PHẦN I. MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của đất nước . Để hội nhập sâu rộng và phát triển nền kinh tế mạnh mẽ và bền vững, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm thị trường tiêu dùng trong nước. Xác định được tầm quan trọng của thị trường nội địa, ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí thư, đồng chí Trương Tấn Sang đã kí , ban hành văn bản số 246 – TBTW thông báo kết luận của bộ chính trị về tổ chức cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tuy nhiên việc tiến hành có đạt được kết quả hay không còn tùy thuộc vào sự nỗ lực của các doanh nghiệp, vào sự quan tâm của Đảng, nhà nước và vào cả chính những người tiêu dùng. Thực tế, trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng mô hình kinh tế này và đã thu được những kết quả như mong đợi. Cụ thể đó là đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Việc học tập và áp dụng mô hình này vào tình hình kinh tế Việt Nam là phù hợp. Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một chủ trương lớn của Bộ chính trị nên các tiêu chí có liên quan cần phải được thống nhất rõ ràng khi bắt tay thực hiện để tăng khả năng thành công. Việc nghiên cứu tập trung vào một mặt hàng nhất định góp phần làm rõ quan điểm, thái độ của người tiêu dùng về mặt hàng đó là cần thiết. Cụ thể như qua việc khảo sát thị trường trong thời gian vừa qua nổi lên những vụ việc liên quan đến sữa. Trong năm 2008, vụ sữa bột Trung Quốc có chứa chất Melamine ảnh hưởng lớn đến tâm lý của những người có con nhỏ đang dùng sữa bột. Điều đó có ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng trên phạm vi rộng những nước có nhập khẩu sữa bột của Trung Quốc, trong đó có Việt Nam. Cũng theo khảo sát, giá sữa ngoại trên thị trường Việt Nam có giá cao nhất trên thế giới, khiến người tiêu dùng trong nước chịu nhiều thiệt thòi. Như vậy, quyền lợi người tiêu dùng bị xâm phạm. Hơn nữa, ngày nay do cuộc sống người dân không ngừng tăng lên, sữa và các sản phẩm từ sữa càng trở nên gần gũi và dần trở thành thức uống dinh dưỡng không thể thiếu trong cuộc sống. Nhìn vào thực tế ta thấy, nếu trước những năm 90 chỉ có 12 nhà sản xuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữa bột ( nhập ngoại) thì hiện nay thị trường sữa Việt Nam đã có gần 20 hãng sữa nội địa và rất nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm năng với 80 triệu dân. Tổng lượng tiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh với mức từ 1520% năm, theo dự báo những năm tiếp theo, mức tiêu thụ sữa tại thị trường sẽ tăng gấp đôi và tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 2020. Nhu cầu sử dụng sữa bột cho trẻ nhỏ càng trở lên cần thiết khi trẻ em là đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng cao cho sự tăng trưởng và phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Dinh Duỡng Quốc Gia, kết quả nghiên cứu điều tra dinh dưỡng toàn quốc 20092010 tại 63 tỉnh, thành phố với hơn 50.000 trẻ từ 2 đến 5 tuổi cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 19,62%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,05%. Các kết quả nghiên cứu về vi chất dinh dưỡng trong nghiên cứu này cho thấy tình trạng thiếu vi chất còn phổ biến ở trẻ em Việt Nam, thể hiện qua tỷ lệ thiếu máu, thiếu vitamin A tiền lâm sàng (retinol huyết thanh thấp), thiếu kẽm… Bên cạnh đó vấn đề biếng ăn của trẻ em trong các nghiên cứu từ năm 2004 đến nay cũng cho thấy khá cao, căn cứ tỷ lệ bà mẹ mang con đến phòng khám (45,957,7%). Trẻ em là tương lai của đất nước, để đảm bảo trẻ tăng trưởng và phát triển tốt, sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu. Vì vậy, sữa đã trở thành một sản phẩm đặc thù dành cho trẻ em. Việc tìm hiểu thực trạng, quan điểm, thái độ của các bà mẹ trong việc sử dụng các sản phẩm sữa cho con cái họ là điều cần thiết. Đề tài “Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa Việt Nam dành cho trẻ em ” nhằm tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ về chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu, chế độ tiếp thị và chăm sóc khách hàng của sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em của Việt Nam và một số hãng sữa ngoại, từ đó nhằm đưa ra những khuyến nghị , giải pháp cho ngành sản xuất sữa bột dành cho trẻ em của Việt Nam nhằm cạnh tranh hiệu quả với các hãng sữa ngoại trong thị trường nội địa. 2. ĐIỂM LUẬN TÀI LIỆU Ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã ký ban hành văn bản số 264TBTW thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Mục đích cuộc vận động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hoá tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Từ cuộc vận động của bộ chính trị, vấn đề sử dụng hàng nội địa được đề cập đến nhiều và đã trở thành các hoạt động cụ thể. Thông qua việc điểm luận tài liệu, tác giả thấy rằng đã có một số công trình nghiên cứu, các bài báo đăng trên các tạp chí và các website đề cập đến vấn đề hàng nội địa và các vấn đề liên quan đến hàng nội địa – hàng Việt Nam, về việc người Việt ưu tiên dùng hàng Việt.
