Sự thay đổi cănbản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trìnhdạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, cáchkiểm tra, đán
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục được xác định theo hướng hình thành, phát triển phẩmchất và năng lực Khi xác định mục tiêu của GDPT cần tập trung khẳng định yêucầu về sự phát triển hài hòa giữa: Con người cá nhân và con người xã hội, conngười truyền thống và con người hiện đại, con người Việt Nam và công dân toàncầu
Vận dụng tất cả các phương pháp, kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học mộtcách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt mụctiêu, yêu cầu của chương trình và có hiệu quả cao Tập trung vào các phương pháp,
kĩ thuật và hình thức tổ chức học tập có ưu thế trong việc hình thành và phát triểnnăng lực người học như: Dạy học theo nhóm; dạy học giải quyết vấn đề; dạy họctheo dự án, …Đổi mới từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực Sự thay đổi cănbản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trìnhdạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, cáchkiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thức quản lý…
Yêu cầu chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là phát huy cao độtính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, chuyển từ hình thức giáo viên chỉgiới hạn vào việc truyền đạt thông tin theo chuẩn kiến thức, kỹ năng cho học sinhsang hình thức giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh từ đó độc lập, chủ động
và sáng tạo khám phá tri thức và hình thành được các năng lực cho bản thân
Giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinhnhững kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực tiễn, qua đóphát triển cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cùng với nhữngnăng lực khác tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Với lý do trên, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Áp dụng giáo dục STEM dạy học chủ đề nhân giống nấm men và sản xuất rượu nếp cẩm (sinh học 10 THPT) cho học sinh huyện miền núi ” nhằm mục đích góp phần thiết
thực vào việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học hiện nay, nâng cao hiệu quảdạy và học môn Sinh học trong trường phổ thông, hình thành và phát triển cho HScác năng lực cần thiết trong quá trình học tập và thực tiễn đời sống Qua chủ đềnày phần nào hướng nghiệp cho học sinh miền núi cũng như giúp các em bảo tồnbản sắc văn hóa vùng miền
Dưới góc độ giáo dục và vận dụng trong bối cảnh Việt Nam, giáo dụcSTEM một mặt thực hiện đầy đủ mục tiêu giáo dục đã nêu trong chương trình giáodục phổ thông, mặt khác giáo dục STEM nhằm:
- Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc lĩnh vực STEM choHS: Đó là khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các môn học
Trang 2Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Trong đó HS biết liên kết các kiếnthức Khoa học, Toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn Biết sử dụng, quản lí
và truy cập Công nghệ HS biết về quy trình thiết kế kĩ thuật và chế tạo ra các sảnphẩm
- Phát triển các năng lực chung cho HS: Giáo dục STEM nhằm chuẩn bị cho
HS những cơ hội, cũng như thách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu củathế kỉ 21 Bên cạnh những hiểu biết về các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩthuật, Toán học, HS sẽ được phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo,năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự chủ và tự học
- Định hướng nghề nghiệp cho HS: Giáo dục STEM sẽ tạo cho HS có nhữngkiến thức, kĩ năng mang tính nền tảng cho việc học tập ở các bậc học cao hơn cũngnhư cho nghề nghiệp trong tương lai của HS
2 Mục tiêu của đề tài
Giới thiệu, ứng dụng thành công mô hình giáo dục STEM vào giảng dạymôn Sinh học ở trường THPT huyện miền núi, qua đó rèn luyện kĩ năng, phát triểnnăng lực nhận thức, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh Từ đó, góp phần xâydựng lực lượng lao động có năng lực, phẩm chất tốt, đặc biệt là lao động trong lĩnhvực STEM nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu vấn đề dạy học phần Sinh học Vi sinh vật - Nhân giốngnấm men và sản xuất rượu nếp cẩm, sinh học lớp 10 THPT theo định hướng
STEM
4 Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát chung về STEM
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc triển khai giáo dục STEM
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của mô hình giáo dục STEM trong dạy học
- Định hướng xây dựng chủ đề/bài học STEM
- Xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề/ bài học STEM
- Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn khi xây dựng và thực hiện chủ đề giáodục STEM
Vận dụng cơ sở lý thuyết để thiết kế chủ đề dạy học “Sinh học vi sinh vật nhân giống nấm men và sản xuất rượu cẩm” theo mô hình STEM
Đưa ra một số phương pháp dạy học hiệu quả trong giáo dục STEM trên cơ
sở kết quả của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3- Phân tích, tổng hợp lý thuyết, bài tập từ các tài liệu, sách giáo khoa, sáchtham khảo.
- Dựa trên thực tiễn dạy và học về bài Sinh học có liên quan đến mô hìnhSTEM
- Điều tra, tổng hợp và xử lí số liệu, đánh giá kết quả thu được từ thựcnghiệm sư phạm
6 Giả thiết khoa học
Học xong chương trình học sinh làm được gì? Làm thế nào đổi mới đồng bộ
hình thức dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; đểtăng cường việc gắn liền dạy học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống và gópphần hình thành năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trung học?
Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cần phải gắn nội dung bàihọc với những vấn đề thực tiễn và giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh tìm hiểu
và giải quyết được vấn đề, thông qua đó tiếp thu tri thức một cách chủ động Giáodục STEM cũng xuất phát từ vấn đề nảy sinh trong thực tiễn được xây dựng thànhcác chủ đề/bài học STEM, thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học sẽgiúp học sinh tìm ra được những giải pháp để giải quyết vấn đề mà chủ đề/bài họcSTEM nêu ra
STEM là quy trình sáng tạo ra kiến thức khoa học; là quy trình sử dụng kiếnthức khoa học để thiết kế công nghệ mới nhằm giải quyết các vấn đề; là công cụđược sử dụng để thu nhận kết quả và chia sẻ kết quả đó với những người khác
7 Những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu phương pháp dạy học theo định hướng STEM nhằm pháttriển năng lực học sinh Đây là vấn đề khá mới mẻ và còn nhiều bỡ ngỡ trong quátrình tiếp cận xu hướng dạy học mới hiện nay Vì vậy, đề tài sẽ là một trong nhữngtài liệu tham khảo tốt cho giáo viên trong việc dạy học Sinh học ở trường phổthông
8 Tính mới của đề tài:
- Giới thiệu cho giáo viên một số vấn đề chung về giáo dục STEM tronggiáo dục THPT
- Xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề/ bài học STEM trong chương trình giáodục phổ thông
- Tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học các chủ đề STEMtheo định hướng phát triển năng lực
- Giới thiệu quá trình triển khai xây dựng và dạy học chủ đề “Sinh học visinh vật - Nhân giống nấm men và sản xuất rượu cẩm” theo mô hình STEM
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 41 Cơ sở thực hiện đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội trong việcnâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế…
Để cạnh tranh trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu, giáo dục và nghề nghiệpSTEM (Science Technology Engineering Maths) phải ưu tiên quốc gia Điều nàyđặt ra cho GD-ĐT sứ mệnh to lớn là chuẩn bị đội ngũ nhân lực chất lượng cao đểđáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thựchiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng chính phủ V/v tăng
cường năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, cần “ thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo
ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong
đó cần tập trung vào cuộc thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông ”
Triển khai chương trình đào tạo ứng dụng mô hình giáo dục STEM là sự lựachọn tất yếu, phù hợp với đào tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh,đáp ứng nhu cầu xã hội Bên cạnh đó, năng lực phát triển chương trình đào tạo vàphương pháp giảng dạy cũng như nhận thức của giáo viên về mô hình giáo dụcSTEM được nâng cao
Việc ứng dụng mô hình giáo dục STEM là chủ trương lớn của nhà trường.Chủ trương này đã được Đảng ủy, BGH chỉ đạo một cách quyết liệt, các tổ bộ mônvào cuộc thực hiện một cách khẩn trương, căng cơ, có đầu tư cả về trí lực lẫn vậtlực và đã thu được một số thành tựu đáng kể Có thể xem đây là bước đột phátrong phát triển, nâng cao hiệu quả giáo dục của trường THPT Tương Dương 1
1.1.1 Khái niệm STEM
STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Côngnghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học), thường được sử dụng khi bàn đến các chính sách phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và
Toán học của mỗi quốc gia Sự phát
triển về Khoa học, Công nghệ, Kĩ
thuật và Toán học được mô tả bởi chu
trình STEM (Hình 1), trong đó
Science là quy trình sáng tạo ra kiến
thức khoa học; Engineering là quy
trình sử dụng kiến thức khoa học để
Trang 5thiết kế công nghệ mới nhằm giải
“Knowledge” sang “Technology” thể hiện quy trình kĩ thuật Các kĩ sư sử dụng
"Kiến thức" khoa học để thiết kế, sáng tạo ra công nghệ mới Như vậy, trong chutrình STEM, "Science" được hiểu không chỉ là "Kiến thức" thuộc các môn khoahọc (như Vật lí, Hoá học, Sinh học) mà bao hàm "Quy trình khoa học" để phátminh ra kiến thức khoa học mới Tương tự như vậy, "Engineering" trong chuSTEM không chỉ là "Kiến thức" thuộc lĩnh vực "Kĩ thuật" mà bao hàm "Quy trình
kĩ thuật" để sáng tạo ra "Công nghệ" mới Hai quy trình nói trên tiếp nối nhau,khép kín thành chu trình sáng tạo khoa học - kĩ thuật theo mô hình "xoáy ốc" mà
cứ sau mỗi chu trình thì lượng kiến thức khoa học tăng lên và cùng với nó là côngnghệ phát triển ở trình độ cao hơn
1.1.2 Giáo dục STEM
Phỏng theo chu trình STEM, giáo dục STEM đặt học sinh trước những vấn
đề thực tiễn ("công nghệ" hiện tại) cần giải quyết, đòi hỏi học sinh phải tìm tòi,chiếm lĩnh kiến thức khoa học và vận dụng kiến thức để thiết kế và thực hiện giảipháp giải quyết vấn đề ("công nghệ" mới) Như vậy, mỗi bài học STEM sẽ đề cập
và giao cho học sinh giải quyết một vấn đề tương đối trọn vẹn, đòi hỏi học sinhphải huy động kiến thức đã có và tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới để sử dụng.Quá trình đó đòi hỏi học sinh phải thực hiện theo "Quy trình khoa học" (để chiếmlĩnh kiến thức mới) và "Quy trình kĩ thuật" để sử dụng kiến thức đó vào việc thiết
kế và thực hiện giải pháp ("công nghệ" mới) để giải quyết vấn đề Đây chính là sựtiếp cận liên môn trong giáo dục STEM, dù cho kiến thức mới mà học sinh cầnphải học để sử dụng trong một bài học STEM cụ thể có thể chỉ thuộc một môn học
Như vậy, giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị chohọc sinh những kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thựctiễn, qua đó phát triển cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cùngvới những năng lực khác tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh
tế - xã hội
Các mức độ áp dụng giáo dục STEM trong giáo dục phổ thông như sau:
a)Dạy học các môn học theo phương thức giáo dục STEM
Trang 6Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường Theocách này, các bài học, hoạt động giáo dục STEM được triển khai ngay trong quátrình dạy học các môn học STEM theo tiếp cận liên môn Các chủ đề, bài học, hoạtđộng STEM bám sát chương trình của các môn học thành phần Hình thức giáodục STEM này không làm phát sinh thêm thời gian học tập.
