cho phép bồi thường tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm Chính vì thế, Tòa án lúc giải quyết tranh chấp phát sinh từ những vụ việc nêu trên cũng tỏ ra lúng túng khi không biết dựa vào cơ sở pháp lý nào để giải quyết cho các bên mặc dù trên thực tế các Tòa án cũng có hướng chấp nhận giải quyết yêu cầu về bồi thường tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm hại
Nguyên nhân là do khác với những thiệt hại về vật chất, có thể tính toán một cách cụ thể, chính
xác bằng một số phương pháp nhất định thì tổn thất về tinh thần là những “thiệt hại phi vật chất”,
không thể cân, đo, đong, đếm một cách chính xác Chính vì vậy cho nên việc xác định thiệt hại, tổn thất
về tinh thần khi bị xâm phạm về tài sản để yêu cầu bồi thường là việc vẫn còn bỏ ngỏ
Câu 7: Đoạn nào của các bản án cho thấy Toà án đã áp dụng các quy định về tổn thất tinh thần của BLDS 2015 trong các vụ việc trên?
Đoạn của Bản án số 08/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện LA Grai tỉnh Gia Lai cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về tổn thất tinh thần của BLDS 2015 là:
“Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần.”
Đoạn của Bản án số 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về tổn thất tinh thần của BLDS 2015 là:
“Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999; Các Điều 584; Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường chi phí mai táng phí, bồi thường tổn thất
về tinh thần cho gia đình người bị hại tổng số tiền từ 130.000.000đ đến 155.000.000đ;”
Đoạn của Bản án số 31/2019/HS-PT ngày 10/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về tổn thất tinh thần của BLDS 2015 là:
“Trong trường hợp này theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại các khoản, gồm: Chi phí hợp lý cho việc chữa trị, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị hại gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Câu 8: Cho biết suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án không áp dụng BLDS 2005 mà áp dụng BLDS 2015 trong các vụ việc trên liên quan đến tổn thất tinh thần?
Việc Tòa án không áp dụng BLDS năm 2005 mà áp dụng BLDS năm 2015 là vì:
Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 590 BLDS năm 2015, “mức bồi thường tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định” Trong khi đó
6
Trang 8BLDS năm 2005 chỉ quy định mức tối đa là không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Điều 609 năm BLDS 2005), như vậy, BLDS năm 2015 quy định cao hơn so với BLDS năm 2005 đến 20 tháng Bởi lẽ, những mất mát về tinh thần tùy theo mức độ tổn hại mà đưa ra mức phạt phù hợp,
áp vào BLDS năm 2015 là phù hợp hơn, ở mức 30 tháng lương tối thiểu vẫn chưa thể bù đắp được những tổn hại về tinh thần cho những người bị hại
Thứ hai, theo quy định tại khoản 3 Điều 156 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy
định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”.
Vì vậy đối với cùng một vụ việc liên quan tới tổn thất tinh thần mà BLDS năm 2005 quy định khác với BLDS năm 2015 thì áp dụng BLDS năm 2015 là hợp lý
Thứ ba, khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, việc gây ra những tổn thương về tinh thần là điều không tránh khỏi, thậm chí còn có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng và lâu dài Đó là lý
do một số Tòa án chấp nhận các khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần trong các dạng hợp đồng như vậy cho dù pháp luật không có quy định về điều này Vì vậy, nếu áp dụng BLDS năm 2015, với mức 50 lần mức lương cơ sở, thì sẽ tạo điều kiện hơn cho bên yếu thế để nhận được mức đền bù xứng đáng hơn
Câu 9: Trong Bản án số 31, đoạn nào cho thấy người bị hại vừa bị xâm phạm về sức khỏe vừa bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm?
Trong Bản án số 31, đoạn dữ liệu cho thấy người bị hại vừa bị xâm phạm về sức khỏe vừa bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm nằm trong phần nhận định của Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người bị hại; mà còn gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển sinh lí tự nhiên của trẻ em…
Và đoạn: Mặt khác, ngoài quy định mức bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tại Điều
590 Bộ luật Dân sự năm 2015 như trên, bị cáo còn phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho người bị hại một khoản tiền tại Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, nhưng không quá mười lần mức lương cơ sở
Câu 10: Theo Tòa án trong Bản án số 31, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thiệt hại do danh
dự, nhân phẩm bị xâm phạm có được kết hợp với nhau không?
Theo Tòa án trong bản án trên, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm được kết hợp với nhau
Trong Bản án số 31, việc Tòa án viện dẫn Điều 590 BLDS năm 2015 về “Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” và Điều 592 BLDS năm 2015 về “Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”
cho thấy Tòa án đã theo hướng cho kết hợp việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và việc bồi thường thiệt hại do nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm Cụ thể, mức bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Kpá Hờ Miên được hưởng không quá 50 lần mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử, còn mức bồi thường tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì không quá 10 lần mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử
Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Bản án số 31 về khả năng kết hợp các loại thiệt hại khi nhiều yếu tố nhân thân của một chủ thể cùng bị xâm phạm.