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
BSA : Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp NTL : Người trả lời
PVS : Phỏng vấn sâu
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thươngmại thế giới ( WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của đấtnước Để hội nhập sâu rộng và phát triển nền kinh tế mạnh mẽ và bền vững,Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm thị trường tiêu dùng trong nước Xácđịnh được tầm quan trọng của thị trường nội địa, ngày 7 tháng 8 năm 2009,thường trực Ban Bí thư, đồng chí Trương Tấn Sang đã kí , ban hành văn bản số
246 – TB/TW thông báo kết luận của bộ chính trị về tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Tuy nhiên việc tiến hành có đạtđược kết quả hay không còn tùy thuộc vào sự nỗ lực của các doanh nghiệp, vào
sự quan tâm của Đảng, nhà nước và vào cả chính những người tiêu dùng Thực
tế, trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng mô hình kinh tế này và đã thu đượcnhững kết quả như mong đợi Cụ thể đó là đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, TrungQuốc Việc học tập và áp dụng mô hình này vào tình hình kinh tế Việt Nam làphù hợp
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một
chủ trương lớn của Bộ chính trị nên các tiêu chí có liên quan cần phải đượcthống nhất rõ ràng khi bắt tay thực hiện để tăng khả năng thành công Việcnghiên cứu tập trung vào một mặt hàng nhất định góp phần làm rõ quan điểm,thái độ của người tiêu dùng về mặt hàng đó là cần thiết Cụ thể như qua việckhảo sát thị trường trong thời gian vừa qua nổi lên những vụ việc liên quan đếnsữa Trong năm 2008, vụ sữa bột Trung Quốc có chứa chất Melamine ảnhhưởng lớn đến tâm lý của những người có con nhỏ đang dùng sữa bột Điều đó
có ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng trên phạm vi rộng những nước có nhậpkhẩu sữa bột của Trung Quốc, trong đó có Việt Nam Cũng theo khảo sát, giásữa ngoại trên thị trường Việt Nam có giá cao nhất trên thế giới, khiến ngườitiêu dùng trong nước chịu nhiều thiệt thòi Như vậy, quyền lợi người tiêu dùng
bị xâm phạm Hơn nữa, ngày nay do cuộc sống người dân không ngừng tănglên, sữa và các sản phẩm từ sữa càng trở nên gần gũi và dần trở thành thức uống
Trang 3dinh dưỡng không thể thiếu trong cuộc sống Nhìn vào thực tế ta thấy, nếu trướcnhững năm 90 chỉ có 1-2 nhà sản xuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữabột ( nhập ngoại) thì hiện nay thị trường sữa Việt Nam đã có gần 20 hãng sữanội địa và rất nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềmnăng với 80 triệu dân Tổng lượng tiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh vớimức từ 15-20% năm, theo dự báo những năm tiếp theo, mức tiêu thụ sữa tại thịtrường sẽ tăng gấp đôi và tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 2020.
Nhu cầu sử dụng sữa bột cho trẻ nhỏ càng trở lên cần thiết khi trẻ em làđối tượng có nhu cầu dinh dưỡng cao cho sự tăng trưởng và phát triển về mọimặt Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Dinh Duỡng Quốc Gia, kết quả nghiêncứu điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 tại 63 tỉnh, thành phố với hơn50.000 trẻ từ 2 đến 5 tuổi cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm19,62%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,05% Các kết quả nghiên cứu về
vi chất dinh dưỡng trong nghiên cứu này cho thấy tình trạng thiếu vi chất cònphổ biến ở trẻ em Việt Nam, thể hiện qua tỷ lệ thiếu máu, thiếu vitamin A tiềnlâm sàng (retinol huyết thanh thấp), thiếu kẽm… Bên cạnh đó vấn đề biếng ăncủa trẻ em trong các nghiên cứu từ năm 2004 đến nay cũng cho thấy khá cao,căn cứ tỷ lệ bà mẹ mang con đến phòng khám (45,9-57,7%) Trẻ em là tương laicủa đất nước, để đảm bảo trẻ tăng trưởng và phát triển tốt, sữa và các sản phẩm
từ sữa dành cho trẻ em là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu Vì vậy, sữa đã trởthành một sản phẩm đặc thù dành cho trẻ em Việc tìm hiểu thực trạng, quanđiểm, thái độ của các bà mẹ trong việc sử dụng các sản phẩm sữa cho con cái họ
là điều cần thiết Đề tài “Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản
phẩm từ sữa Việt Nam dành cho trẻ em ” nhằm tìm hiểu quan điểm, thái độ của
phụ nữ về chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu, chế độ tiếp thị và chămsóc khách hàng của sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em của Việt Nam
và một số hãng sữa ngoại, từ đó nhằm đưa ra những khuyến nghị , giải pháp chongành sản xuất sữa bột dành cho trẻ em của Việt Nam nhằm cạnh tranh hiệu quảvới các hãng sữa ngoại trong thị trường nội địa
2 ĐIỂM LUẬN TÀI LIỆU
Trang 4Ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã
ký ban hành văn bản số 264-TB/TW thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về tổ
cuộc vận động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường,
tự tôn dân tộc, xây dựng văn hoá tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ranhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêudùng trong nước và xuất khẩu Từ cuộc vận động của bộ chính trị, vấn đề sửdụng hàng nội địa được đề cập đến nhiều và đã trở thành các hoạt động cụ thể
Thông qua việc điểm luận tài liệu, tác giả thấy rằng đã có một số côngtrình nghiên cứu, các bài báo đăng trên các tạp chí và các website đề cập đếnvấn đề hàng nội địa và các vấn đề liên quan đến hàng nội địa – hàng Việt Nam,
về việc người Việt ưu tiên dùng hàng Việt
“ Điều tra, khảo sát thị trường trong nước năm 2009” là một trong
những nhiệm vụ của Chương trình "Xúc tiến thị trường thương mại nội địa
năm 2009” do Bộ Công Thương giao cho Viện Nghiên cứu Thương mại tổ
chức và triển khai với các mặt hàng lương thực - thực phẩm, dệt may – da giầy
và đồ gia dụng Mục đích bước đầu của cuộc khảo sát nhằm cung cấp thông tin
để các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất, chiến lược kinh doanh,marketing và mạng lưới bán hàng của mình trong thời gian tới Nội dung thứnhất của cuộc điều tra xoay quanh tâm lý, nhận thức, hành vi mua sắm củangười tiêu dùng đối với hàng sản xuất trong nước của Việt Nam Nội dung thứhai của cuộc điều tra là mạng lưới phân phối: về số lượng, quy mô, loại hình,phân bố, xu hướng phát triển của các cơ sở kinh doanh Nội dung thứ ba là điềutra thương nhân: về năng lực kinh doanh, nhu cầu nâng cao kiến thức quản lý,
kỹ năng kinh doanh của thương nhân trong các khẩu phân phối: bán buôn, bán
lẻ Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng người dân trong nước khá coi trọng mặthàng nội địa có thương hiệu và họ có nhu cầu sử dụng những mặt hàng nội địa
có chất lượng và đảm bảo giá thành Tuy nhiên, một bộ phận người vẫn chưa cóniềm tin vào hàng nội bởi nhiều lý do về chất lượng, hàng hóa không đủ tiêuchuẩn…Về phía doanh nghiệp và những nhà sản xuất có nhu cầu hướng vào thị
Trang 5trường trong nước, nhưng do cơ sở hạ tầng và hệ thống phân phối chưa đáp ứngđược Cuộc khảo sát cũng chỉ đi tìm hiểu về thực trạng, hành vi và nhu cầu sửdụng các mặt hàng gia dụng như may mặc, thực phẩm của người dân và hệthống phân phối hàng của các doanh nghiệp mà chưa đi sâu tìm hiểu rõ lý do vàgiải thích vì sao người tiêu dùng có những hành vi như vậy.