b) Tổ chức các hoạt động trải nghiệm STEM
Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các ứng dụngkhoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống Qua đó, nhận biết được ý nghĩa củakhoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đối với đời sống con người, nâng caohứng thú học tập các môn học STEM Đây cũng là cách thức để thu hút sự quantâm của xã hội tới giáo dục STEM
Để tổ chức thành công các hoạt động trải nghiệm STEM, cần có sự tham gia,hợp tác của các bên liên quan như trường trung học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp,các trường đại học, doanh nghiệp
Trải nghiệm STEM còn có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác giữatrường trung học với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Theo cáchnày, sẽ kết hợp được thực tiễn phổ thông với ưu thế về cơ sở vật chất của giáo dụcđại học và giáo dục nghề nghiệp
Các trường trung học có thể triển khai giáo dục STEM thông qua hình thứccâu lạc bộ Tham gia câu lạc bộ STEM, học sinh được học tập nâng cao trình độ,triển khai các dự án nghiên cứu, tìm hiểu các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM.Đây là hoạt động theo sở thích, năng khiếu của học sinh
c) Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật:
Giáo dục STEM có thể được triển khai thông qua hoạt động nghiên cứukhoa học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật Hoạt động này khôngmang tính đại trà mà dành cho những học sinh có năng lực, sở thích và hứng thúvới các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các vấn đề thựctiễn
Tổ chức tốt hoạt động câu lạc bộ STEM cũng là tiền đề phát triển hoạt độngsáng tạo khoa học kỹ thuật và triển khai các dự án nghiên cứu trong khuôn khổcuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học Bên cạnh đó, tham gia câulạc bộ STEM và nghiên cứu khoa học, kĩ thuật là cơ hội để học sinh thấy được sựphù hợp về năng lực, sở thích, giá trị của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vựcSTEM
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục STEM
Việc đưa giáo dục STEM vào trường trung học mang lại nhiều ý nghĩa, phùhợp với định hướng đổi mới giáo dục phổ thông Cụ thể là:
Trang 7+ Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường,
bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán, Khoa học, các lĩnh vựcCông nghệ, Kỹ thuật cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phương diện vềđội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất
+ Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập
trong giáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyếtcác vấn đề thực tiễn, học sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ýnghĩa của tri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập của họcsinh
+ Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển
khai các dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thựchiện các nhiệm vụ học; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoahọc Các hoạt động nêu trên góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩmchất, năng lực cho học sinh
+ Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả giáo
dục STEM, cơ sở giáo dục phổ thông thường kết nối với các cơ sở giáo dục nghềnghiệp, đại học tại địa phương nhằm khai thác nguồn lực về con người, cơ sở vậtchất triển khai hoạt động giáo dục STEM Bên cạnh đó, giáo dục STEM phổ thôngcũng hướng tới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của địa phương
+ Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường trung
học, học sinh sẽ được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được sự phùhợp, năng khiếu, sở thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM.Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường trung học cũng là cách thức thu hút họcsinh theo học, lựa chọn các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM, các ngành nghề cónhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp hóa hiện đạihóa
1.1.4 Tiến trình bài học STEM
Mỗi bài học STEM trong chương trình giáo dục phổ thông đề cập đến mộtvấn đề tương đối trọn vẹn, đòi hỏi học sinh phải học và sử dụng kiến thức thuộccác môn học trong chương trình để sử dụng vào giải quyết vấn đề đó
Tiến trình mỗi bài học STEM được thực hiện phỏng theo quy trình kĩ thuật(Hình 2), trong đó việc "Nghiên cứu kiến thức nền" (background research) trongtiến trình dạy học mỗi bài học STEM chính là việc học để chiếm lĩnh nội dungkiến thức trong chương trình giáo dục phổ thông tương ứng với vấn đề cần giảiquyết trong bài học, trong đó học sinh là người chủ động nghiên cứu sách giáokhoa, tài liệu bổ trợ, tiến hành các thí nghiệm theo chương trình học (nếu có) dưới
sự hướng dẫn của giáo viên; vận dụng kiến thức đã học để đề xuất, lựa chọn giảipháp giải quyết vấn đề; thực hành thiết kế, chế tạo, thử nghiệm mẫu; chia sẻ, thảoluận, điều chỉnh thiết kế.Thông qua quá trình học tập đó, học sinh được rèn luyệnnhiều kĩ năng để phát triển phẩm chất, năng lực Tiến trình bài học STEM tuân
Trang 8theo quy trình kĩ thuật nêu trên nhưng các "bước" trong quy trình không được thựchiện một
cứu kiến thức nền” được
thực hiện đồng thời với
“Đề xuất giải pháp; “Chế
tạo mô hình” được thực
hiện đồng thời với “Thử
nghiệm và đánh giá”
trong đó bước này vừa là
mục tiêu vừa là điều kiện
để thực hiện bước kia.Vì
vậy, mỗi bài học STEM
được tổ chức theo 5 hoạt
động như sau: Hình 2: Tiến trình bài học STEM
Hoạt động 1: Xác định vấn đề
Trong hoạt động này, giáo viên giao cho học sinh nhiệm vụ học tập chứađựng vấn đề, trong đó học sinh phải hoàn thành một sản phẩm h tập cụ thể với cáctiêu chí đòi hỏi học sinh phải sử dụng kiến thức mới trong bài học để đề xuất, xâydựng giải pháp và thiết kế nguyên mẫu của sản phẩm cần hoàn thành Tiêu chí củasản phẩm là yêu cầu hết sức quan trọng, bởi đó chính là "tính mới" của sản phẩm,
kể cả sản phẩm đó là quen thuộc với học sinh; đồng thời, tiêu chí đó buộc học sinhphải nắm vững kiến thức mới thiết kế và giải thích được thiết kế cho sản phẩm cầnlàm
- Mục đích: Xác định tiêu chí sản phẩm; phát hiện vấn đề/nhu cầu.