Trang 9Nhóm đồng tình với hướng giải quyết trên của Tòa án trong Bản án số 31 về khả năng kết hợp các loại thiệt hại khi nhiều yếu tố nhân thân của một chủ thể cùng bị xâm phạm
Quy định của pháp luật hiện hành chưa có quy định nào thể hiện việc khi nhiều yếu tố nhân thân của một chủ thể bị xâm phạm thì các đối tượng này có được kết hợp với nhau hay không Tuy nhiên,
“thiệt hại do xâm phạm tới hai đối tượng trên độc lập với nhau và không có quy định nào loại trừ khả năng kết hợp nên không có lý do nào loại trừ việc kết hợp hai loại thiệt hại này; khi cả hai đối tượng này cùng bị xâm phạm thì chúng ta khai thác cả hai nhóm quy định này cùng một lúc nên hoàn toàn có thể kết hợp với nhau”.2 Việc kết hợp thiệt hại khi các yếu tố nhân thân của một chủ thể bị xâm phạm có thể giúp cho nạn nhân bị tổn thất về tinh thần, về vật chất… trong các vụ án xâm hại tình dục được bồi thường số tiền bù đắp tổn thất cao hơn, giúp họ có thể dùng nó để chữa trị những chấn thương tâm lý của mình, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người bị hại
Vấn đề 3: Thay đổi mức bồi thường đã được ấn định
Câu 12: Những khác biệt cơ bản giữa thay đổi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế và giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế.
Thay đổi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế
Giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế
Cơ sở pháp lý
Khoản 3 Điều 585 BLDS
2015: “3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực
tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”
Khoản 2 Điều 585 BLDS
2015: “2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc
có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.”
Điều kiện áp dụng - Mức bồi thường không
phù hợp với hoàn cảnh thực tế
- Bao gồm cả lỗi cố ý và cả
lỗi vô ý
- Mức bồi thường quá lớn
so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại
- Do không có lỗi hoặc lỗi
vô ý
năm 2016, tr.609
8
Trang 10- Có yêu cầu từ bên thiệt hại
và bên bị thiệt hại
- Có yêu cầu từ phía bị thiệt
hại
Mức thay đổi của khoản bồi
thường
- Khoản bồi thường có thể
tăng hoặc có thể giảm sau khi yêu cầu được Tòa án chấp thuận
- Khoản bồi thường chỉ
giảm khi yêu cầu được sự chấp thuận của Tòa án
Câu 13: Nêu rõ từng điều kiện được quy định trong BLDS để thay đổi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế.
Khoản 3 Điều 585 về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
“Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”
Có 3 điều kiện để thay đổi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế:
+ Phải có sự yêu cầu từ bên bị thiệt hại hoặc bên thiệt hại
+ Khi mức bồi thường không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội: sự chênh lệch về giá cả ngày càng lớn khiến vật giá ngày càng leo thang, mức bồi thường được quy định trước đó quá thấp so điều kiện hiện tại thì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường phù hợp; ngược lại, nếu mức bồi thường đã được quy định quá cao so với điều kiện hiện tại thì bên gây thiệt hại cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường thiệt hại phù hợp
+ Khi tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại bị thay đổi: trước đó Tòa án
đã quyết định một mức bồi thường thiệt hại nhất định cho bên bị thiệt hại khi bên bị thiệt hại bị thương bởi bên gây thiệt hại (ví dụ: gãy tay do bên gây thiệt hại ), tuy nhiên một thời gian sau, phát hiện bên bị gây thiệt hại thương tật nặng hơn (ví dụ: chấn thương vùng đầu) dẫn đến việc bên bị gây thiệt hại không thể đi làm; lúc này bên bị gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường thiệt hại cao hơn so với mức bồi thường trước đó
+ Khi khả năng kinh tế của bên gây thiệt hại có sự thay đổi: vì một vài lý do nào đó dẫn đến việc làm ăn của bên gây thiệt hại phá sản, tài sản của họ không thể đáp ứng được mức phạt bồi thường; khi
đó bên gây thiệt hại có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường phù hợp hoặc bên bị thiệt hại nếu cảm thông cũng có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường phù hợp
Câu 14: Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000 đồng của phía bị thiệt hại có được chấp nhận không? Vì sao?
Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000 đồng của bà Muối đối với bà Nghĩa được chấp nhận Theo khoản 3 Điều 585 BLDS 2015 quy định:
“ Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”
Ban đầu, bà Nghĩa bồi thường thiệt hại cho bà Muối với số tiền là 60.000.000 đồng sau khi thương lượng Một thời gian sau, vì phát sinh thêm việc phải thay khớp nên bà Muối muốn đòi thêm
70.000.000 đồng chi phí thay khớp phát sinh đó Mặc dù trước đó bà Muối cam kết rằng “bãi nại về dân sự không yêu cầu thắc mắc khiếu nại gì về sau”, “không yêu cầu khiếu nại gì về sau” nhưng theo
Điều Luật nêu trên, thì do mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế (thương tật của bà Muối