Theo Khảo sát về người tiêu dùng của Tập đoàn Grey Group (Mỹ) đã
công bố kết quả nghiên cứu 3 năm đối với người tiêu dùng tại 16 quốc gia châu
Á, trong đó có Việt Nam vào năm 2008 Một thông tin đáng chú ý từ nghiên cứunày là 77% người Việt Nam ưa chuộng thương hiệu nước ngoài và những ngườiViệt Nam được phỏng vấn đều mong muốn có những thương hiệu từ trong nước
và khu vực ngày càng lớn mạnh Trong khi đó với các nước châu Á khác, con sốtrung bình là 40% Từ nghiên cứu này cho ta thấy thực trạng trong tâm lý sửdụng hàng hóa ở người dân vẫn còn tâm lý “sính ngoại” rất lớn Tuy nhiên,nghiên cứu chỉ dừng lại ở khảo sát về thực trạng việc lựa chọn các hãng sảnphẩm hàng nội địa hay hàng ngoại mà chưa đi sâu vào tìm hiểu quan điểm, thái
độ cũng như các tác động đến hành vi sử dụng các sản phẩm hàng nội địa hayhàng ngoại của một mặt hàng cụ thể nào, chỉ là chung chung về hành vi ưuchuộng hàng ngoại của người dân Việt Nam so với các nước khác trong khuvực
Nếu khảo sát của Tập đoàn Grey Group có kết quả như trên, thì cuộc khảo
sát về “Thái độ của người tiêu dùng đối với hàng Việt” do Công ty Tư vấn và
Nghiên cứu FTA Việt Nam thực hiện trong tháng 10 năm 2009 tại 4 thành phốchính là Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ và TP.HCM lại đưa ra kết quả khác Kếtquả cho thấy, 71% trong số 400 người tiêu dùng tham gia khảo sát tin vào nhãnhiệu hàng Việt Nam chất lượng cao Họ cho biết chọn hàng nội địa vì giá cảphải chăng và chất lượng chấp nhận được Giữa các vùng miền, mục tiêu lựachọn hàng Việt cũng có sự khác biệt nhất định Nếu số đông người tiêu dùngTP.HCM quan tâm đến giá (47% người chọn mua hàng Việt vì giá), thì yêu cầucao nhất của người tiêu dùng Đà Nẵng là chất lượng, rồi mới đến giá Cuộc khảosát đã tìm hiểu thái độ của người tiêu dùng với hàng Việt và đưa ra các tiêu chí
Trang 6lựa chọn hàng hóa giữa các vùng, miền là khác nhau Tuy nhiên như vậy thì vẫnchung chung vì chúng ta còn tìm hiểu các yếu tố tác động đến thái độ của ngườitiêu dùng như về chất lượng, giá cả, mẫu mã Bên cạnh đó, hạn chế của nghiêncứu là khảo sát người dân ở những thành phố lớn với những nhãn hiệu hàng ViệtNam đã được khẳng định chất lượng mà chưa nghiên cứu thái độ của người tiêudùng ở khu vực nông thôn, khu vực chiếm tới gần 70 % dân số của cả nước
Tiếp sau đó, đến tháng 9 năm 2010, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, BanTuyên giáo Trung ương tiến hành điều tra về kết quả một năm thực hiện cuộc
vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" cho thấy: Có đến
59% người tiêu dùng tự xác định khi mua hàng hoá sẽ ưu tiên dùng hàng ViệtNam ; 38% người tiêu dùng khuyên người thân trong gia đình, bạn bè, ngườiquen biết nên mua hàng Việt Nam; 36% người tiêu dùng trước đây có thói quenmua hàng có nguồn gốc xuất xứ ở nước ngoài, nay đã dừng mua (hoặc ít muahơn), thay bằng mua hàng Việt Nam Nhiều nhóm hàng hoá sản xuất trong nướcđược người Việt Nam ưa chuộng hơn so với những năm trước đây như: sảnphẩm dệt may, quần áo, giày dép sản xuất trong nước có tới 80% người tiêudùng ưa chuộng; thực phẩm, rau quả là 58%; các sản phẩm đồ gia dụng là49%; vật liệu xây dựng, đồ nội thất là 38%; đồ chơi, dụng cụ học tập dành chocho trẻ em là 34%; văn phòng phẩm là 33%; các sản phẩm điện tử, điện lạnh là26%; thuốc men, dược phẩm, dụng cụ y tế là 26%; ô tô, xe máy là 18%; hoá mỹphẩm là 10% Nhìn vào kết quả của những cuộc điều tra ta thấy các mặt hàngđược xét trong danh sách lựa chọn của người tiêu dùng chưa đề cập đến mặthàng cụ thể mà chỉ chung cho tất cả các hàng nội địạ
Muốn phát triển và mở rộng hệ thống hàng nội địa, trước hết cần có hệthống phân phối bán lẻ mà ở đó, hàng nội chiếm được bày bán nhiều hơn so với
hàng ngoại Bài báo “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam: Phải là quốc
sách” của tác giả Đặng Loan đăng trên trang Hanoimoi.com.vn, ngày 19 tháng
2 năm 2011 đề cập đến việc tổng kết một năm thực hiện cuộc vận động ngườiViệt dùng hàng Việt, trong đó có đề cập đến hệ thống phân phối hàng nội ở cácsiêu thị Tỷ lệ hàng Việt tiêu thụ trong hệ thống Co.opMart, Co.opFood và cửa
Trang 7hàng Co.op tăng 58% so cùng kỳ, trong khi hàng ngoại nhập chỉ tăng 22%.Trước đó, khi mới thành lập vào năm 1995, tỷ lệ này chỉ là 20% Đến năm 2008,
tỷ lệ hàng Việt mới nâng lên được khoảng 40% và tăng vọt lên 90% từ năm
2009 đến nay Năm 2010, lượng tiêu thụ hàng Việt trong hệ thống Co.opMarttăng 58%, trong khi hàng ngoại chỉ tăng 22% Tại hệ thống BigC, hàng Việtcũng chiếm hơn 90% Ít hơn hai hệ thống siêu thị trên, nhưng tỷ lệ hàng Việttrong các siêu thị Maximax, CitiMart cũng tăng lên rất nhiều Như vậy, cuộcvận động bước đầu đã đem lại những kết quả nhất định
Bên cạnh thị trường đô thị, thị trường nông thôn và các khu công nghiệp
được các doanh nghiệp coi trọng Bài báo “Sức lan tỏa của hàng Việt ngày
càng sâu rộng” của tác giả Thanh Hương đăng trên trang