- Nội dung: Tìm hiểu về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá về hiện
tượng, sản phẩm, công nghệ
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Các mức độ hoàn thành nội
dung (Bài ghi chép thông tin về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá, đặtcâu hỏi về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ)
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (nội dung,
phương tiện, cách thực hiện, yêu cầu sản phẩm phải hoàn thành); Học sinh thựchiện nhiệm vụ (qua thực tế, tài liệu, video; cá nhân hoặc nhóm); Báo cáo, thảo luận(thời gian, địa điểm, cách thức); Phát hiện/phát biểu vấn đề (giáo viên hỗ trợ)
Trang 9Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp
Trong hoạt động này, học sinh thực hiện hoạt động học tích cực, tự lực dưới
sự hướng dẫn của giáo viên Trong bài học STEM sẽ không còn các "tiết học"thông thường mà ở đó giáo viên "giảng dạy" kiến thức mới cho học sinh Thay vào
đó, học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức để sử dụng vào việc đề xuất, thiết kếsản phẩm cần hoàn thành Kết quả là, khi học sinh hoàn thành bản thiết kế thì đồngthời học sinh cũng đã học được kiến thức mới theo chương trình môn học tươngứng
- Mục đích: Hình thành kiến thức mới và đề xuất giải pháp.
- Nội dung: Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, tài liệu, thí nghiệm để tiếp
nhận, hình thành kiến thức mới và đề xuất giải pháp/thiết kế
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Các mức độ hoàn thành nội
dung (Xác định và ghi được thông tin, dữ liệu, giải thích, kiến thức mới, giảipháp/thiết kế)
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (Nêu rõ yêu cầu
đọc/nghe/nhìn/làm để xác định và ghi được thông tin, dữ liệu, giải thích, kiến thứcmới); Học sinh nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu, làm thí nghiệm (cá nhân,nhóm); Báo cáo, thảo luận; Giáo viên điều hành, “chốt” kiến thức mới + hỗ trợ HS
đề xuất giải pháp/thiết kế mẫu thử nghiệm
Hoạt động 3: Lựa chọn giải pháp
Trong hoạt động này, học sinh được tổ chức để trình bày, giải thích và bảo
vệ bản thiết kế kèm theo thuyết minh (sử dụng kiến thức mới học và kiến thức đãcó); đó là sự thể hiện cụ thể của giải pháp giải quyết vấn đề Dưới sự trao đổi, góp
ý của các bạn và giáo viên, học sinh tiếp tục hoàn thiện (có thể phải thay đổi đểbảo đảm khả thi) bản thiết kế trước khi tiến hành chế tạo, thử nghiệm
- Mục đích: Lựa chọn giải pháp/bản thiết kế.
- Nội dung: Trình bày, giải thích, bảo vệ giải pháp/thiết kế để lựa chọn và
hoàn thiện
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Giải pháp/bản thiết kế được
lựa chọn/hoàn thiện
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (Nêu rõ yêu cầu
HS trình bày, báo cáo, giải thích, bảo vệ giải pháp/thiết kế); Học sinh báo cáo, thảoluận; Giáo viên điều hành, nhận xét, đánh giá + hỗ trợ HS lựa chọn giải pháp/thiết
kế mẫu thử nghiệm
Hoạt động 4: Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá
Trong hoạt động này, học sinh tiến hành chế tạo mẫu theo bản thiết kế đãhoàn thiện sau bước 3; trong quá trình chế tạo đồng thời phải tiến hành thử nghiệm
Trang 10và đánh giá Trong quá trình này, học sinh cũng có thể phải điều chỉnh thiết kế banđầu để bảo đảm mẫu chế tạo là khả thi.
- Mục đích: Chế tạo và thử nghiệm mẫu thiết kế.
- Nội dung: Lựa chọn dụng cụ/thiết bị thí nghiệm; chế tạo mẫu theo thiết kế;
thử nghiệm và điều chỉnh
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Dụng cụ/thiết bị/mô hình/đồ
vật… đã chế tạo và thử nghiệm, đánh giá
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (lựa chọn dụng
cụ/thiết bị thí nghiệm để chế tạo, lắp ráp…); Học sinh thực hành chế tạo, lắp ráp vàthử nghiệm; Giáo viên hỗ trợ học sinh trong quá trình thực hiện
Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh
Trong hoạt động này, học sinh được tổ chức để trình bày sản phẩm học tập
đã hoàn thành; trao đổi, thảo luận, đánh giá để tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện
- Mục đích: Trình bày, chia sẻ, đánh giá sản phẩm nghiên cứu.