Baocongthuong.com.vn, ngày 18 tháng 2 năm 2011, thông qua phỏng vấn Thứ
trưởng Bộ công thương Hồ Thị Kim Thoa cho biết : Với sự hỗ trợ của Bộ Công
Thương, Trung tâm BSA đã tổ chức được 43 đợt đưa hàng Việt về nông thôn.Trong năm 2010, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố đã tổ chức được 109 đợtbán hàng về nông thôn của các doanh nghiệp Bộ Công Thương đã hỗ trợ tổchức 24 đợt bán hàng cho công nhân tại các khu công nghiệp trên cả 3 miền.Các Sở Công Thương đã phối hợp tổ chức 78 chương trình khuyến mại với2.052 lượt doanh nghiệp tham gia; tiếp nhận và theo dõi hơn 200 đợt bán hàngkhuyến mại, với hơn 16.253 lượt doanh nghiệp tham gia; tổ chức 151 hội chợ,triển lãm, thu hút 12.279 doanh nghiệp tham gia
Cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt đã thu được những kếtquả bước đầu Tuy nhiên, nếu chỉ là vận động chung chung thì hiệu quả sẽkhông cao bằng các ngành sản suất cụ thể có chiến lược vận động người tiêudùng sử dụng sản phẩm của mình Một trong những ngành đi tiên phong trongcuộc vận động này là ngành sản xuất sữa Sữa là mặt hàng khá nhạy cảm trên thịtrường Việt Nam Thêm vào đó, thị trường sữa trong nước luôn biến động thấtthường bởi giá cả Tiếp nối cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Viêt,
ngành sữa có cuộc vận động Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt là chương trình
được Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (Vinastas) phát động ngày
Trang 818/8/2009 tại Tp.HCM Bài báo cùng tên "Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt"
đăng trên Dantri.com, ngày 18 tháng 8 năm 2009 của tác giả P.V có viết: mụcđích chương trình là vận động người tiêu dùng lựa chọn, mua và sử dụng sữa nội
có chất lượng tốt do các doanh nghiệp trong nước sản xuất Sữa là mặt hàngđược Vinastas chọn làm tiên phong trong hưởng ứng cuộc vận động bởi sữa nội
có chất lượng tốt và giá rẻ Phó chủ tịch Vinastas Hồ Tất Thắng cho biết, sở dĩVinastas chọn mặt hàng sữa làm tiên phong hưởng ứng cuộc vận động dùnghàng Việt bởi sữa nội có chất lượng tốt và giá rẻ nhưng vẫn bị “lép vế” trướcsữa ngoại, đặc biệt là sữa cho trẻ em Thị trường sữa bột dành cho trẻ em tạiViệt Nam hiện nay khá đa dạng và phong phú khiến các bà mẹ khó có sự lựachọn các loại sữa thích hợp với con của họ và hợp với túi tiền của gia đình Cóquá nhiều quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại của các hãng sữa khác nhau tác độngvào tâm lý của các bà mẹ trong việc lựa chọn các sản phẩm sữa Tuy nhiên chưa
có một khảo sát cụ thể nào tìm hiểu về quan điểm, thái độ, của các bà mẹ khi lựachọn các sản phẩm sữa cho con mình
Để so sánh chất lượng các loại sữa nội và ngoại tiêu biểu trên thị trường,
Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam đã khảo sát và công bố
kết quả chỉ tiêu an toàn, chất lượng dinh dưỡng một số sản phẩm sữa ngoại bántại Tp.HCM năm 2010 Theo đó, giá bán lẻ của sữa nhập khẩu cao hơn 46% sovới giá sữa sản xuất trong nước Giá bán lẻ trung bình của sữa nước ngoài là32.100 đồng/lít, giá sữa nước sản xuất tại Việt Nam 22.000 đồng/lít Kết quảthử nghiệm trên 9 mẫu sữa sản xuất tại Việt Nam và 7 mẫu sữa nhập khẩu chothấy, các chỉ tiêu về an toàn vi sinh vật, kim loại nặng và hàm lượng dinh dưỡngcủa sữa nội và sữa ngoại tương đương nhau đều đạt mức quy định của Bộ Y tế
Về giá sữa bột nguyên hộp nhập khẩu của một số hãng tại nước ta với các nhãnsữa cùng loại được bày bán tại nhiều nước trên thế giới và trong khu vực - doCục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) tiến hành mới đây - cho thấy: so vớimột số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giá sữa nhậpkhẩu của Việt Nam nhìn chung cao hơn từ 20-60% Cá biệt có trường hợp còncao hơn từ 100-150% Trong khi đó, thuế nhập khẩu với sữa bột nguyên liệu và
Trang 9sữa bột nguyên hộp vào Việt Nam không quá 10%, thấp hơn nhiều so với thuếnhập khẩu vào Thái Lan (0 - 40%)
Như vậy người tiêu dùng sữa ở Việt Nam phải mua sữa ngoại với giá quácao so với các nước trên thế giới, trong khi sữa nội có chất lượng tương đươngthì giá thành rẻ hơn Có nhiều cách lý giải cho hiện tượng này, trong đó phải kểđến chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại của các hãng sữa ngoại Theo số liệucủa Công ty Nghiên cứu thị trường TNS trong 5 tháng đầu năm 2009 các hãngsữa đã chi 152 tỷ đồng để quảng cáo sữa tăng 36% so với cùng kỳ năm 2008(112 tỷ đồng) Đứng đầu các hãng sữa chi mạnh cho quảng cáo là Dutch Lady:
44 tỷ đồng, Dumex: 25 tỷ đồng; Mead Johnson: 25 tỷ đồng Số tiền quảng cáonày là một trong những yếu tố đẩy giá sữa ngoại tại Việt Nam lên cao Giá sữa ởViệt Nam thuộc diện cao nhất thế giới
Thực hiện Chủ trương của Đảng qua kết luận của Bộ Chính Trị về Cuộcvận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên cả nước, kể từtháng 9/2009 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và Kinh doanh và Hỗ trợ doanhnghiệp - BSA và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao TPHCM
đã tổ chức các hoạt động sau : truyền hình trực tiếp vận động chủ chương ngườiViệt dùng hàng Việt Giao lưu trực tiếp vận động người tiêu dùng thông qua cácbuổi tọa đàm, hội thảo, diễn đàn giữa lãnh đạo nhà nước, doanh nghiệp và ngườitiêu dùng Tổ chức các sự kiện bán hàng, phiên chợ ở cả đô thị, nông thôn, vàkhu công nghiệp Thành lập câu lạc bộ Đại sứ hàng Việt, vận động sáng tác cakhúc về hàng Việt Sau một năm thực hiện, cuộc vận động đã thu được nhiều kếtquả khả quan Riêng khu vực Đông Nam Bộ, tổng doanh thu hàng nội đạt
38,319 tỷ đồng, 823.696 lượt người đến tham quan và mua sắm, 43 lớp huấn
luyện kỹ năng bán hàng cho hơn 2.767 tiểu thương tại địa phương Có 1680 lượt doanh nghiệp, 188 doanh nghiệp đã tham gia chương trình và Gần 50 cơ quan
truyền thông cùng đồng hành
Theo Thông tư số 207/2009/TT-BTC do Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần
Văn Hiếu ký ban hành ngày 28/10/2009, các hoạt động tổ chức hội chợ hàngnông sản, làng nghề phía Nam và phía Bắc sẽ được hỗ trợ 70% chi phí cấu thành
Trang 10gian hàng trên cơ sở giá đấu thầu Đối với hoạt động đưa hàng Việt về bán tạinông thôn, các khu công nghiệp và đô thị: Hỗ trợ 70% chi phí vận chuyển, quầyhàng và nhân công phục vụ Chi cho các hoạt động truyền thông tạo nhận thứcchung cho cộng đồng hướng về hàng Việt: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện bàiviết và phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Với ngành sữa, có nhiều hội thảo diễn ra nhằm thu hút người tiêu dùng
sử dụng sữa nội Bên cạnh đó, các hãng sữa nội trong đó có hãng sữa Vinamilk
đã hợp tác với châu Âu nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng sữa bột cho trẻ
em Việt Nam Như vậy, ngành sữa Việt Nam rất cố gắng nâng cao chất lượngnhằm đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và dinh dưỡng các loại sữa dành chotrẻ em
Còn rất nhiều các bài báo khác đề cập những vấn đề liên quan đến hàngnội địa Việt Nam và các bài viết về ngành sữa Việt Nam Nhìn chung, có ít côngtrình nghiên cứu, chủ yếu là các bài báo bài viết trên phần nào đã nêu lên đượcthực trạng và sự tác động trực tiếp của nhà nước, doanh nghiệp với việc khuyếnkhích người dân sử dụng hàng trong nước Tuy nhiên, các nghiên cứu, bài báotrước chỉ nghiên cứu về thực trạng, và thái độ người tiêu dùng với hàng Việt sosánh với hàng ngoại mà chưa đi sâu tìm hiểu kĩ các vấn đề liên quan đến nhậnthức, quan điểm của người dân đến một mặt hàng là sữa Việt Nam Do vậy, tácgiả một mặt tiếp thu những kinh nghiệm của các tác giả đi trước, mặt khác sẽ có
sự nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu hơn về quan điểm, thái độ của người dân vềmặt hàng cụ thể, đó là sản phẩm sữa Việt Nam dành cho trẻ em, từ đó đưa ra cácgiải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao tỷ lệ người sử dụng sữa nội nhiều hơn
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm
từ sữa Việt dành cho trẻ em, cụ thể là quan điểm thái độ của phụ nữ về thươnghiệu, chất lượng, giá cả, chủng loại, chế độ hậu mãi, chế độ tiếp thị và chăm sóckhách hàng của các sản phẩm sữa Việt, từ đó đưa ra các kiến nghị để người dântin dùng sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu : quan điểm, thái độ,hàng nội địa, thương hiệu, sữa Việt Nam, trẻ em
- Đo lường thực trạng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em
- Đo lường các yếu tố tác động đến quan điểm, thái độ của phụ nữ về thươnghiệu, chất lượng, giá cả, loại hình, thương hiệu, chế độ tiếp thị và chăm sóckhách hàng của các hãng sữa bột dành cho trẻ em của Việt Nam
- Đưa ra kết luận và đề xuất, kiến nghị để người dân tin dùng sản phẩm sữa bộtdành cho trẻ em của Việt Nam
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sản phẩm sữa Việt Nam dành cho trẻem
4.2 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ có con nhỏ từ 11 tháng tuổi đến 10 tuổi ở xã Hợp Tiến thuộchuyện Nam Sách và thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian : Địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Thời gian nghiên cứu : từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Phần lớn phụ nữ trong địa bàn nghiên cứu đều sử dụng sữa và cácsản phẩm từ sữa của Việt Nam dành cho trẻ
- Phụ nữ ở thị trấn có nhiều cơ hội tiếp cận và sử dụng sữa và cácsản phẩm sữa dành cho trẻ em nhiều hơn phụ nữ tuyến xã
- Có sự khác nhau giữa quan điểm và thái độ của phụ nữ giữa hai địa bànnghiên cứu về chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu, chế độ khuyến mại vàchăm sóc khách hàng của các hãng sữa
Trang 12- Mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông có ảnh hưởng đến quanđiểm, thái độ của người phụ nữ về các thương hiệu sữa và sản phẩm sữa nộidành cho trẻ
Trang 136 KHUNG LÝ THUYẾT
Trang 14Thao tác hóa các biến số.