- Nội dung: Trình bày và thảo luận.
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh:
+Dụng cụ/thiết bị/mô hình/đồ vật đã chế tạo được
+ Bài trình bày báo cáo
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (mô tả rõ yêu cầu
và sản phẩm trình bày); Học sinh báo cáo, thảo luận (bài báo cáo, trình chiếu, video,dung cụ/thiết bị/mô hình/đồ vật đã chế tạo…) theo các hình thức phù hợp (trưngbày, triển lãm, sân khấu hóa); Giáo viên đánh giá, kết luận, cho điểm và định hướngtiếp tục hoàn thiện
Có thể nói, giáo dục STEM không hướng đến mục tiêu đào tạo để học sinhtrở thành những nhà toán học, nhà khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên mà chủ
Trang 11yếu là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng để làm việc và phát triển trong thếgiới công nghệ hiện đại ngày nay.
Giáo dục STEM tạo ra những con người có thể đáp ứng được nhu cầucông việc của thế kỷ 21, đáp ứng sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia và cóthể tác động tích cực đến sự thay đổi của nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàncầu hóa
Có thể nhìn các thành tố trong Giáo dục STEM dưới góc nhìn phát triểnnăng lực của người học Chẳng hạn, yếu tố “Kỹ thuật” trong Giáo dục STEM tạo
ra năng lực kỹ thuật của người học thể hiện qua khả năng giải quyết vấn đề nảysinh trong thực tiễn đời sống bằng cách thiết kế các đối tượng, hệ thống và xâydựng các quy trình sản xuất để tạo ra chúng
Hiểu một cách đơn giản là học sinh được trang bị kỹ năng năng lực kỹ thuậtthì sẽ có khả năng sản xuất ra đối tượng và hiểu được quy trình để làm ra nó Họcsinh phải có khả năng phân tích, tổng hợp, kết hợp để biết cách làm thế nào cânbằng các yếu tố liên quan (như khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) nhằm cóđược một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình Ngoài ra, họcsinh còn có khả năng nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đềliên quan đến kỹ thuật
1.2.2 Thực trạng dạy học bằng phương thức STEM trong trường THPT hiện nay.
Thực hiện chủ trương đổi mới đồng bộ hình thức dạy học, phương pháp dạyhọc và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; để tăng cường việc gắn liền dạy họctrong nhà trường với thực tiễn cuộc sống và góp phần hình thành năng lực giảiquyết vấn đề của học sinh trung học Từ năm 2012, Bộ GD & ĐT tạo hàng năm đã
tổ chức cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thựctiễn dành cho học sinh trung học” và cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp dànhcho giáo viên trung học” Đặc biệt, cuộc thi “Khoa học kĩ thuật dành cho học sinhtrung học” do Bộ GD & ĐT tổ chức dành cho học sinh phổ thông đã trở thànhđiểm sáng tích cực trong giáo dục định hướng năng lực…
Trường THPT Tương Dương 1 đã 3 năm tham dự cuộc thi “Khoa học kĩthuật dành cho học sinh trung học” do Sở GD & ĐT tỉnh Nghệ An tổ chức Cuộcthi này bước đầu đã có những lan tỏa, tác động tích cực, làm chuyển biến trong dạy
Trang 12doanh nghiệp; kiểm tra, đánh giá còn là “rào cản” vì học sinh phải “thi gì, họcnấy”; điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Năm học 2019 - 2020 Sở Giáo Dục Nghệ An tổ chức tập huấn cho giáo viênTHPT cốt cán nội dung: “Xây dựng và thực hiện chủ đề giáo dục STEM trongtrường trung học” Với tinh thần đó, trường chúng tôi đã bước đầu triển khai đếncác tổ, nhóm chuyên môn đưa giáo dục STEM vào giảng dạy
Tuy nhiên, đối với một trường THPT thuộc huyện nghèo miền núi, việc tiếpcận với giáo dục STEM đang còn nhiều khó khăn, bất cập
Trong SKKN này, tôi đề xuất tiến trình dạy học theo tài liệu “Định hướnggiáo dục STEM trong trường trung học” của Bộ GD&ĐT và vận dụng tiến trìnhdạy học đó để phù hợp với HS trường THPT miền núi
2 Ứng dụng phương pháp giáo dục STEM vào chủ đề “Sinh học vi sinh vật - Nhân giống nấm men và sản xuất rượu cẩm” thuộc chương trình Sinh học 10 cơ bản.