Biến số độc lập
* Đặc điểm nhận khẩu học người trả lời :
- Các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình
- Mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng
- Thu nhập của cá nhân và của gia đình
Biến số can thiệp
- Những chính sách khuyến khích sử dụng hàng nội địa của Đảng, nhànước
- Các chương trình thu hút người tiêu dùng hàng nội địa của nhà sản xuất,doanh nghiệp
7 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
7.1 Cơ sở lý luận
Trang 15Phương pháp luận chung nhất mà đề tài sử dụng đó là phương pháp luậnMacxit ( một số phạm trù, quy luật, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử)
Các lý thuyết xã hội học sử dụng trong nghiên cứu
Đề tài còn sử dụng các lý thuyết xã hôi học theo hướng tiếp cận nghiêncứu về kinh tế, xã hội Cụ thể đó lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết sự lựachọn hợp lý, lý thuyết văn hóa tiêu dùng
Lý thuyết hành động xã hội
Max Weber (1864-1920) là người có công đầu xây dựng xã hội học hiệnđại với tư cách là một khoa học có vị trí rõ ràng, độc lập Một trong những kháiniệm quan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hành động xã hội.Quan niệm của Weber cho thấy hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của
xã hội học Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và những hành
vi và hoạt động khác của con người Hành động xã hội được Weber tổng quátđịnh nghĩa là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó,
là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tớingười khác, trong đường lối, quá trình của nó Weber phân biệt 4 loại hành động
Do đó, việc lựa chọn mua loại sữa nào gắn với mức giá nhất định và cóphù hợp với cơ thể trẻ không đều được tính toán, xem xét sao cho phù hợp vớinhu cầu của cơ thể trẻ và phù hợp với điều kiện kinh tế của gia đình
Trang 16Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý ( Vận dụng nguyên tắc của kinh tế học) Colema–
Nhà xã hội học Mỹ Lý thuyết này giải thích về nguyên nhân viêc mất cân bằnggiới tính khi sinh
Luận điểm gốc và việc áp dụng nó trong đề tài :
-Đặt tiêu điểm vào cá nhân đó là những hành động có mục đích của cá nhânhướng tới một mục tiêu nào đó mà mục tiêu này định hình bởi giá trị hay các sởthích Cá nhân sẽ lựa chọn những hành động nhằm tối đa hóa các lợi ích hay
thỏa mãn các nhu cầu của họ Điều này lý giải những người phụ nữ sẽ lựa chọn
những sản phẩm sữa mà họ cho là tốt nhất cho con họ, bên cạnh đó, giá cả cũngphải phù hợp với túi tiền của họ Loại sữa nào đáp ứng hai tiêu chí đó họ sẽ lựachọn
- Cách thức kết hợp của các hành động cá thể thể đưa tới hành vi của hệ thống.
Sự tối đa hóa của cá thể bao gồm sự cân bằng và sự kiểm soát nhiều cá thể khác.Trong trường hợp hành vi tập thể, sự tối đa hóa của mỗi cá thể sẽ dẫn tới mấtcân bằng trong xã hội Phần lớn các hãng sữa ngoại đầu tư rất nhiều cho hệthống quảng cáo, tiệp thị và khuyến mại Các hãng sữa lớn thường quảng cáotrên truyền hình, và tần xuất xuất hiện nhiều lần, vô hình chung đã tạo ra sự ngộnhận với người tiêu dùng rằng các sản phẩm sữa đó chắc chắn là tốt nhất Điềunày dẫn tới hành vi nhiều người mua các loại sữa đó cho con họ sử dụng và dẫnđến sự mất cân bằng thị trường sữa, giá các loại sữa ngoại cao hơn các loại sữanội nhiều lần dù dinh dưỡng, chất lượng như nhau nhưng người tiêu dùng vẫnlựa chọn loại sữa mà họ biết nhiều thông qua quảng cáo hoặc được iếp thị
- Các quyền kiểm soát hành động của bản thân một người và sự tiếp nhận mộtphần các kiểm soát hành động của người khác, kết quả là từng người riêng lẻ
đều nắm quyền và thực hiện kiểm soát đó Luận điểm này áp dụng trong đề tài
nghiên cứu nhằm giải thích lý do mua sữa của các bà mẹ thường được bạn bè,người thân và cả chủ cửa hàng bán sữa giới thiệu các sản phẩm sữa mà đượcnhiều người sử dụng và cho là tốt
Lý thuyết văn hóa tiêu dùng
Trang 17Theo lý thuyêt văn hóa tiêu dùng thì sự tiêu dùng không chỉ đơn giản là hành vimua sắm, sử dụng, lựa chọn các loại hàng hóa mà văn hóa tiêu dùng được nhìnnhận “là một hiện tượng văn hóa” ( Mile 1998:3 ) và theo M.Cracken (1990 :XI) thì “nếu không có văn hóa hàng hóa, xã hội sẽ mất đi một phương tiện thenchốt để tái sản xuất và nhận biết văn hóa của họ”.
Lý thuyết này nhấn mạnh rằng hành động của mỗi cá nhân được coi làmột thông điệp và thông qua mỗi thông điệp ấy, cá nhân sẽ thể hiện lối sống củamình Theo đó, hành vi lựa chọn các hãng sữa ngoại sử dụng cho trẻ em của các
bà mẹ thể hiện tâm lý “sính ngoại”, dùng sữa ngoại vì nghĩ rằng hàng ngoại luôntốt và tâm lý “ tiền nào của ấy”, sữa ngoại đắt thì chất lượng tốt Bên cạnh đó,việc chọn dùng sữa ngoại của các bà mẹ còn thể hiện đẳng cấp tiêu dùng của giađình mình
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Sử dụng chương trình SPSS xử lý thông tin
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn anket
- Sử dụng bảng hỏi
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính.
- Phỏng vấn sâu 16 đối tượng, trong đó có 4 chủ doanh nghiệp sản xuấtsữa trong nước, 8 phụ nữ, 4 chủ các cơ sở bán sữa nhằm tìm hiểu sâu các vấn đềcần làm rõ trong đề tài
Trang 18các bà mẹ và con họ Do đặc điểm mẫu được chọn là những bà mẹ có con dưới
10 tuổi nên lấy danh sách các bà mẹ có con dưới 10 tuổi
Tại thị trấn Nam Nam Sách, số phụ nữ có con dưới 10 tuổi là 1037 Vậy
N = 1037
Lập danh sách mẫu, đánh số thứ tự từ 1 đến 1037
Tính bước nhảy k = N / n = 1037 / 150 = 6.9133, làm tròn k = 7 Chọn ngẫunhiên theo bước nhảy k, người đầu tiên là người ở vị trí số 7 Tiếp tục chọn cácmẫu tiếp theo với k =7 để lấy ra 150 mẫu
Xã Hợp Tiến, số phụ nữ có con dưới 10 tuổi là 753 Tương tự các bướcnhư trên, lập danh sách mẫu từ 1 đến 753, tức N =753, vậy k = 753 / 150 =5.02, làm tròn k = 5 Vậy người thứ nhất được lấy ở vị trí số 5, và tiếp tục lấyvới k = 5, lấy ra 150 người
8 MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
8.1 Quan điểm
Trong từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý, Nguyễn VănKhang, Phan Xuân Thành, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tái bản lần thứ 6,năm 2009 có định nghĩa Quan điểm 1 : Chỗ đứng để xem xét, nhìn nhận vấn
đề Có quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng 2 Là ý kiến, cách nhìn nhậnriêng, trình bày quan điểm của mình, mỗi người có một quan điểm, hay thốngnhất quan điểm với nhau
Trong nghiên cứu này, tác giả dùng khái niệm quan điểm theo cách định nghĩathứ hai
8 2 Thái độ
Theo từ điển tiếng Việt, thái độ được hiểu theo hai cách :
Thứ nhất : thái độ là tổng thể nói chung biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt,
cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc sự vật nào đó
Thứ hai : thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận, hành động theo một hướng nào
đó trước một vấn đề, một tình hình
Theo tâm lý học, thái độ là nền tảng ứng xử của cá nhân, định hướng hành
động của con người theo một hướng nào đó trước một sự kiện Thái độ của một
Trang 19người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông quahành vi tham gia hoặc không tham gia vào sự kiện đó Thái độ của một ngườiđược quy định bởi các yếu tố xã hội, phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội.Trước một sự kiện xã hội con người đối chiếu với một khuôn mẫu xã hội đãđược lĩnh hội, nếu nó đúng thì tán thành, và ngược lại nếu nó không đúng thìkhông tán thành.
- Thuật ngữ Thái độ ( Attitude ) có nghiều định nghĩa khác nhau Theo
Shaver ( 1977 ) thì thái độ là “ một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với một
nhóm đối tượng nhất định” Hay theo Fishbein và Ajzen ( 1975 ) thì đó là “ một
vị trí trong thang lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá.”
- Một định nghĩa gần đây của Tourangcau và Rasinksi ( 1988 ) thì cho rằngthái độ là “những mạng lưới của những niềm tin liên kết đan chéo nhau vốnđược lưu giữ laai dài trong trí nhớ của chúng ta và được kích hoạt khi chúng tagặp đối tượng của đối tượng hoặc vấn đề liên quan” Nói tóm lại, thái độ luônbao gốm những yếu tố sau :
+ Nó được quy nạp, kết tinh và khái quát hóa từ kinh nghiệm sống
+ Nó mang tính tổng hợp Một thái độ có thể tổng hợp nhiều hành vi khácnhau
+ Nó sẵn có trong tâm trí chúng ta Nó tiết kiệm thời gian tư duy và phảnứng của chúng ta nhờ vào việc đưa ra những mô hình đã chương trình hóa
+ Nó được coi là nguyên nhân ( Cause ) của hành vi khác nhau
+ Nó có hai cực ( Bipolar ) Tuy nhiên, một cá nhân có thể tồn tại “ tâmtrạng nước đôi” (ambivalent), nhưng thực chất đó chỉ là một trạng thái trong đó
cá nhân tồn tại cả hai thái độ “ủng hộ” và “phản đối” chứ không phải là một thái
Trang 20Từ những khái niệm trên về thái độ, ta có thể khái quát nội dung chủ yếucủa thái độ như sau:
Thái độ được hình thành trong mối quan hệ xã hội, có thái độ của cá nhân
và có thái độ của cả nhóm
Theo từ điển xã hội học, thái độ được hiểu là : Trong mọi xã hội con
người bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hữu thức hoặc vô thức, ngấmngầm hay công khai, là nền tảng ứng xử của cá nhân, một hành động tâm lý của
cá nhân bao hàm sự lý giải và biến đổi của các biến đổi của khuôn mẫu xã hộihoặc kinh nghiệm cá nhân
Như vậy, thái độ là mọi hoạt động tâm lý cá nhân, là ý nghĩ tình cảm của
cá nhân, nó định hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trướcmột tình hình Thái độ là một ý nghĩ, một tình cảm bên trong của một con người,nhưng lại thể hiện ở một hành vi, hành động của con người Thái độ còn đượchiểu là sự kiện xã hội, hiện tượng xã hội, đối tượng nghiên cứu của xã hội học.Thái độ xuất phát chủ yếu từ những thông tin nhận được về các đối tượng, các
sự vật hiện tượng Có thể là thông tin trực tiếp phát ra từ đối tượng, cũng có thể
là gián tiếp do người khác cấp cho Thái độ của một người trước một sự kiện xãhội thông qua sự thán thành hoặc phán đối, thông qua hành vi tham gia hoặckhông tham gia sự kiện đó Thái độ của một người bị quy định bởi các yếu tố xãhội
8.3 Thương hiệu
Thương hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng chủng loạicủa các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Theo tác giả Richard Moore,thương hiệu là “ một từ, một kí hiệu, họa tiết, biểu tượng, logo hay khẩu hiệu đểxác định và phân biệt dịch vụ với các sản phẩm và dịch vụ khác”[ 20,tr.36]
Thương hiệu đáp ứng 3 mục đích quan trọng :
+ Xác định nguyên bản gốc của sản phẩm
+ Cung cấp một sự đảm bảo chất lượng+ Tạo ra sự trung hòa trong khách hàng ( được biết đến như
là danh tiếng ) [23,tr.56]
Trang 21Như vậy thương hiệu có thể là logo, uy tín, từ ngữ, hình ảnh hay sự kếthợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc, nhằm phân biệtmột sản phẩm với sản phẩm khác nhằm bảo vệ những lợi ích hợp pháp củadoanh nghiệp với sản phẩm
8.4 Hàng hóa
Theo giáo trình kinh tế chính trị : Hàng hoá là sản phẩm của lao động cóthể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đem trao đổi, mua, bán Hànghóa là một phạm trù kinh tế có thể phản ánh mối quan hệ giữa người sản xuất vàtrao đổi hàng hóa Sản phẩm mang hình thái hàng hóa khi nó trở thành đốitượng mua – bán trên thị trường [ 20,tr.39]
+ Theo từ điển Kinh tế - Kinh doanh Anh - Việt : “hàng hóa là những vật phẩmđược mua bán thông thường trên thị trường” [ 22,tr.521]
8.5 Hàng nội địa :
Hiện nay chưa có một văn bản nào quy định cụ thể thế nào là hàng nội địa, tuynhiên chúng ta có thể tham khảo và hiểu về hàng nội địa như sau :
* Hàng Việt Nam: để được gọi là hàng Việt Nam, cần phải đạt ba tiêu chí sau:
1 Phải được sản xuất trong nước, nghĩa là có nhà máy trong nước; 2 Có phầngiá trị gia tăng tạo ra trong nước đạt tỷ lệ nhất định do cơ quan thẩm quyền củaViệt Nam quy định tùy theo từng chủng loại và điều kiện cụ thể Đối với cácngành hàng mà vật tư trong nước không đáp ứng đủ, sẽ chấp nhận mức giá trịgia tăng thấp hơn, như hàng điện tử, máy móc Ngược lại, các sản phẩm nhưthực phẩm, hàng tiêu dùng thông thường, phải có giá trị gia tăng cao hơn; chủ sởhữu nhãn hiệu hàng hóa phải là công dân Việt Nam
Như vậy có thể hiểu sữa nội là những hãng sữa thỏa mãn 3 tiêu chí nêu trên.Chúng ta có thể tham khảo các khái niệm liên quan :
* Hàng nội địa hóa: là hàng hóa được sản xuất từ nhà máy ở trong nước nhưng
mang nhãn hiệu nước ngoài, chủ sở hữu nhãn hiệu đó là công dân nước ngoàihoặc đó là hàng sản xuất bởi nhà máy trong nước và sở hữu nhãn hiện là côngdân Việt Nam nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng không đạt mức quy định của hàng ViệtNam Như vậy, với ô tô lắp ráp tại Việt Nam mang nhãn hiệu Ford, Toyota hoặc
Trang 22xe gắn máy hiệu Honda, Yamaha dù sử dụng nhân công Việt Nam và một sốphụ tùng trong nước đều được xem là hàng nội địa hóa chứ chưa phải là hàngViệt Nam.