Bài 25: Sinh trưởng của vi sinh vật (Sinh học 10)
Bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật (Sinh 10)
Kiến thức nền cần tìm hiểu của chủ đề:
- Khái niệm vi sinh vật
- Môi trường và các kiểu dinh dưỡng vi sinh vật
Trang 13+ Vi sinh vật có ở khắp nơi với các môi trường tự nhiên khác nhau Có 3loại môi trường nuôi cấy vi sinh vật cơ bản: môi trường dung chất tự nhiên, môitrường tổng hợp và môi trường bán tổng hợp
+ Căn cứ vào nguồn năng lượng và nguồn các bon, vi sinh vật có các kiểudinh dưỡng khác nhau: quang tự dưỡng, hóa tự dưỡng, quang dị dưỡng; Hóa dịdưỡng
- Hô hấp và lên men
Tùy thuộc vào sự có mặt của ôxi phân tử mà vi sinh vật có các kiểu hô hấphay lên men
- Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật
- Vi sinh vật có khả năng tự tổng hợp các thành phần tế bào của chính mình
như protein, polisaccarit, lipit và các axit nucleic….từ các hợp chất đơn giản hấpthụ từ môi trường Những chất phức tạp ở môi trường được phân giải thành cácchất đơn giản nhờ vi sinh vật tiết các enzyme proteaza, amilaza, lipaza….rồi được
vi sinh vật hấp thụ để tổng hợp các thành phần tế bào hoặc tiếp tục được phân giảitheo kiểu hô hấp hay lên men
- Khái niệm sinh trưởng của vi sinh vật
- Sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn
+ Thời gian thế hệ (g) là thời gian tính từ khi một tế bào sinh ra cho đến khi tếbào đó phân chia Sau g số tế bào trong quần thể tang gấp đôi
+ Sinh trưởng của quần thể trong nuôi cấy không liên tục tuân theo quy luậtvới đường cong gồm 4 pha cơ bản: pha tiềm phát, pha lũy thừa, pha cân bằng, vàpha suy vong
+ Trong nuôi cấy liên tục thành phần của môi trường nuôi cấy luôn ổn định ,quần thể sinh vật sinh trưởng liên tục, dịch nuôi cấy có mật độ tương đối ổn định
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật.
Ngoài ra học sinh còn nghiên cứu và vận dụng kiến thức liên quan như:
+ Hóa học: Phương pháp điều chế rượu (Bài 40 hóa học 11)
+ Toán học: Tính toán tỉ lệ các nguyên liệu làm ra sản phẩm
+ Công nghệ 11: Vẽ kỹ thuật; quy trình thiết kế (Bài 8 - Công nghệ lớp 11)
Trang 14- Nêu được các quá trình phân giải protein, đường saccarozo và ứng dụngcủa chúng.
- Nêu được khái niệm sinh trưởng của VSV
- Phân biệt được đặc điểm và ưu nhược điểm của sự sinh trưởng quần thểVSV trong điều kiện nuôi cấy liên tục và nuôi cấy không liên tục
- Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh sản của VSV nóichung và của nấm men nói riêng
- HS hiểu được cơ chế hoạt động của vi sinh vật và đưa ra được quy trìnhtạo ra các sản phẩm lên men và tạo ra được các sản phẩm lên men
b Kỹ năng:
Đọc, thu thập thông tin từ tài liệu
Tiến hành, mô tả được hiện tượng của thí nghiệm sự lên men etylic
Lập kế hoạch, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một sốyếu tố đến quá trình lên men etylic (làm rượu nếp cẩm, bánh men ngọt), ghi chép,đánh giá và đề xuất quy trình làm men ngọt, sản xuất rượu cẩm theo các tiêu chícần đạt của sản phẩm
Hợp tác trong nhóm để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập
Trình bày, bảo vệ được ý kiến của mình, lắng nghe, nhận xét và phản biệnđược ý kiến của người khác
Tự đánh giá được quá trình làm việc cá nhân và các nhóm theo các tiêu chí
GV đưa ra
c Phát triển phẩm chất
- Nghiêm túc, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học
- Yêu thích sự khám phá, tìm tòi và vận dụng các kiến thức học được vàogiải quyết các nhiệm vụ được giao
- Có tinh thần trách nhiệm, hòa đồng, giúp đỡ nhau trong nhóm, lớp
- Có thói quen làm việc theo quy trình, cẩn thận, kiên trì, có tinh thần hợptác nhóm; thực hiện an toàn, vệ sinh thực phẩm
d Về định hướng phát triển năng lực
Trang 15- Năng lực giao tiếp và hợp tác (làm việc theo nhóm để thực hiện nhiệm vụhọc tập).
Năng lực chuyên biệt
HS hiểu cơ sở khoa học của việc chế biến một số thực phẩm.Trên cơ sở đóbiết vận dụng tạo ra được các sản phẩm ngon, đảm bảo vệ sinh cho gia đình HSbiết vận dụng kiến thức để giải thích một số hiện tượng liên quan trong thực tế
2.4 Thiết bị
- Các thiết bị dạy học: Giấy A0, bút lông, nam châm…
- Nguyên liệu và dụng cụ làm men ngọt:
+ Bột gạo nếp
+ Men gốc (Men ngọt)
+ Một số chất phụ gia khác: bột củ riềng, nước lá trầu không, cỏ ngọt … + Trấu (trấu sạch có thể tìm mua ở những cửa hàng bán gạo hoặc mua tại cácvùng quê)
+ Nia đựng trấu
+ Chăn ủ men, hoặc rơm dùng để ủ men sau khi làm men
+ Nước lạnh (Nên chọn nước mưa, sạch)
- HS tiếp nhận nhiệm vụ: nghiên cứu xây dựng quy trình làm bánh men ngot
và rượu cẩm bằng các nguyên liệu từ nếp cẩm ,bột gạo, nước và men vi sinh theomột số tiêu chí về sản phẩm, dựa trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu
tố đến quá trình lên men và sự sinh trưởng của vi sinh vật
B.Nội dung
Trang 16HS tiến hành thí nghiệm lên men etylic và đặt các câu hỏi về quá trình lênmen, ứng dung của các quá trình lên men.
Tìm hiểu về các quy trình làm men ngọt và sản xuất rượu cẩm
Nêu vấn đề: Là huyện miền núi kinh tế khó khăn, nhưng lại trồng được rấtnhiều giống nếp cẩm một nguyên liệu sản xuất rượu cẩm Rượu cẩm là loại rượunồng độ thấp, uống tốt cho sức khỏe được dùng thay thế cho các loại rượu nồng độcao Vì thế nó là nguồn thu nhập lớn cho người dân đặc biệt là vào dịp lễ tết Vậylàm thế nào để có thể tự làm men để ủ được rượu vừa đảm bảo chất lượng, năngsuất rượu cao lại vừa an toàn thực phẩm?