* Hàng nhập khẩu: là hàng hóa được sản xuất từ một nước khác và nhập qua
cửa khẩu Việt Nam, có xuất xứ từ nước ngoài Như vậy, dù nhà máy này dongười Việt Nam làm chủ, sử dụng nhân công Việt Nam, thậm chí có dùng mộtphần nguyên liệu từ Việt Nam cũng đều phải xem là hàng nhập khẩu Điều nàyphù hợp với quy tắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
*Trẻ em : Theo điều 1, công ước Quốc tế về quyền trẻ em được đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989: “ Trong phạm vi công ước này, trẻ
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ
em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”
Còn theo điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 của ViệtNam thì quy định “ Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả giới hạn lại những trẻ em dưới 10 tuổi để,
và nghiêm cứu về quan điểm, thái độ của những bà mẹ có con dưới 10 tuổi
PHẦN II BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Nam Sách là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương và có lịch sử phát triển khálâu đời Huyện gồm 18 xã và 1 thị trấn, với dân số 114.635 người, diện tích tựnhiên là 109 km2 Theo báo cáo tổng kết năm 2010 của huyện, tốc độ tăngtrưởng kinh tế của huyện đạt 10,8% /năm Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề,nông nghiệp đóng góp 30,2% trong tổng thu nhập toàn huyện Công nghiệpđóng góp 25,8%, buôn bán, dịch vụ đóng góp 44% trong tổng thu nhập toànhuyện chia theo cơ cấu ngành nghề Thu nhập bình quân một người là 10.5 triệu
Trang 23đồng / năm Huyện đã có khu công nghiệp Nam Sách được Chính phủ phê duyệtvới trên 63 ha và cụm công nghiệp An Đồng đã được tỉnh phê duyệt trên 35 ha.Khu công nghiệp thu hút khá đông lực lượng lao động tham gia sản xuất trongkhu vực công nghiệp.
Thị trấn Nam Sách nằm ở trung tâm huyện và được hình thành từ rất sớm Về
vị trí địa lý, phía Bắc giáp xã Nam Trung, xã Quốc Tuấn, phía Tây giáp xã NamHồng và Hồng Phong, phía Nam giáp xã Đồng Lạc và phường An Châu thuộcthành phố Hải Dương, phía Đông giáp quốc lộ 183 và Ái Quốc thuộc thành phốHải Dương Thị trấn Nam Sách gồm 5 khu, có 3.123 hộ với 10.248 nhân khẩu.Diện tích tự nhiên khoảng 4.5 km2 Cơ cấu nghề nghiệp, tỷ lệ làm nông nghiệpgiảm trong những năm gần đây, trong khi tỷ lệ làm công nghiệp, dịch vụ tănglên Cụ thể, nông nghiệp có đóng góp rất nhỏ trong cơ cấu thu nhập của thị trấn,khoảng 15.4 %, đóng góp của công nghiệp, dịch vụ chiếm khoảng 80 %, còn lại
là cơ cấu nghành nghề khác
Xã Hợp Tiến cách thị trấn Nam Sách 5km về phía Nam Vị trí địa lý, phíaBắc giáp xã Nam Hưng, phía Tây giáp xã Hiệp Cát, Nam Chính, phí Đông giáp
xã Thanh Quang và xã Quốc Tuấn Theo báo cáo quý I của Đảng ủy xã, Toàn xã
có 2184 hộ với 7623 nhân khẩu Cơ cấu nông nghiệp đóng góp trên 50.2 %,công nghiệp, dịch vụ buôn bán 25.8 %, còn lại là đóng góp của các ngành nghềnhỏ khác Trước kia Hợp Tiến là một xã thuần nông, tuy nhiên những năm đổimới gần đây, cơ cấu ngành nghề thay đổi nhiều Tỷ lệ làm nông nghiệp giảm, tỷ
lệ làm công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhiều do phát triển khu công nghiệp ởhuyện, thu hút nhiều lao động ở xã Cuộc sống người dân dần được cải thiện vànâng cao
1.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu.
Tổng số phiếu điều tra là 300, số phiếu hợp lệ 285.
Do điều kiện chọn mẫu là những phụ nữ có con dưới 10 tuổi nên phần lớnđối tượng này nằm trong độ tuổi từ 20 đến 35 trong đó độ tuổi từ 20 đến 30 tuổichiếm đến 62.8 %, từ 31 đến 35 tuổi chiếm 27.4 %, còn lại 9 8% là số phụ nữtrên 35 tuổi trong tổng số mẫu hợp lệ là 285 người
Trang 24Tuổi: Sauk hi thu thập thông tin về độ tuổi, tác giả chia ra các khoảng tuổi và
kết quả như bảng sau :
Tổng
Dân tộc kinh chiếm đến 99.3 %, chỉ có 0.7 % là người dân tộc khác.
Tôn giáo : 98.9 % không theo tôn giáo và 1.1 % theo tôn giáo, cụ thể là thiên
Tỷ lệ phụ nữ có một con chiếm 46 %, có hai con chiếm 49.5 % và 4.6 % còn lại
là tỷ lệ phụ nữ có trên hai con
Bảng 2 Trình độ học vấn ( % )
Mù chữ, tiểuhọc
Cấp hai,cấp ba
Trung cấp,cao đẳng
Đại học, sauđại học