- GV hướng dẫn HS tự học kiến thức nền về chuyển hóa vật chất và nănglượng ở vi sinh vật và tìm hiểu quy trình làm men ngọt và sản xuất rượu cẩm, lập
kế hoạch nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình lên men, đề xuấtquy trình làm men ngọt và sản xuất rượu cẩm (đề xuất quy trình)
- HS thảo luận nhóm thống nhất kế hoạch thực hiện
- GV và HS thống nhất các tiêu chí của sản phẩm dự án:
+ Bánh men :
- Để được lâu dài, dễ bảo quản
- Cho năng suất rượu cao
- Tiết kiệm được nguyên liệu
+ Rượu cẩm:
- Thơm, màu đẹp
- Nồng độ nhẹ, ngọt tự nhiên
- Bảo quản được lâu
GV hướng dẫn học sinh về tiến trình thực hiện dự án và yêu cầu học sinh ghinhận vào nhật kí học tập
Bước 1: Nhận nhiệm vụ
Bước 2: Tìm hiểu kiến thức kĩ năng liên quan
Bước 3: Lập bảng phương án thiết kế và báo cáo
Bước 4: Làm sản phẩm
Bước 5: Báo cáo và đánh giá sản phẩm
C Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh
Bảng tiêu chí đánh giá
Bảng ghi nhận nhiệm vụ, kế hoạch dự án và phân công công việc
D Cách thức tổ chức hoạt động
Trang 17GV đưa ra một số hình ảnh liên quan đến các quá trình lên men như: rượuvang, nếp cẩm, giấm ăn, sữa chua, dưa muối; hỏi HS về điểm chung của các loại
đồ ăn, uống trên (HS cần chỉ ra được chúng đều được tạo ra bằng quá trình lênmen, nếu HS không trả lời được GV có thể gợi ý bằng các câu hỏi như: các đồ ăn,thức uống được làm từ nguyên liệu gì và bằng cách nào?)
GV đặt vấn đề bằng câu hỏi: lên men là gì? Và tổ chức cho HS làm thínghiệm lên men etylic theo nhóm để tìm hiểu về sự lên men: GV phát phiếu họctập số 1 có hướng dẫn thí nghiệm và quan sát, báo cáo kết quả
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Nhiệm vụ 1:
Tiến hành thí nghiệm theo hướng dẫn và hình vẽ sau:
Cho vào ống nghiệm 2, 3 mỗi ống
1 bánh nấm men thuần khiết
Đổ vào ống nghiệm 1, 2 mỗi ống
10ml dung dịch đường hoặc nước như
Dự đoán quá trình đã xảy ra ở ống nghiệm số 2 là gì?
Chú ý: GV chuẩn bị sẵn 1 bộ thí nghiệm đã làm trước đó 3 - 4 giờ để hiệntượng được rõ cho HS quan sát thêm
GV tổ chức cho HS báo cáo kết quả (1 nhóm báo cáo, các nhóm khác theodõi và nêu điểm khác)
- GV nhận xét, kết luận về quá trình xảy ra ở ống nghiệm số 2, đặt tiếp câuhỏi về các điều kiện cần để xảy ra sự lên men
Trang 18- HS tiếp nhận giải thích về hiện tượng và quá trình xảy ra ở ống nghiệm 2
và nêu các điều kiện xảy ra sự lên men (có men, có đường)
- GV bổ sung giới thiệu về các quá trình lên men: có nhiều các quá trình lênmen khác nhau, quá trình trong thí nghiệm trên gọi là lên men etylic, ngoài ra còn
có quá trình lên men lactic xảy ra khi làm dưa muối, làm sữa chua
- GV đặt câu hỏi: Vậy người ta ứng dụng quá trình lên men êtylic tạo ra sảnphẩm gì?
HS trả lời được là sản xuất rượu
- GV phỏng vấn HV: Về tác dụng của rượu nếp cẩm nói riêng và sản phẩmlên men nói chung trong đời sống, trong sản xuất kinh doanh và trong bối cảnhnhiều người sử dụng rượu cồn công nghiệp gây ngộ độc
- HS chia sẻ thông tin hiểu biết của cá nhân về tác dụng của sản phẩm lênmen từ VSV có tên nấm men: dùng làm thức ăn cho người và trong chăn nuôi(thơm ngon, giàu dinh dưỡng, kích thích tiêu hóa…); trong sản xuất kinh doanhthu lợi kinh tế; sử dụng cơm rượu chưng cất để sản xuất rượu đặc biệt là loại menngọt dung để sản xuất rượu cẩm đang là nguồn thu nhập lớn ở địa phương
- Vấn đề đặt ra:
1) Cơm rượu nếp cẩm là sản phẩm ứng dụng của VSV nào?
2) Để làm được cơm rượu nói chung, cần sử dụng những nguyên liệu chínhnào và sử dụng loại VSV nào? Làm cách nào để có thể nhân giống được loại VSVđó?
HS: Loại VSV: Nấm men (bánh men); Tiến hành làm bánh men
GV kết luận vấn đề: Bánh men là gì? Cách tiến hành làm bánh men như thếnào? (bánh men ngọt để ủ rượu cẩm)
- GV tiếp tục cho HS quan sát, sờ, ngửi bánh men chứa nấm men giống vàphỏng vấn hiểu biết của HS về bánh men (vai trò của bánh men, loại VSV trongbánh men, nguyên liệu làm bánh men…)
- HS quan sát, sờ, ngửi bánh men và dự đoán là sản phẩm của sinh trưởngnấm men; nguyên liệu: gạo tẻ, nấm men, trấu , mỗi bánh men chứa hàng chục đếnhàng trăm triệu tế bào nấm men, chúng có khả năng chuyển hóa đường thành rượu.Nguyên liệu sản xuất rượu cẩm là nếp cẩm, bánh men…
- GV đặt vấn đề: Từ một vài bánh men, làm thế nào để tạo ra hàng trămbánh men cho nhiều người được sử dụng?
- HS chỉ ra: Nuôi cấy nấm men và tạo điều kiện cho nấm men sinh trưởng,sinh sản tạo sinh khối
- Giao nhiệm vụ HS về nhà:
Trang 191) Tìm hiểu cách tạo ra bánh men ngọt;
2) Báo cáo quy trình làm bánh men ngọt; Sử dụng bánh men ngọt để sảnxuất rượu cẩm - quy trình ủ rượu cẩm
3) Chỉ ra được những khó khăn của việc sản xuất bánh men ở nhà dân; 4) Đặt các câu hỏi thắc mắc liên quan
GV nhấn mạnh: Hiện tại trên thị trường xuất hiện một số loại men nguồngốc không rõ ràng, đa số men Trung Quốc Loại men này nấu cho hàm lượng rượurất cao với chi phí cực kỳ nhỏ Tuy nhiên nó lại là nguyên nhân gây hại rất lớn đếnsức khỏe con người
- GV nêu chi tiết nhiệm vụ và các tiêu chí đánh giá sản phẩm
+ Sản phẩm cần thực hiện: Quy trình mô tả các bước làm bánh men ngọt,sản xuất rượu cẩm và thành phẩm theo quy trình đó
+ Tiêu chí đánh giá sản phẩm
Phiếu đánh giá số 1: Đánh giá sản phẩm bánh men và rượu cẩm
đa Quy trình
1 Nêu được đủ các bước thực hiện quy trình làm
bánh men ngot và quy trình sản xuất rượu cẩm
10
2 bướcMô tả rõ hành động/thao tác thực hiện ở các 20
3 Mô tả rõ loại nguyên liệu, tỉ lệ các nguyên liệu 20
Sản phẩm bánh men ngọt, rượu cẩm
4
Về bánh men:
Khi ủ với nguyên liệu để nấu rượu phải tạo được
bỗng rượu thơm đặc trưng
Cho hàm lượng rượu cao, chi phí thấp, nguyên
liệu dễ kiếm, an toàn cho người sử dụng
Trang 20Thơm, ngọt tự nhiên, không nồng, màu tím đẹp 10
Để được lâu mà không bị chua, mất vị 10
Năng suất rượu cao ( Cùng 2kg nếp cẩm nhưng
thu được nhiều rượu nhất)
10
Cho HS trao đổi, đặt câu hỏi làm rõ các tiêu chí
- GV thống nhất kế hoạch triển khai
- Bản báo cáo quytrình
- HS tìm hiểu trên
lớp (Tiết 2)
- HS làm việc theonhóm ngoài giờ
học (2 tuần)
3
- Báo cáo kiến thức, kĩ
năng liên quan
- Trình bày quy trình
- Bản báo cáo kếtquả sản phẩm
- HS báo cáo tại
Tìm hiểu quy trình làm men ngọt và rượu cẩm
Tham khảo điều kiện (tỉ lệ các nguyên liệu, nhiệt độ, lượng men) thực hiệnlàm bánh men và ủ rượu cẩm, kết hợp phân tích lí thuyết về quá trình lên men để
Trang 21tiến hành một số thí nghiệm thay đổi các điệu kiện đó, chỉ ra sự ảnh hưởng của cácyếu tố men, nhiệt độ và nồng độ đến sự lên men.
Đề xuất điều kiện tốt nhất cho quy trình làm men ngọt và rượu cẩm
+ Sản phẩm cần đạt trong buổi học tiếp theo:
Các nhóm: bản ghi chép nội dung kiến thức (phiếu học tập số 2 trong hoạtđộng 2)
- Các tiêu chí đánh giá bài trình bày và bản thiết kế sản phẩm được sử dụngtheo phiếu đánh giá số 2
Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức trọng tâm và xây dựng bản thiết kế.
Hoạt động 2.1 - Nghiên cứu kiến thức trọng tâm
( Tiết 2- 45 phút)
A Mục đích:
HS tự đọc sách, tài liệu, thảo luận, tiến hành thí nghiệm để:
- Hình thành kiến thức mới về: khái niệm vi khuẩn, các loại môi trường vàkiểu dinh dưỡng, hô hấp và lên men, quá trình phân giải protein và cacbohidrat nhờ
vi sinh vật
- Nêu được các bước thực hiện lên men etylic
- Nêu và giải thích được ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình lên menetylic từ đó chọn điều kiện tối ưu để thiết lập quy trình làm men ngọt
B Nội dung:
- Học sinh tìm hiểu kiến thức nền dưới sự hướng dẫn của giáo viên, gồm:bài 22, bài 23 (mục II) Sinh học 10 và tìm hiểu phần I bài 24 Sinh học 10, bài25,27 và từ các tài liệu tìm kiếm khác (theo hướng dẫn phiếu học tập số 2)